Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 32

Đại Ý Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật

🔗Liên Hoa Pháp Giáo
🔗PHẨM THỨ 32
🔗ĐẠI Ý KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT
🔗Vì lòng từ bi xá kỷ, và hạnh nguyện lợi tha của người liễu đạo tát như lai xứ, hành như lai sự, nên nơi đây bần đạo phương tiện giải bày đại khái về kinh Kim Cang, hầu giúp duyên cho quý thiện nam nữ trên bước đường tu hạnh chánh đẳng, chánh giác.
🔗Phẩm đại ý này chỉ nói tóm lược những điểm đặc biệt trong kinh Kim Cang, chứ không giải nghĩa từng chi tiết của toàn bộ, và tuy không giải nghĩa từng chi tiết toàn bộ chớ nội dung trong đây cũng hàm chứa đầy đủ lý sự tướng tánh mà trong kinh Kim Cang Phật đã diễn thuyết hoá độ hoàng đại trí thuở xa xưa.
🔗Hơn nữa phẩm đại ý này nói tóm lược là để chỉ thẳng ngay những sự thật của chân lý cho chư Bồ Tát, có được cái nhìn chính xác hầu an trụ nơi đạo vô thượng chánh đẳng, chính giác vậy.
🔗Phẩm đại ý này tóm gọn làm ba đoạn:
🔗 ● Đoạn I: Định nghĩa: Kinh Kim Cang bát nhã ba la mật và diễn ý chữ tu Bồ Đề.
🔗 ● Đoạn II: Diễn ý lời Phật dạy nén dẹp vọng tâm, cùng an trụ tâm và Phật bác các tướng.
🔗 ● Đoạn III: Nói về Tứ Cú Kệ.
🔗Đoạn I
🔗Kinh Kim Cang bát nhã ba la mật là gì? Kinh: là phân tách bày vẽ. Kim: là loại kim khí, hay cũng gọi là kim chỉ nam định hướng. Cang: là cứng chắc chân thật. Bát nhã: là trí huệ rộng lớn. Ba la mật: là đáo bỉ ngạn.
🔗Kinh Kim Cang bát nhã ba la mật là lời phân tách bày vẽ một cách chơn thật chắc quyết do trí huệ rộng lớn soi thấy bờ giác của Phật phương tiện nói ra không hề giả dối tà nguy.
🔗Kinh Kim Cang cũng còn gọi là lời phân tách bày vẽ chỉ điểm một phương hướng cứng chắc chơn thật, do Phật nói ra để tiếp dẫn hàng đại thừa an trụ nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.
🔗Kinh Kim Cang mà Phật phương tiện gọi ông Tu Bồ Đề làm người. đối thoại đây là ý.
🔗Phật muốn nói rằng những lời phân tách bày vẽ, chỉ điểm trong đây là chỉ dạy cho người đại trí tu hạnh chánh đẳng chánh giác, chớ riêng người hạ căn thời không sao hiểu và làm được bởi chữ Tu là sửa, là hành. Bồ là voi ám chỉ Phật. Đề là giác. Tu Bồ Đề là hành theo hạnh giác ngộ của Phật. (Cụ thể hiện thân của Phật là Bạch Tượng có sáu ngà từ trên không trung sa xuống khai hông bên hữu của bà Ma Da hoàng hậu).
🔗Thật vậy tiên khởi ông Tu Bồ Đề đã hỏi Phật “Bạch Đức Thế Tôn, kẻ thiện nam thiện nữ phát tâm vô thượng chánh đẳng, chánh giác, tâm phải an trụ như thế nào, và nén dẹp vọng tâm như thế nào?”
🔗Đoạn II
🔗Phật dạy nén dẹp vọng tâm, an trụ tâm và Phật bác các tướng. Phật đã bảo:“Này ông Tu Bồ Đề. Các Bồ Tát và Đại Bồ Tát phải nén dẹp vọng tâm như thế này. Nghĩa là: Có hết thảy những loài chúng sanh dầu là loài sanh ra trứng, loài sang ra thai, loài sanh nơi ẩm ướt, loài hoá sanh, loài có sắc, loài không sắc, loài có tưởng, loài không tưởng, loài không phải không có tưởng, loài không phải có tưởng, ta đều khiến cho vào cõi vô dư Niết Bàn mà được diệt độ. Những chúng sanh đó, tuy được diệt độ vô lượng vô biên, mà thật ra coi như không có một chúng sanh nào được diệt độ cả. Tại vì sao? Ông Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát còn chấp vào chỗ có nhơn tướng, ngã tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, như thế tức không thể gọi là Bồ Tát được. Lại như khi Bồ Tát thực hành phép bố thí phải nên vô sở trụ. Nghĩa là: không nên trụ vào sắc thinh hương, vị xúc, pháp mà làm như vậy. Thời phước đức đồng với cõi hư không, không thể suy lường được. Ông Tu Bồ Đề! Bồ Tát những nên theo chỗ sở giáo như vậy mà trụ!
🔗Diễn ý:
🔗Về đoạn nén dẹp vọng tâm và an trụ tâm trên đây, Phật đã bảo có hết thảy các loại chúng sanh, ta điều khiển cho vào vô dư Niết Bàn mà được diệt độ, mà thật ra coi như không có một chúng sanh nào được diệt độ cả.
🔗Thật vậy. Đối với chánh pháp nhãn tạng của Như Lai thời ta có độ, và chúng sanh được độ. Nhưng thật ra dường như ta chẳng có độ được ai và chẳng có ai được độ (dầu cho là chúng sanh nội tâm hay ngoại tướng). Bởi cớ sao? Vì nếu chấp ta có độ thì ta là vọng sanh, chúng sanh được độ, thời chúng sanh đã diệt độ (tức chết mất) mà nếu ta là vọng sanh thì ta là giả. Chúng sanh đã diệt độ (chết mất) thời chúng sanh chẳng phải chơn.
🔗Ta là giả, chúng sanh cũng giả, thời ba đời chư Phật đều giả, mà nếu tất cả đều giả, thời ai nói pháp và độ ai làm gì (bởi nếu giả thời không thể thành chơn). Thế nên Phật đã bảo: ”Ta đã đưa cho tất cả chúng sanh được diệt độ, mà thật ra coi như không có một chúng sanh nào được diệt độ. Bởi ta có độ mà dường như không độ (vì không sanh). Chúng sanh được độ mà dường như không độ đó (vì là chẳng diệt), nên ta cùng chúng sanh đều chơn (bởi chơn thời không thể thành giả) và Phật đã nói, ông Tu Bồ Đề, Bồ Tát những nên theo chỗ sở giáo như vậy mà trụ!“. Câu này ý Phật dạy chư Bồ tát hãy trụ trong cảnh chơn như thường còn ấy vậy.
🔗Lại nữa, Phật cũng đã nói: ”Nếu Bồ Tát mà còn chấp vào nhơn tướng, ngã tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, thời không thể gọi là Bồ Tát được.” Bởi nhơn tướng là tướng nguyên nhân nguồn gốc phát sanh các pháp thực hành, mà pháp xưa nay vốn không sanh..
🔗Ngã tướng: là tướng ta đang thực hành các pháp mà ta thời xưa nay lại thường trụ. Chúng sanh tướng: là tướng mọi loài có nương nhờ hay không nương nhờ các pháp, mà chúng sanh thời thuỷ chung không có tự tánh. Thọ giả tướng: là tướng thọ nhận các kết quả của sự thực hành các pháp. Pháp đã không sanh, ta lại thường trụ, chúng sanh thời không có tự tánh, thời có cái gì thọ nhận kết quả mà gọi là thọ giả tướng?
🔗Hơn nữa Phật cũng đã dạy Bồ Tát hành một pháp bố thí trong sáu pháp ba la mật phải nên vô sở trụ. Nghĩa là: không trụ vào sắc thinh, hương, vị, xúc, pháp, thời phước đức đồng với cõi hư không, không thể suy lường được.
🔗Tại sao Phật lại bác các tướng?
🔗Sở dĩ Phật bác các tướng là để thể hiện cái chơn như thật tướng của viên giác tánh, nên chư Phật đã dạy chư Bồ Tát nén dẹp vọng tâm như vậy và an trụ tâm vào chỗ vô sở trụ như vậy! Lại nữa đoạn sau chót Phật đã ôn tồn chỉ dạy ông Tu Bồ Đề. Người phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, phải biết hết thảy các tướng mà Như Lai nói đó tức không phải là pháp tướng, như thế mới gọi là pháp tướng.
🔗Đây là ý Phật muốn nói vào pháp tướng vô vi mà ba đời chư Phật đều thực hành để đến quả vị chánh đẳng chánh giác. Nhưng dầu pháp tướng vô vi mà ba đời chư Phật đều thực hành để đến quả vị chăng? Thời pháp tướng đó! Cũng chưa phải là tướng chơn thật của tánh viên giác, nên nếu hành giả còn chấp vào pháp tướng vô vi là còn bị kẹt, thời thử hỏi chấp nơi pháp hữu vi là còn bị kẹt như thế nào nữa!!!- Nên chỉ sau rốt Phật đã dạy bốn câu kệ rằng:
🔗Đoạn III
🔗Nói về Tứ Cú Kệ
🔗Để nhắc lại bốn câu kệ mà từ đầu đến cuối trong quyển Kinh Kim Cang, Phật thường lập đi lập lại: “Ai trì tụng bốn câu đó và dạy lại kẻ khác trì tụng thì phước đức vô lượng”. Tuy có lập lại nhiều lần, nhưng Phật không chỉ bốn câu đó là như thế nào.
🔗Nhưng mặc dầu Phật không chỉ chớ bốn câu chót trong quyển Kim Cang cũng đã xác nhận rằng: đó là bốn câu mà Phật thường lập đi lập lại. Bốn câu kệ là:
🔗Tất cả các pháp hữu vi Như chiêm bao bọt nước Như bóng chớp sương mai Phải quán thấy như vậy
🔗Tại sao Phật lại dạy phải nên quán thấy rằng các pháp hữu vi nó như chiêm bao bọt nước, như bóng chớp sương mai?
🔗Vì lòng từ bi vô lượng, Phật không quên luôn nhắc nhở cho chúng sanh biết rằng những vật gì có hình tướng thảy đều là giả dối. Có sanh tức có diệt theo luật vô thường. Nhẫn đến các tướng pháp mà Phật nói ra cũng đều là giả, nhưng sở dĩ có, đó chỉ là phương tiện giúp duyên cho chúng sanh trên đường tiến hoá thôi, chớ kỳ thật pháp vốn không sanh, ta thời thường trụ, chúng sanh thời không có tự tánh, và bởi chúng sanh không có tự tánh nên đạo quả cũng không thành.
🔗Tuy nhiên mặc dù nói đạo quả không thành chớ một khi chúng sanh từ vô minh si mê lại được sáng tỏ, hiểu biết hoàn toàn chơn tướng của ta và an trụ trong chơn tướng ấy, thì đó là đã được cái chơn như toàn giác rồi vậy
🔗Lại nữa Phật dạy phải quán thấy pháp hữu vi là giả dối, là ý ngài chỉ dạy cho chúng sanh biết rằng: cần phải hành pháp vô vi mới đi tới chốn, đừng chấp pháp hữu vi là kinh nghĩa văn tự mà tự trói buộc lấy mình.
🔗Tóm lại: Nội dung đại khái trong kinh Kim Cang là ý Phật dạy, người hành đạo Bồ Đề là phải rời tất cả các tướng dầu là vô vi hay hữu vi mới hiển hiện được cái tướng chơn thật của nó vậy. Thế thì Kim Cang kinh là một phẩm kinh Đại thừa đốn giáo, Phật phương tiện chỉ dạy cho hàng Bồ Tát thực hành để được chơn như toàn giác.
🔗Phẩm kinh Kim Cang là một phẩm kinh khai thông tánh giác chơn như thật tướng của chư Phật ba đời rất mầu nhiệm thậm thâm mà trí phàm khó nỗi tận tường.
🔗Phẩm kinh Kim Cang là một địa bàn định hướng rất chân thật, chắc quyết mà tất cả ai ai mong tầm đạo quả chánh đẳng chánh giác cũng cần lấy đó làm phương châm hết.
🔗Nam Mô Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Bát.
🔗Hết phẩm thứ 32
🔗Nam Mô Thiền Sư An Lạc Hạnh
Phẩm trước Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 31 Phẩm tiếp Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 33