Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 33

🔗Liên Hoa Pháp Giáo
🔗PHẨM THỨ 33
🔗PHÉP GOM THẦN ĐỊNH TRÍ
🔗Phép gom thần định trí là một pháp môn chơn thật mà tất cả ba đời chư Phật đều hành qua, để đi đến nơi quả vị chánh đẳng chánh giác. Khi nói về pháp môn gom thần định trí là đã phương tiện khai thông tự tánh cho chúng sanh an trụ nơi ngôi vị sơ tâm Niết Bàn, để rồi kể từ đó, sẽ tiếp tục tiến bước đến nơi an nghỉ cuối cùng của quả vị chánh đẳng chánh giác. Thật vậy. Khi chúng sanh đã hiểu nơi an trụ của mình rồi thì còn dại gì mà lùi bước trước trở lực của ma vương?
🔗Cũng thí dụ như: Một chiếc thuyền đang trôi nổi lênh đênh giữa biển lại thêm sa mù phủ kín chung quanh nên chủ thuyền không biết sẽ nương tựa vào đâu? Khi đã gặp bão lớn thời rất may mắn thay gặp được một vị thiền sư chỉ rằng: “Này người kia, cách phía trước đây mười dặm, có một hòn đảo nơi đó có thể tránh gió đặng”. Thế là người chủ thuyền kia vâng lời theo vị thiền sư nọ tức tốc bơi thuyền đến đảo trốn gió được an toàn và sau khi qua được một trận bão xong, vị thiền sư nọ lại dạy rằng: “Ở đây không yên đâu, vì còn nhiều trận mưa bão nữa đang đến, phải mau trực chỉ về phương tây cách đây 16 muôn dặm, đó là bờ biển, cùng trên bờ biển có núi cao (3000) ba ngàn dặm, trên chóp núi ấy có một toà Bửu đài chu vi 400 thước, bề cao 100 thước, làm toàn bảy báu vàng bạc, lưu ly pha lê, xà cừ mã não, san hô hổ phách. Lại thêm trong ấy có Ngọc Minh Châu ngày đêm chiếu sáng rực rỡ. Người ở trong đó sẽ tránh khỏi mưa nắng gió sương của bốn mùa xoay chuyển. Cầu chi đặng nấy, đồng thời dứt khỏi sự sanh già, bệnh chết, kéo lôi, chốn ấy mới thật là nơi trú ngụ an toàn“. Người kia nghe lời vị thiền sư nọ, quay thuyền trực chỉ phương tây rong ruổi đến nơi... Quả thật có y như lời thiền sư mách bảo!
🔗Lại cũng thế. Bần đạo hôm nay cũng ví như vị thiền sư nọ biết chắc rằng: nơi tâm hồn mênh mông trống rỗng của chúng sanh, còn có một nơi an trụ để tránh những cơn gió nghiệp, bão lòng, sóng tình, nước ái mà nó đã nhận chìm biết bao kẻ vô minh tăm tối, và đồng thời bần đạo cũng biết chắc rằng: nơi hướng nào có thể nghỉ khoẻ hoàn toàn và hành phương pháp nào để được đến chốn, vũ khí nào hộ thân, để khỏi phải bị yêu tinh ma quỷ, rắn rít dọc đường giết hại.
🔗Thế thì phép gom thần định trí là như thế nào? Và tại sao phải gom thần định trí?
🔗Vì thần là điển lực, là sức mạnh của tinh thần. Trí là cái năng soi phân biệt của tinh thần. Tinh thần là lời gọi tổng quát thông thường. Còn nói đặc biệt theo chi tiết sở hành đạo pháp đây là trí thần hay thần trí. Bởi tinh là: Tinh hoa là sự sống của con người, mà sự sống của con người tức là trí huệ vậy.
🔗Thần là điển lực, là sức mạnh của trí huệ. Trí định thời thần gom tức huệ sáng. Hay nói: Trí định thần về chơn nhơn vững. Chơn nhơn đây là nói về chơn mạng. Chơn là chơn thật, mạng là mạng sống. Chơn mạng tức là mạng sống chơn thật trường tồn.
🔗Nghĩa là: người có được trí thần vững chắc thì mạng sống đây ( hoặc thân hữu hình, hoặc thân trung ấm) hợp với tánh chơn thật, hay tánh chơn như và một khi chúng sanh đã sống hợp với chơn tánh, thì lần hồi tự tiến nữa, nó sẽ hiện ra được chơn tướng, tức ông Phật hay cũng gọi là Kim Cang thân của đức Như Lai. Nên người đắc được chơn nhơn, thời gọi là Thiên Tiên Bồ Tát. Người đắc được chơn tướng gọi là Phật Như Lai. Tuy nhiên dù người có đắc được chơn tướng để làm Phật Như Lai chăng, chớ sự sống thời vẫn sống bằng chơn mạng, nhưng vì chơn mạng ấy bên trong còn có cái tánh Kim Cang cứng chắc, nên sự sống chơn mạng của Như Lai siêu vượt hơn Thiên Tiên Bồ Tát rất nhiều. Nên nói: Chơn tướng tức kim cang thân nó có hiển hiện được là do từ chơn mạng, nếu rời chơn mạng, thời không có kim cang thân vậy.
🔗Tóm lại: Bởi tâm trí chúng sanh thường hay suy tưởng vẩn vơ năng lìa tự tánh, nên thần cũng do đó mà tản mác, nên huệ lực không đủ để giải phá vô minh nghiệp báo, phiền não dấy sanh để trở thành Phật, và cũng vì muốn làm Phật, nên phải gom thần định trí vậy.
🔗✽✽✽✽✽
🔗PHÁP HÀNH (Gom thần, định trí)
🔗Hành giả ngồi bắt chân kiết già hoặc bán già thẳng lưng. Đầu hơi cúi xuống một chút (chỉ hơi cúi thôi) mắt ngó ngay về phía trước cách một thước rưỡi, lấy dấu đen hay trắng làm điểm để ngó ngay chỗ đó.
🔗Hai tay để lên chỗ hai đầu gối, hoặc bắt ấn tam muội theo kiểu Phật ngồi cũng được. Miệng ngậm răng khít lại, lưỡi để tự nhiên, mắt từ từ nhắm lại hai phần ba mí (2/3) (nên nhớ khi buồn ngủ thì mở ra hết cũng đuợc, và khi không buồn ngủ nhắm luôn cũng được, vì nhiều khi buồn ngủ mà nhắm thì nó ngủ gục hay khi loạn tâm mà mở ra hết thì nó chói loà mắt, tâm trí không định được). Nếu ban đêm thì ngồi quay mặt ra trống, ban ngày thì ngồi quay mặt vô vách.
🔗Xong rồi mới hít vô ba hơi thở. Mỗi hơi chuyển cho nó chạy khắp châu thân, đồng thời song song với hơi thở chạy vô, thời hơi trược lại chạy ra miệng rồi thở ra luôn, thở ba hơi xong, là lắng tâm cho lặng lẽ nghe tâm rất vắng vẻ u tịch không có gợn một chút bụi trần nào. Cái trí in sâu vào cõi vắng vẻ u tịch và định luôn nơi đó, hơi thở hít vô nhẹ nhàng đến phổi, và thở ra nhẹ nhàng, vừa thở ra vô nhẹ nhàng như vậy vừa lắng tâm niệm Phật hay niệm số, từ số 1 đến số 100 rồi trở lại, vừa đếm đi đếm lại như vậy, vừa lắng tâm một hồi nghe tinh thần lẫn thể xác nó nhẹ nhàng thơ thới, bắt đầu quán xét, chuyện đạo chuyện đời, đem so sánh cái này với cái kia, suy gẫm những lời Phật dạy, những gì bí ẩn trong tâm và ngoại tướng, tìm tòi khai mở cho ra lẽ ghi nhớ từng đoạn cho rành mạch, đặng khi xả thiền ghi chép vào sổ để dành xem, về sau khỏi quên. Nhưng có quán xét suy gẫm, tìm tòi này nọ mà phải tuyệt đối luôn luôn lắng nghe nội tâm, nghe hoài nghe mãi, cái thấy vừa thấy biết bên ngoài, mà vừa thấy biết sự vắng lặng của nội tâm.
🔗Khoẻ thì quán, mệt thì cứ an trụ trong chỗ vắng lặng của nội tâm ấy mà niệm Phật.
🔗✽✽✽✽✽
🔗SỰ KẾT QUẢ
🔗Hành giả khi làm như vậy được một thời gian, điển lực tức thần lần lượt gom về, tựu lại ngay chỗ tam tinh (chỗ hai chân mày giáp lại) trí huệ càng ngày càng sáng, chí khí càng ngày càng cứng chắc, điển lực càng ngày càng vững mạnh.
🔗Hễ ý càng lắng, trí càng định, thời thần càng gom, thần gom đủ trí thần nhập một, quán xét sáng tỏ vô ngần, thấy đâu biết đó (tục gọi là con mắt thần, hay mắt giữa).
🔗Hành giả hành liên tục trí ý nó thuần hoà, quen chừng an trụ như vậy mãi, đến khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, mặc, nói, làm, thức, ngủ đều hành được cả, thì tự nhiên thấy có hành mà không hành, không hành mà có hành. Tinh thần lúc này sẽ trở lại cảnh thường còn bất biến ắt sẽ ngộ được chân tướng, tức Kim Cang thân của đức Như Lai mà làm Phật vậy.
🔗✽✽✽✽✽
🔗PHÉP ĐIỀU HOÀ
🔗Hành giả trong khi ngồi gom thần định trí tham thiền, lại nghe tâm thần mệt mỏi muốn ngủ gục, thì nên chuyển hơi như vầy, vừa hít hơi vô, vừa chuyển hơi đem lên mũi và thở ra, vừa chuyển vừa giữ thân tâm yên lặng tự nhiên. Làm liên tiếp một hồi, thời tinh thần tỉnh táo trở lại. Hoặc khi đang ngồi tu hành mà nghe xác thân nhẹ nhàng quá, muốn bay bổng lên không trung thì chẳng nên tưởng bay, mà phải kiềm chế lắng tâm trở lại, định trí quán xét liên tục, hay niệm Phật đếm số một hồi thì nó dứt. Bởi phép tu này là kềm tâm, tự chủ lấy mình chứ chẳng phải móng tưởng (vì nếu móng tưởng bay thì sẽ bị ma ba tuần ám ảnh, dẫn dụ xuất hồn đi, trong khi xuất hồn ra rồi thời chúng lại cướp xác này).
🔗Và trường hợp hành giả khi ngồi lắng tâm định trí quán xét, xem thấy được sự sanh già, bệnh chết vốn vô thường, nhàm chán trong cảnh khổ, cầu vui Niết Bàn tịch tịnh, thân tâm hoan hỷ, do sự tu hành kết quả đắc pháp an lạc. Trường hợp này cũng phải bình tâm lẳng lặng, định trí quán xét liên tục, không rời cái tánh vắng lặng đó, để được trí huệ phát sanh thêm lên. Bởi người đắc pháp an lạc như vậy, thời gọi là hữu dư Niết Bàn, an lạc trong cái không an lạc pháp này còn giả, đừng sanh tâm chấp trước, mà phải cố gắng tiến lên chỗ chơn thường, chơn lạc, chơn tịnh của vô thượng Đại Niết Bàn vậy.
🔗Lại nữa hành giả khi đang tu thiền mà nghe thân tâm vắng lặng tịch tịnh rất bông lông lần hồi trí ý diệt mất luôn, không còn biết gì cả tựa hồ như ngủ, đó gọi là phi thường định, bởi cái định đó nó vốn không thường, khi thân tâm vắng lặng, ngồi yên như chết, tưởng chết, không, không, không có gì hết, buông xuôi, không muốn biết gì hết mới đến cảnh đó. Bằng mà còn biết, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn mặc. Nói, làm, thức, ngủ, thời không thể đến được. Nên cái định ấy gọi là diệt tận định cõi Vô Dư Niết Bàn. Mà diệt tận định cũng gọi là phi thường định, tức là cái định không thường, mà không thường là giả. Trường hợp này hành giả đừng buông xuôi mà đi vào diệt tận định, vì cảnh đó không phải cảnh Bồ Đề của Tam Thế Phật, hãy định trí trở lại trong cảnh vắng lặng đó mà quán xét suy gẫm, hay lặng tâm chuyển hơi lên thở ra mũi, làm như vậy mãi thì sẽ định được trong cảnh vắng lặng. Tự chủ được cái biết trong cảnh trống không, định trí được trong cảnh phi thường định, ý năng sanh vạn pháp mà không vọng khởi ra ngoài tạng tánh thanh tịnh, đó là cảnh định của chư Bồ Tát và Phật vậy.
🔗Cùng trường hợp, lúc hành giả đang hành trì mà nghe nhức đầu, nóng mắt, thì phải biết đó là hoả vọng phải điều hoà như vầy. Hít hơi vô, chuyển đem xuống vừa thở ra, vừa hít vô, chuyển xuống, chỉ làm điều hoà nhẹ nhàng, vừa lắng tâm vừa chuyển như vậy một hồi thời hết, hay có khi hoả vọng quá, mặc dù không ngồi tu thiền gom thần định trí, mà vẫn nóng mặt nhức đầu, thời mỗi buổi sáng sớm thức dậy, đừng rửa mặt trước, mà phải xối một gáo nước xuống hai bàn chân trước cho hoả hạ, rồi sẽ rửa mặt sau, đồng thời mỗi buổi sáng sớm, ra đứng chỗ khoảng trống hít hơi vô bằng mũi cho dài, thở ra bằng miệng cũng cho dài, làm chừng mười hơi như vật ít ngày thời sẽ hết.
🔗✽✽✽✽✽
🔗ĐIỀU NÊN LƯU Ý
🔗Phép gom thần định trí tham thiền này là lắng tâm định trí trong cảnh vắng lặng của sự lắng tâm đó, thì thần (điển lực) từ từ tụ lại nơi tam tinh, chứ chẳng phải tưởng trụ tâm nơi tam tinh, vì nếu hiểu sai lầm mà tưởng trụ tâm nơi tam tinh, tức hỏa vọng lên quá sẽ đau thần kinh mà hoa ra cuồng loạn, và đồng thời phép chuyển hơi đem lên, là để giúp cho tâm thần nhẹ nhàng, khoẻ khoắn, dứt đi chứng hôn trầm ngủ gục, chứ chẳng phải chuyển lửa, chuyển nước gì hết cả. Bởi lẽ nếu hiểu sai lầm, chuyển lửa đem lên thì nóng loạn thần kinh, chuyển nước đem lên thì thậm thuỷ khô kiệt, tức tứ đại bất hoà sẽ sanh ra bệnh hoạn mà chết.
🔗✽✽✽✽✽
🔗TRUNG ĐẠO
🔗Phép tu hành này chỉ giữ ngay mực giữa không thái quá, không bất cập, lắng tâm thanh tịnh điều hoà hơi thở nhẹ nhàng ra vô, trí định trong cảnh vắng lặng mà quán xét suy gẫm đạo đời phải quấy, hư nên, thành bại, theo dõi hành vi cử chỉ, ý nghĩ nội tâm lẫn ngoại tướng của mình trong mỗi lúc, để trau sửa cho thuần hoà, chân chánh trang nghiêm, không khổ hạnh ép xác, bỏ ăn, bỏ uống, không giải đãi buông lung, ăn uống tạp nhạp nhiều lần trong một ngày, ăn mỗi ngày một bữa ngọ trưa thôi, sáng thì có thể điểm tâm (nếu người xuất gia) khát nước thì cứ uống. Người cư sĩ độc thân cũng có thể tập hành theo pháp này được, nhưng sự ăn uống thì tuỳ khả năng, chứ không bắt buộc như người xuất gia.
🔗✽✽✽✽✽
🔗GHI NHỚ
🔗Người có thân mới dễ tu, dễ ngộ, dễ nhập, chứ nếu bỏ thân này rồi rất khó tu, khó ngộ, khó nhập, nên cần giữ gìn thân này để trau tâm luyện trí, đừng hủy hoại nó mà rời bỏ xác sớm khi chưa thành đạo, phải bị luân hồi trở lại nữa thì khổ lắm. Đã mang xác thân này, lại có đủ căn duyên để tu hành thì đó là một điều rất hữu hạnh, phải bền chí nhẫn nại mới nên. Tuy nhiên cần giữ gìn thể xác này để trau tâm chứ cũng đừng luyến tiếc cạo gọt sửa sang bề ngoài thái quá, vì làm như vậy nó sẽ ảnh hưởng đến đạo tâm rất nhiều.
🔗Sống bởi chúng sanh nên cần phải sống. Chết vì chủng loại nên đừng sợ chết. Chết sống là lẽ thường của xác thân nhục thể, đừng cố chấp thể xác, đừng phụ bỏ thể xác, lành thì cho sạch, rách phải cho thơm, bệnh thì uống thuốc, mạnh đừng tẩm bổ, bình thản tự nhiên, viên dung sự lý, pháp hành tuỳ duyên luân chuyển, hoặc đi hoặc đứng, hoặc ngồi hoặc nằm, hoặc ăn, hoặc mặc, hoặc nói hoặc làm, hoặc thức hoặc ngủ, hoặc sống hoặc chết, trí năng định đặng gom thần về hiệp một. Thần trí hiệp một thì có chơn mạng, hành trì thêm, đúng theo quy tắc do trí huệ quán chiếu sẽ đạt được chơn tướng, tức Kim Cang thân của đức Như Lai, đạt được Kim Thân (cũng gọi là Kim Cang thân) của đức Như Lai, thời công tròn quả mãn rồi vậy.
🔗✽✽✽✽✽
🔗ĐIỀM LẠ XUẤT HIỆN
🔗Hành giả khi hành phép gom thần định trí này đúng cách thì đang khi ngồi tham thiền, hay thấy ánh sáng hiện ra chung quanh rạng rỡ, hay thấy mặt nguyệt, mặt nhật, hoặc thấy tòa sen hoặc thấy Phật tướng hảo quang minh, hay trường hợp khi đang tham thiền mà thấy rắn rít, cọp beo, nhà cửa, gà vịt, chim chóc, ruộng vườn... Nói chung, tất cả các cảnh lạ gì xuất hiện trước mắt chung quanh thì phải biết rằng đó là do nghiệp báo xuất hiện, chẳng phải thật. Trường hợp này đừng hoảng sợ, cũng đừng móng tâm ham thích, mà vẫn ngồi an nhiên lắng tâm niệm Phật đếm số, hay quán xét đây là giả cảnh, chứ không phải có thật, vững tâm hành trì như vậy thì tự nhiên các cảnh ấy lần lần tiêu diệt.
🔗Lại nữa người lắng tâm định trí gom thần trong những giờ tham thiền hay ngủ nghỉ, mà quỷ thường hay xuất hiện phá quấy này nọ, hoặc chư Thiên hay thị hiện thử thách đạo quả, cùng Phật Trời ra cơ cho biết những điềm hư nên trên đường hành đạo và tương lai vận mạng ra sao? Trường hợp này hành giả phải bình tĩnh, phán xét thật giả, hư nên cho kỹ càng, đừng sợ sệt, đừng ham thích sanh tâm đắm nhiễm mà bị ma ba tuần ám ảnh tinh thần.
🔗✽✽✽✽✽
🔗QUYẾT NGHI
🔗Hành giả trong khi đang tham thiền định trí gom thần nếu có nghe tiếng nói nho nhỏ bên tai, hoặc nói pháp hoặc mách bảo chi chi, hay thấy Phật hiện ngồi trên tòa sen hào quang sáng rỡ.... thì phải biết rằng, đó là giả cảnh đừng ngỡ lầm mình đã được đắc đạo, có thần thông mà phải bị sa đọa vào địa ngục... Bởi người đắc đạo không phải có cái thấy nghe thông thường, do âm thinh sắc tướng từ bên ngoài đem đến như hạng phàm phu vậy đâu? Tuy nhiên người đắc đạo cũng không phải rời cái âm thinh sắc tướng mà có thấy nghe hay biết đặng, nhưng cái thấy nghe hay biết lại càng không phải do nơi âm thinh sắc tướng mà ra.
🔗Nghĩa là: Người đắc đạo là kẻ biết nghe, biết thấy, hay thấy hay nghe thấy không tướng, nghe không thinh hoặc nói người đắc đạo thấy nghe mà không thấy nghe, không có thấy nghe mà có thấy nghe, nhẫn đến sự xuất thần, biến hóa phép tắc cũng thế. Nghĩa là có xuất thần biến hoá mà không xuất thần biến hoá, đó mới gọi là có xuất thần biến hóa phép tắc.
🔗Lại nữa người hành thiền tự tánh vô sanh này đúng, thì những pháp vi tế do sự huân tập nhiều đời kiếp trong tâm thức sẽ từ từ phát hiện, phải dùng trí huệ tự tại vô ngại không lìa tự tánh mà quán xét triệt để tận nguồn cội của nó, để không còn si mê lầm hấp các pháp vọng giả. Đồng thời hành pháp tự tánh này đúng mà có điển lực gom về tại tam tinh, ví như bình ắc quy sạc điện, ghim cái nút âm và dương từ bên máy điện truyền vào đúng chỗ thì sẽ được điện để xài nhiều việc tuỳ mình. (có điện lực đầy đủ mới chiến thắng nổi ma vương và chúa quỷ). Điện lực của máy chạy ví như điện khí âm dương của trời đất. Bình ắc quy là tâm thần của mỗi người, nút ghim và sợi dây truyền vào như là pháp hành tự tánh vậy.
🔗✽✽✽✽✽
🔗PHÉP XẢ THIỀN
🔗Nếu ngồi lắng tâm định trí tham thiền trước khi xả phải lắc mình qua lại ba lần, hai tay xoa cho nóng, háp hai con mắt ba lần, kế, xả chân ra, hai tay chà phía sau lưng dưới chỗ thận thuỷ cho nóng đều, chà hai vành tai, chà cổ phía sau ót, hai màng tang, hai vai, hai tay, hai chân, hai bên xương sườn phía dưới nách, nếu bị tê chân thì bóp giã mấy đầu ngón chân ít lần sẽ hết. Kế ngồi thẳng lưng, hít hơi vô ngậm lại, thở ra từ từ, chuyển máu chạy lưu thông khắp mình trở lại, làm liên tiếp ba hơi như vậy, rồi ngồi nghỉ lối năm ba phút sẽ đứng dậy đi, hoặc nằm, đừng đứng hay đi nằm sớm quá mà sanh bệnh có hại.
🔗✽✽✽✽✽
🔗TỨ THỜI
🔗Hành giả khi mới tập tu thiền gom thần định trí, nếu xuất gia thì một ngày một đêm (tức 24 giờ), hành bốn thời là: mới tối, nửa đêm, gần sáng, xế chiều (giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu)
🔗Còn người tại gia thì hai thời, mới tối và gần sáng. Khi ngồi tuỳ theo khả năng, ngồi nhiều hoặc ngồi ít. Nếu đau chân quá thì nên xả, chứ . đừng ráng mà sanh ra loạn tâm không tốt. Mới tập ngồi ít (chừng 10 hay 20 phút) sau lâu quen ngồi nhiều (1 giờ hay 2 giờ). Đừng móng tưởng thần thông phép tắc, hay xuất thần này nọ mà sẽ bị ma ba tuần nó ám ảnh lạc vào đường tà.
🔗✽✽✽✽✽
🔗SỰ THẬT
🔗Hành giả tu phép gom thần định trí phải biết rằng lắng tâm thanh tịnh trí định trong cảnh vắng lặng, nhưng vẫn có thấy nghe, hay biết mọi cảnh thì đó là Niết Bàn tự tánh, hãy an trụ nơi đó mà quán chiếu sẽ rõ thông vạn pháp, rời ngoài cảnh lắng tâm định trí ấy, quán xét không thể tỏ sáng được. Cũng thí dụ như ngọn đèn có đứng yên, yến sáng mới tỏa chiếu khắp nơi rạng rỡ, bằng mà ngọn đèn kia bị gió phất qua phất lại thì yến sáng không thể nào tỏ rạng được.
🔗Hành giả đang khi tu hành mà nghiệp chướng khảo đảo thời nhứt tâm an trụ nơi tự tánh thanh tịnh ấy mà hành bốn pháp quán sau đây, tức nhiên nghiệp chướng sẽ tiêu diệt ngay.
🔗1. Quán thân này là giả tạm do tứ đại hiệp thành. Có hình tất có hoại, ta không nên cố chấp tham luyến nơi nó mà phải khổ não triền miên hoặc quán thân này như đang chết, đã chết hay sẽ chết. Quán thân như vậy thời tự nhiên dứt khổ vì thân.
🔗2. Quán tâm này là chơn không, không hình, không dạng, không một vật thì làm gì có dính mắc này nọ mà phải đau khổ luân hồi. Quán tâm như vậy thời tự nhiên dứt tâm khổ luân hồi.
🔗3. Quán thọ tình vốn không gốc gác, thoạt có, thoạt không tựa điển chớp mây bay, chẳng phải thật ta, thì làm gì có dung chứa nhận lãnh này nọ mà bị tử sanh. Quán thọ tình như vậy, thời tự nhiên dứt thọ khổ sanh tử.
🔗4. Quán các pháp xưa nay vốn không sanh, vạn vật luôn đứng vững, tự nhiên như thế thì có cái chi thành bại, mà phải bận tâm cho rối loạn tâm thần. Quán các pháp như vậy thời tự nhiên pháp tâm bình đẳng, chơn như thật tế, chẳng còn khổ não ưu bi nữa vậy.
🔗Tóm lại: phép gom thần định trí là một pháp môn hành nội tâm, lắng vọng tưởng, trụ tự tánh, quán chơn như nên người mà có thấy ngộ được cảnh bình đẳng vô hình vô dạng của nội tâm và hay nghe, hay thấy, hay biết, hay hiểu trong cảnh vắng lặng thanh tịnh ấy vốn không một vật, dầu sắc hay pháp, đồng thời phương tiện an trụ trong cảng vắng lặng thanh tịnh đó thì gọi là sơ tâm Bồ Tát rồi vậy. Tiến đến hành đủ 16 muôn hạnh, đầy đủ oai nghi tướng tốt, ngộ nhập chơn tướng làm Phật không sai. Vậy ai ai cũng nên thực hành phép gom thần định trí để được làm Phật hết.
🔗Nam Mô Vô Ngại Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát.
🔗Hết Phẩm Thứ 33
🔗Nam Mô Thiền Sư An Lạc Hạnh
Phẩm trước Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 32 Phẩm tiếp Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 34