Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 34

🔗Liên Hoa Pháp Giáo
🔗PHẨM THỨ 34
🔗BỒ TÁT GIỚI
🔗Thuở xưa Phật Thích Ca Mâu Ni ban đầu ngồi dưới cội Bồ Đề, thành đạo vô thượng chánh giác rồi, trước kiết giới Ba La đề mộc xoa của Bồ Tát, là hiếu thuận cha mẹ thầy bạn và ngôi tam bảo hiếu thuận là pháp chỉ đạo gọi là giới, cũng gọi là cấm ngăn, Phật liền trong miệng phóng ra vô số hào quang cả đại chúng trăm muôn ức Bồ Tát, Mười Tám Trời Phạm Thiên, Thiên tử cõi lục dục, mười sáu đại quốc vương đều chắp tay hết lòng nghe, Phật tụng đại thừa giới của tất cả chư Phật..
🔗Phật bảo các hàng Bồ Tát rằng, ta nay nửa tháng một kỳ tụng giới chánh pháp của Phật, các người tất cả Bồ Tát phát tâm, nhẫn đến Bồ Tát mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười Kim Cang, mười địa cũng tụng, nên giới quang từ trong miệng phóng ra, đủ cả nhơn và duyên, song hào quang ấy, không phải xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, chẳng phải sắc tâm, có không nhơn quả, chính là gốc nguồn chư Phật, gốc nguồn bồ Tát mà cũng là gốc nguồn của tất cả Phật tử đại chúng nữa, thế nên tất cả Phật tử đại chúng phải vâng giữ đọc tụng khéo học.
🔗Các Phật Tử Lắng Nghe:
🔗Như thọ giới Phật, hoặc vua, hoặc thái tử bá quan tể tướng, tỳ kheo, tỳ kheo ni, 18 phạm thiên lục dục thiên tử, thứ dân huỳnh môn, dân nam, dân nữ, tôi tớ bát bộ quỷ thần, thần Kim Cang, súc sanh cho đến người biến hoá, hễ rõ lời thầy dạy, đều thọ giới đặng, đều gọi là người trong sạch thứ nhất.
🔗Phật bảo các hàng Phật tử rằng có mười giới trọng. Nếu các người thọ giới Bồ Tát mà không tụng giới này,thời chẳng phải Bồ Tát, chẳng phải giòng giống Phật, ta cũng tụng như vậy. Tất cả Bồ Tát đã học, sẽ học và nay học cần phải học kỉnh tâm vâng giữ..
🔗Phật nói:
🔗1. Nếu Phật tử, hoặc mình giết, bảo người giết, phương tiện giết, khen ngợi giết, thấy giết vui theo những đến chú thuật giết, nhơn giết, duyên giết, pháp giết, nghiệp giết. Tất cả các loài có mạng sống không nên cố giết. Bổn phận Bồ tát phải luôn luôn khởi lòng từ bi hiếu thuận tìm phương cứu giúp tất cả chúng sanh, trái lại lung lòng vui ý làm việc sát sanh, thời Bồ tát ấy phạm trọng tội.
🔗2. Nếu Phật tử mình trộm, xúi người trộm, phương tiện trộm, chú thuật trộm, nhơn trộm, duyên trộm, pháp trộm, nghiệp trộm, cho đến của quỷ thần, của có chủ, của giặc cướp, tất cả của cải, một cây kim, một ngọn cỏ không nên cố trộm. Phép Bồ tát phải sanh lòng hiếu thuận, Phật tánh từ bi, thường giúp cho tất cả người được phước an vui. Trái lại trộm tài vật của người thời Bồ tát ấy phạm trọng tội.
🔗3. Nếu Phật tử mình dâm, bảo người dâm cho đến tất cả người nữ không đặng cố dâm, nhơn dâm, duyên dâm, pháp dâm, nghiệp dâm, hành dâm phi đạo, những đến súc sanh cái chư thiên quỷ thần gái, phép Bồ Tát phải sanh lòng hiếu thuận, cứu độ tất cả chúng, đem pháp trong sạch cho người. Mà trái lại khởi lòng dâm như mọi người, chẳng lựa súc sanh đến nỗi dâm với mẹ, chị em, sáu thân, thật không lòng từ bi, Bồ Tát ấy phạm trong tội.
🔗4. Nếu Phật tử, mình nói vọng, dạy người nói vọng, phương tiện nói vọng, nhơn nói vọng, duyên nói vọng, nghiệp nói vọng, cho đến chẳng thấy, nói thấy, thấy nói chẳng thấy, thân tâm nói vọng, phép Bồ Tát thường sanh chánh ngữ, chánh kiến cho tất cả chúng sanh, mà trở lại khởi ra tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp cho tất cả chúng sanh, thời Bồ Tát ấy phạm trọng tội.
🔗5. Nếu Phật tử, mình bán rượu, bảo người bán rượu, nhơn bán, duyên bán, pháp bán, nghiệp bán. Tất cả rượu không được bán, vì rượu là nhơn duyên sanh tội. Phép Bồ Tát phải làm cho hết thảy chúng sanh được trí huệ sáng suốt, mà trở lại làm điên đảo cho tất cả chúng sanh, thời Bồ Tát ấy phạm trọng tội.
🔗6. Nếu Phật tử, mình nói tội lỗi của Bồ Tát xuất gia, tại gia, và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, hoặc bảo người nói, nhân nói, duyên nói, pháp nói, nghiệp nói. Phép Bồ Tát nghe ngoại đạo và nhị thừa, người ác chê đạo Phật là phi pháp, phi luật, thường sanh tâm lành dạy bọn dữ ấy tin rõ lý đại thừa mới phải, mà trở lại nói tội lỗi trong Phật pháp thời Bồ Tát ấy phạm trọng tội.
🔗7. Nếu Phật tử khen mình chê người, bảo kẻ khác khen mình chê người, nhơn chê, duyên chê, pháp chê, nghiệp chê, phép Bồ Tát phải thế cho hết thẩy chúng sanh chịu những điều huỷ nhục, việc xấu đem về mình, việc tốt nhường cho người. Nếu khoe đức mình, dấu việc tốt người, làm cho người chịu điều huỷ nhục, thời Bồ Tát ấy phạm trọng tội.
🔗8. Nếu Phật tử mình bỏn xẻn, bảo người bỏn xẻn, nhơn xẻn, pháp xẻn, duyên xẻn, nghiệp xẻn. Phép Bồ Tát thấy tất cả người nghèo đến xin, tuỳ người ấy dùng món chi đều giúp cho cả. Thế mà Bồ Tát trở đem lòng sân ác, nhẫn đến không cho một tiền, mũi kim ngọn cỏ....Có người cầu pháp, không nói cho một câu, một bài kệ chúc pháp như vi trần, mà trở lại mắng nhiếc thời Bồ Tát ấy phạm trọng tội.
🔗9. Nếu Phật tử mình sân, bảo người sân, nhân sân, duyên sân pháp sân,nghiệp sân, phép Bồ Tát phải thường sanh lòng từ bi hiếu thuận, đem căn lành, không xích mích cho cả chúng sanh, mà trở lại mắng nhiếc, tay đánh cây đập, cho đến loài phi chúng sanh. Ý còn chưa nguội, người kia thú tội nhỏ nhẹ cầu tha mà vẫn còn giận hoài không hết, Bồ Tát ấy phạm trọng tội.
🔗10. Nếu Phật tử mình chê ngôi tam bảo, xúi người chê ngôi tam bảo, nhơn chê, duyên chê, pháp chê, nghiệp chê, phép Bồ Tát thấy ngoại đạo và người ác chê Phật một tiếng, như ba trăm mũi giáo đâm vào tim, huống chi mình chê chẳng sanh lòng tín, lòng hiếu thuận mà trở lại giúp cho kẻ tà kiến và người dữ chê bai, Bồ Tát ấy phạm trọng tội.
🔗Các nhơn giả khéo học như trong mười giới ba la đề mộc xoa của Bồ Tát đây, cần phải học không phạm một giới nào, chừng bằng mãi bụi, huống chi phạm đủ trong mười giới. Nếu phạm giới này, đương đời không đặng phát tâm Bồ Đề, cũng mất ngôi vua, ngôi chuyển luân vương, ngôi Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười Kim Cang, mười địa, tánh Phật quả nhiệm mầu thường trụ tất cả đều mất, đoạ trong ba đường dữ, hai kiếp, ba kiếp. Chẳng nghe được danh hiệu của cha mẹ và ngôi Tam Bảo, vì thế nên chẳng dám phạm một giới nào cả. Các người hết thẩy Bồ Tát nay học, sẽ học, đã học, mười giới này cần phải học kỉnh lòng vâng giữ.
🔗Phật bảo các Bồ Tát rằng đã nói mười giới trọng rồi, còn 48 giới khinh nay nói:
🔗1. Nếu Phật tử khi muốn lãnh ngôi vua, ngôi chuyển luân vương, ngôi bá quan trước phải thọ Bồ Tát giới. Tất cả quỷ thần cứu hộ thân vua và thân bá quan, chư Phật vui mừng, đặng giới này rồi phải sanh lòng hiếu thuận, lòng cung kính, thấy vị Thượng toạ, Hoà thượng Trưởng lão, Đại đức, đồng học, đồng hiểu, đồng tu phải đứng dậy tiếp rước lễ bái, không mỗi y phép cúng dường, con cái đồ bảy báu trăm vật mà cung cấp cũng vui lòng, nếu không thế phạm khinh cấu tội.
🔗2. Nếu Phật tử cố tâm uống rượu, vì rượu là thứ hay sanh vô lượng tội lỗi, nếu tự tay mình đưa chén rượu cho người uống, thời mắc quả báo năm trăm đời không tay, huống chi là mình uống. Cũng chẳng đặng dạy tất cả người uống và chúng sanh uống, huống mình uống rượu. Tất cả thứ rượu không đặng uống, nếu mình cố tâm uống hay bảo người uống thì phạm khinh cấu tội.
🔗3. Nếu Phật tử cố ăn thịt, tất cả thịt chúng sanh không nên ăn, người ăn thịt đoạn mất hột giống đại từ bi của Phật tánh. Tất cả chúng sanh thấy đều bỏ chạy, thế nên quý vị Bồ Tát không đặng ăn thịt các loài chúng sanh, ăn thịt mắc vô lượng tội, nếu cố tâm ăn đấy phạm khinh cấu tội.
🔗4. Nếu Phật tử không đặng ăn ngũ vị tân: hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu, năm món hôi nồng này để trong các thứ đồ ăn cũng không nên ăn, nếu cố tâm ăn phạm khinh cấu tội.
🔗5. Nếu Phật tử thấy tất cả chúng sanh phạm tám giới, năm giới, mười giới, phá giới cấm mắc thất nghịch, bát nạn, hết thẩy các tội phạm giới mà không cử tội người đó sám hối thời phạm khinh cấu tội.
🔗6. Nếu Phật tử thấy pháp sư đại thừa, người đồng học, đồng hiểu, đồng hạnh đại thừa vào chùa, nhà, thành, ấp hoặc trăm ngàn dặm đi đến phải tiếp rước đưa đón lễ bái, hằng ngày ba thời cúng dường, chi phí ước ba lượng vàng cùng trăm món ẩm thực, giường ghế, thuốc thang, cúng dưng pháp sư, tất cả vật dụng đều cấp cho, thường thỉnh pháp sư ba thời thuyết pháp, mỗi ngày ba thời lễ bái, chẳng sanh lòng giận, sầu chán nản, vì pháp quên mình, thỉnh pháp không mỏi, nếu chẳng vậy phạm khinh cấu tội.
🔗7. Nếu Phật tử tất cả chỗ có giảng kinh luật hay trong nhà của thế tục có chỗ giảng pháp, thời Bồ Tát tân học, phải ôm kinh luật đến chỗ ông pháp sư giảng mà nghe học thưa hỏi hay trong núi rừng, chùa am, dưới cội cây chẳng hạn, bao nhiêu chỗ nói pháp, đều đến nghe thọ, nếu không đến đó nghe thọ thưa hỏi phạm khinh cấu tội.
🔗8. Nếu Phật tử đem lòng bỏ kinh luật đại thừa thường trụ, cho là không phải Phật nói mà vâng giữ theo những giới cấm kinh luật của tà kiến ngoại đạo thời phạm khinh cấu tội.
🔗9. Nếu Phật tử thấy tất cả người tật bệnh thời thường phải cúng dường, như cúng dường Phật không khác, trong tám món ruộng phước, về phước nuôi bệnh là thứ nhất, hoặc cha mẹ sư tăng, đệ tử có bệnh, sáu căn không đủ, trăm chứng khổ não đều phải cấp nuôi cho lành mạnh. Thế mà Bồ Tát lại dùng lòng hờn giận không nuôi cho đến chùa chiền ngoài thành ấp, đồng nội rừng núi, đường xá thấy người bệnh không cứu giúp thời phạm khinh cấu tội.
🔗10. Nếu Phật tử chẳng đặng sắm các thứ dao gậy, cung tên, búa mác, những đồ đấu chiến cùng bầy giò lưới rập thứ hại chúng sanh. Tất cả chẳng đặng sắm, Bồ Tát người ta giết cha mẹ còn không trả thù, huống là mình giết tất cả chúng sanh, nếu cố sắm đó phạm khinh cấu tội. Như vậy mười giới cần phải học kỉnh lòng vâng giữ.
🔗11. Nếu Phật tử không đặng vì lợi dưỡng, mà ác tâm làm sứ mạng cho nước khác, hội hiệp quân trận, khởi binh đánh nhau, giết vô số chúng sanh, Bồ Tát còn không đặng tới lui trong quân trận, huống là cố làm giặc trong nước, nếu cố làm đó phạm khinh cấu tội.
🔗12. Nếu Phật tử cố tâm mua bán người lành tôi tớ, cùng loài súc vật, bán chác quan tài, cây ván, đồ đựng thây chết, mình còn không được làm, huống chi bảo người, nếu mình cố làm hay bảo người khác làm phạm khinh cấu tội.
🔗13. Nếu Phật tử cố đem lòng ác, vô cớ mà vu báng, người hiền lương, pháp sư, sư tăng, vua chúa, quý nhơn, nói phạm tội bảy nghịch, mười trọng đối với cha mẹ, anh em trong sáu thân phải sanh lòng hiếu thuận, lòng từ bi mà trở lại làm nghịch hại, khiến kia chẳng vui lòng thời phạm khinh cấu tội.
🔗14. Nếu Phật tử đem lòng ác, phóng lửa đốt núi rừng đồng nội từ tháng tư đến tháng chín phóng lửa đốt lều trại, thành ấp, chùa am, đồng ruộng, cây cối người ta, chỗ ở của quỷ thần, cùng tất cả chỗ nào có sanh mạng, không đặng cố đốt, nếu cố tâm đốt phạm khinh cấu tội.
🔗15. Nếu Phật tử: từ đệ tử Phật cho đến ngoại đạo, người ác trong lục thân, tất cả người quen biết phải mỗi mỗi dạy họ vần giữ kinh luật đại thừa, dạy hiểu nghĩa lý đặng phát tâm Bồ Đề, nhận rõ mười tâm phát thú, mười tâm trưởng dưỡng và mười tâm kim cang, trong ba mươi tâm, thứ lớp dạy rõ nghĩa lý. Trái lại Bồ Tát đem tâm giận dữ, tâm xấu xa, dạy càng kinh luật nhị thừa, thanh văn, luận tà kiến ngoại đạo vv......... phạm khinh cấu tội.
🔗16. Nếu Phật tử hảo tâm, trước học kinh luật oai nghi đại thừa, rộng hiểu nghĩa lý, thấy Bồ Tát mới học sau từ trăm dặm, ngàn dặm đến cầu hỏi kinh luật đại thừa phải y pháp dạy cho biết những khổ hạnh của Bồ Tát nào đốt mình, đốt cánh tay, đốt ngón tay cúng dường chư Phật. Nếu không đốt cúng dường chẳng phải Bồ Tát xuất gia cho đến gặp hổ lang, sự tử đói, bao nhiêu quỷ đói đều phải xả thân thịt mình mà thí cho nó, rồi sau mỗi mỗi theo thứ lớp nói chánh pháp cho nó nghe khiến lòng dạ nó mở tỏ, mà ông Bồ Tát vì cớ lợi dưỡng, lời đáng dạy không dạy, nói ngược chữ nghĩa kinh luật, không sau không trước, chê bai ngôi Tam Bảo, Bồ Tát ấy phạm khinh cấu tội.
🔗17. Nếu Phật tử: mình vì sự ăn uống, tiền của, danh lợi, và tiếng khen thân cận nhà vua, vương tử, đại thần, bá quan, cậy mượn oai thế, đánh đập lôi kéo, lấy ngang tiền của, đủ cách cầu lợi phi lý, gọi là ác tâm đa cầu, hoặc xúi người khác cầu. Như vậy không lòng từ mẫn và hiếu thuận thời phạm khinh cấu tội.
🔗18. Nếu Phật tử phải học 12 bộ kinh tụng giới mỗi ngày sáu thời, giữ Bồ Tát giới phải hiểu rõ nghĩa lý, khế hợp với tánh Phật tánh, mà Bồ Tát không biết một câu, một bài kệ và nhơn duyên giới luật láo rằng hiểu biết đó, tức là dối gạt mình, cũng dối gạt người khác nữa. Tất cả kinh pháp không biết mà làm thầy truyền giới cho người, thời phạm khinh cấu tội.
🔗19. Nếu Phật tử đem lòng ác, thấy Tỳ kheo giữ giới tay bưng lư hương tu hạnh Bồ Tát, lại đâm thọc hai đầu, vu hiếp người hiền, không việc ác nào mà chẳng làm, thời phạm khinh cấu tội.
🔗20. Nếu Phật tử đem lòng lành làm việc phóng sanh vì tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, mỗi đời ta từ đó mà sanh ra, nên chúng sanh trong sáu đường là cha mẹ của ta cả lại giết hại mà ăn tức là giết cha mẹ của ta, cũng là giết thân cũ của ta. Tất cả đất nước gió lửa là thân trước của ta, nên thường làm việc phóng sanh, đời đời thọ sanh là cái việc còn hoài nên dạy người phóng sanh. Nếu thấy người đời khi giết loài súc sanh phải tìm phương giải cứu cho nó khỏi khổ, thường giảng nói giới Bồ Tát cứu độ chúng sanh hoặc ngày cha mẹ, anh em qua đời hoặc ngày kỵ giỗ, cũng phải thỉnh pháp sư giảng kinh luật Bồ Tát giới, giúp phước người vong siêu độ, đặng thấy chư Phật, sanh về cõi nhơn thiên, nếu chẳng thế đó phạm khinh cấu tội.
🔗Như trên mười giới cần phải học kinh lòng vâng giữ.
🔗21. Nếu Phật tử: chẳng nên đem giận trả giận, đem thù trả thù, dầu người có giết cha mẹ, anh em sáu thân, cũng không nên giết lại. Chúa mình bị giết cũng không nên trả thù. Giết mạng trả mạng, không thuận hiếu đạo, cũng không nuôi tôi tớ, mỗi ngày đánh mắng khởi ba nghiệp tội miệng vô số, huống cố phạm bảy tội nghịch, Bồ Tát xuất gia lại cố trả thù, không lòng lành đến nỗi trả thù, trong lục thân, phạm khinh
🔗cấu tội.
🔗22. Nếu Phật tử: mới xuất gia chưa biết chi cả mà ỷ mình thông minh có trí, hay ỷ cao sang tuổi lớn, họ hàng rân rác, hiểu rộng biết nhiều, phước to giàu đủ, dư của bảy báu, cậy đó mà ỷ thế khoe tài, sanh lòng kiêu mạn, không chịu học hỏi kinh luật với các pháp sư học trước. Còn pháp sư kia hoặc là cánh họ thấp, tuổi nhỏ, nhà hẹp, nghèo nàn hèn hạ, sáu căn không đủ mà thiệt có đức, bao nhiêu kinh luật đều thông, Bồ Tát tân học, không đặng xem dòng họ của pháp sư, mà không đến hỏi học nghĩa chơn đế thứ nhất của pháp sư, thời phạm khinh cấu tội.
🔗23. Nếu Phật tử: sau khi Phật diệt độ hảo tâm muốn thọ giới Bồ Tát, thời phải tới trước hình tượng Phật, Bồ Tát tự thệ nguyện mà thọ. Cần phải sám hối trước tượng Phật trong bảy ngày đặng thấy tướng tốt thời mới đắc giới. Nếu chưa thấy tướng tốt phải sám hối hai thất, ba thất cho đến một năm cầu đặng tướng tốt. Chừng nào tướng tốt đặng thấy, thời đặng ở trước hình tượng Phật, Bồ Tát mà thọ giới. Nếu không thấy tướng tốt của Phật, dầu ở trước tượng Phật thọ giới cũng không gọi là đắc giới.
🔗Bằng như thọ giới nơi pháp sư trước có thọ Bồ Tát giới thì không buộc phải thấy tướng tốt, vì sao? Vì ông pháp sư ấy có thầy nối truyền, nên không buộc thấy tướng tốt. Bởi vậy khi thọ giới, đối trước pháp sư sanh lòng chí trọng mà thọ thời đắc giới, hoặc trong ngàn dặm không có thầy truyền giới thì được ở trước tượng phật Bồ Tát tự phát thệ thọ giới song cần phải thấy tướng tốt. Nếu ông pháp sư ỷ mình biết kinh luật học giới đại thừa, làm bạn thân với quốc vương, thái tử, bá quan, có Bồ Tát tân học đến hỏi nghĩa kinh luật lại đem lòng khinh khi ghét bỏ, kiêu căng, không đáp tử tế mỗi lời hỏi, phạm khinh cấu tội.
🔗24. Nếu Phật tử có kinh luật đại thừa của Phật, chánh kiến, chánh tánh, chánh pháp thân mà không chịu cần học tu tập khác nào bỏ của thất bảo trở học theo sách vở của thế tục, luận a tỳ đàm các luật của nhị thừa, ngoại đạo tất cả thuyết tà kiến, đó là nhơn duyên ngăn đạo, dứt mất Phật tánh chẳng phải tu hạnh Bồ Tát. Nếu cố làm như thế thời phạm khinh cấu tội.
🔗25. Nếu Phật tử: khi Phật diệt độ rồi, làm ông chủ thuyết pháp, chủ tu hành, chủ chùa chiền, chủ giáo hoá, chủ tọa thiền, chủ tiếp khách phải sanh lòng từ bi, khéo sắp đặt hoà giải trong chúng, và khéo giữ gìn của Tam Bảo đừng xài vô độ như của mình. Nếu khuấy chúng gây tranh rầy rà, còn mình lung lòng xài của Tam Bảo, phạm khinh cấu tội.
🔗26. Nếu Phật tử: ở trước trong chùa, thấy khách Bồ Tát hay Tỳ kheo sau đến vào chùa, nhà, thành, ấp hoặc đền vua, nhẫn đến chỗ kiết hạ an cư và trong đại hội, thời ông thầy ở trước đó phải rước vào đưa đi, cúng các độ ăn uống, phòng, nhà, chiếu gối, giường chõng, mỗi việc cấp cho như không của, phải bán thân, bán con trai, con gái, lóc thịt mình bán, cúng dường tất cả vật dụng cho khách tăng dùng.Nếu có người đàn việt đến thỉnh chúng tăng, thời khách tăng cũng có dự phần, thỉnh chủ chùa phải có thứ lớp cho khách tăng thọ thỉnh. Nếu ỷ ở trước trong chùa lại thọ thỉnh riêng mà không cho khách tăng dự, mắc tội vô lượng không khác súc sanh, không phải sa môn, không phải con nhà Phật, phạm khinh cấu tội.
🔗27. Nếu Phật tử: không đặng thọ thỉnh riêng, thu lãnh của cúng về mình, của cúng ấy chung mười phương tăng thọ thỉnh riêng tức là lấy của tăng mười phương và trong tám ruộng phước là: chư Phật, Thánh nhơn, Thầy, chúng tăng, cha, mẹ, người bệnh về mình dùng, thời phạm khinh cấu tội.
🔗28. Nếu Phật tử: Khi có Bồ tát xuất gia, Bồ tát tại gia và những người đàn việt nào muốn thỉnh chúng tăng, cầu ruộng phước thì phải vào trong chùa thưa với ông tri sự rằng:” Tôi nay muốn thỉnh chúng tăng làm phước”, ông tri sự phải dạy lại rằng:”Cứ theo thứ lớp mà thỉnh, thời đặng mười phương hiền Thánh tăng, người đời riêng thỉnh năm trăm vị La Hán Bồ Tát Tăng, chẳng bằng theo thứ lớp mà thỉnh một vị phàm Tăng, nếu lựa mà thỉnh riêng là cách của ngoại đạo, còn bảy lớp Phật không có cách thỉnh riêng, nếu cố thỉnh riêng thời phạm khinh cấu tội.”
🔗29. Nếu Phật tử cố đem lòng ác, vì cớ lợi dưỡng buôn bán sắc đẹp nam nữ, tay mình làm đồ ăn hoặc say giã. Xem tướng đàn ông, đàn bà, bàn mộng kiết hung, sanh nam hay nữ, chú thuật nghề kheó tập luyện chim ưng, bào chế trăm ngàn thuốc độc, độc rắn, độc sâu, độc vàng bạc, đều không lòng từ mẫn, lòng hiếu thuận, nếu cố làm, phạm khinh cấu tạo.
🔗30. Nếu Phật tử cố đem lòng ác, mình chê ngôi Tam Bảo, giả bộ nương gần miệng cứ nói không, làm trong chỗ có. Xu phụ về mắt thế gian, mai mối cho nam nữ tư thông giao hội sắc dâm, gây các việc buộc ràng dính mắc, mỗi tháng 6 ngày chay, hằng năm ba tháng trường trai, sát sanh trộm cắp huỷ giới phá trai, phạm khinh cấu tội.
🔗Mười giới này cần phải học, kỉnh lòng vâng giữ.
🔗31. Nếu Phật tử: Phật tịch rồi, trong đời dữ thấy kẻ ngoại đạo. Tất cả người ác. Cướp tặc bán hình tượng Phật Bồ Tát. Kẻ phát Bồ Đề, bản làm tay sai cho quan làm tôi mọi cho ngươi, Bồ Tát thấy thế phải sanh lòng từ bi tìm phương cứu chữa, đi các nơi giáo hóa xin tiền, chuộc tượng Phật Bồ Tát và ông Tăng, cô Ni. Cùng những người phát tâm Bồ Đề và tất cả kinh luật, nếu không mua chuộc, phạm khinh cấu tội.
🔗32. Nếu Phật tử: không đặng buôn bán dao gậy, cung tên, cần non, gia thiếu, cậy thế lực quan trên, lấy ngang của chúng lòng ác trói buộc, phá hư việc thành công của người và nuôi mèo, chồn, heo, chó VV......Nếu cố nuôi, phạm khinh cấu tội.
🔗33. Nếu Phật tử cố đem lòng ác, xem coi các kẻ nam nữ đánh lộn, cùng binh tướng đánh giặc nơi quân trận, cũng chẳng đặng nghe thổi ốc trống, còi, đờn cầm, đờn sắc, đờn tranh, ống tiêu, ống sáo, đờn không hầu, các tiếng ca ngâm, kỵ nhạc, chẳng đặng đánh bài bạc, cờ vây, cờ tướng, cờ đàn, cờ lục bát, đánh banh quăng đá, gieo hồ, thành đi liền đường tám đường, và phép nóng kiến, cỏ thi nhành dương bát nước, sọ khô làm việc tới sủ và không đặng làm sứ cho cướp trộm, mỗi mỗi không nên làm, nếu cố tâm làm đó, phạm khinh cấu tội.
🔗34. Nếu Phật tử: khi đi đứng nằm ngồi giữ gìn giới cấm, ngày đêm sáu thời, trì tụng giới này, trọng giới như Ngọc Kim Cang, như đeo phao nổi, qua khỏi biến lớn như Tỳ Kheo buộc cỏ thường sanh lòng từ thiện chánh tín Đại thừa, tự biết mình là Phật chưa thành, chư Phật là Phật đã thành phát tâm Bồ Đề mỗi niệm không lui sụt, nếu khởi một niệm nhị thừa, ngoại đạo phạm khinh cấu tội.
🔗35. Nếu Phật tử thường phải phát tất cả lời nguyện hiếu thuận phụ mẫu, Sư Tăng nguyện gặp thầy hay bạn lành, đồng học, thường dạy kinh luật Đại thừa. Mười phát thú, mười địa, đặng ta hiểu rõ, y pháp tu hành, giữ bền giới Phật, thà bỏ thân mạng, mỗi niệm không quên. Tất cả Bồ Tát không phát nguyện này phạm khinh cấu tội.
🔗36. Nếu Phật tử: phát mười đại nguyện ấy rồi, giữ giới cấm của Phật phải phát thệ rằng: thà đem thân này, nhảy vào đống lửa dữ, hầm lớn, núi cao, quyết không phạm kinh luật của Phật, ba đời làm hạnh bất tịnh, với tất cả người nữ, lại nguyện rằng. Thà lấy ngàn lớp sắt nóng, vấn giáp thân mình, quyết không dùng thần phá giới này. Mặc những y phục của người đàn việt tín tâm lại nguyện rằng. Thà lấy miệng này nuốt hoàn sắt nóng, và cục lửa đỏ, trải trăm ngàn kiếp, quyết không đem miệng phá giới này, ăn uống trăm món của người đàn việt tín tâm lại nguyện rằng: Thà đem thân này nằm trên lưới sắt cháy đỏ, quyết không dùng thân phá giới này, ngồi nằm trăm thứ giường ghế của người đàn việt tín tâm, lại nguyện rằng: Thà lấy thân này chịu ba trăm chĩa giáo đâm vào mình, một kiếp. hai kiếp, quyết không đem thân phá giới này, dùng trăm thứ thuốc thang của người đàn việt tín tâm lại nguyện rằng: Thà đem thân này, háp vào tấm sắt nóng trải trăm ngàn kiếp, ở trong ngàn lớp phòng nhà, vườn đất của người đàn việt tín tâm, lại nguyện rằng: Thà lấy chùy sắt đập nát thân này, từ đầu đến chân, nát tan như bụi, quyết không dùng thân phá giới này. Chịu người đàn việt tín tâm cung thỉnh lễ bái lại nguyện rằng:
🔗Thà lấy trăm ngàn dùi sắt soi lại lỗ tai, một hai kiếp quyết tâm không đem tâm phá giới này. Nghe giọng hay tiếng tốt lại nguyện rằng: Thà lấy trăm ngàn keó bén hớt bỏ cái mũi, quyết không dùng tâm phá giới này. Tham ngửi mùi thơm, lại nguyện rằng; thà lấy trăm ngàn dao bén cắt cuống lưỡi, quyết không dùng tâm phá giới này. Ăn trăm món quý của người lại nguyện rằng: Thà đem búa bén bằm, chặt thân thể, quyết không dùng tâm phá giới này, ham cạ vật êm lại nguyện rằng: Tất cả chúng sanh đều đặng thành Phật, Bồ Tát nếu không phát nguyện như vậy phạm khinh cấu tội.
🔗37. Nếu Phật tử: thường phải hai mùa tu hạnh đầu đà, còn mùa đông và mùa hạ ngồi thiền, kiết hạ an cư, thường dùng ba y, bình bát, tọa cụ, tích trượng, lư hương, bàn lược, khăn tay, dao cạo, nhiếp quẹt lửa, tăm xỉa răng, xà bông, võng mùng, dao xắt nhỏ, với kinh luật và tượng Phật, tượng Bồ Tát, Bồ Tát khi tu đầu đà và khi du phương, đi đến trăm dặm thời mười tám món này, thường đem theo mình đầu đà từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba.
🔗38. Nếu Phật tử phải y theo thứ lớp mà ngồi thọ giới trước ngồi trước, thọ giới sau ngồi sau, chẳng luận già trẻ, Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, quý nhơn, quốc vương, Thái tử cho đến huỳnh môn, tôi tớ đều phải theo thứ lớp, thọ giới trước sau mà ngồi, đừng như ngoại đạo, người ngu, già trẻ trước sau lộn xộn, ngồi không có thứ lớp, khác nào kẻ binh nô (mọi rợ). Trong đạo Phật ta kẻ thọ giới trước ngồi trước, kẻ thọ giới sau ngồi sau (Bồ Tát tại gia ngồi theo tại gia, Bồ Tát xuất gia ngồi theo xuất gia), cho đến nam nữ cũng phải phân biệt. Nếu Bồ Tát không mỗi mỗi y theo thứ lớp mà ngồi thơi phạm khinh cấu tội.
🔗39. Nếu Phật tử: Thường phải dạy bảo cho tất cả chúng sanh, dựng lập chua am, tòng lâm ruộng vườn và tháp Phật, cùng chỗ để mùa đông, mùa hạ an cư, ngồi thiền, bao nhiêu chỗ đạo tràng tu niệm đều phải tạo lập cả. Bồ Tát phải giảng kinh luật đại thừa cho tất cả chúng sanh nghe, khi tật bệnh nạn nước lửa, giặc, cùng ngày cha mẹ, anh em, Hoà thượng, trưởng lão mất, và ngày ba thất, bốn thất nhẫn đến bảy thất, cũng phải giảng nói kinh luật đại thừa. Tất cả trai hội cầu nguyện hoặc đi làm ăn, bị nạn lửa thiêu, nước trôi, gió dữ thổi chìm ghe tàu, nơi sông hồ, biển lớn gặp nạn la sát cũng đọc tụng giảng nói kinh luật này. Nhẫn đến tất cả tội báo trong ba đường tám nạn bảy nghịch, gông cùm, xiềng xích trói buộc thân thể hoặc lòng thường móng dâm, giận ngu si, nhiều tật bệnh, cũng đều giảng nói kinh luật này mà Bồ Tát mới học. Nếu không như thế phạm khinh cấu tội.
🔗Chín giới này cần phải học, kỉnh lòng vâng giữ.
🔗40. Nếu Phật tử: Khi truyền giới cho người không đặng lựa chọn tất cả ông vua, Thái tử đại thần, bá quan, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Tín nam, tín nữ, dâm nam, dâm nữ mười tám trời thanh sáu trời dục, không căn, hai căn, huỳnh môn tôi tớ, tất cả quỷ thần đều được thọ giới, phải dạy họ mặc y phục, nhuộm màu hoại sắc cho hiệp với đạo. Chẳng những y phục, cho đến ngoạ cụ, đều phải nhuộm màu xanh, vàng, đỏ, tía, đen cho hoại sắc, như người trong nước hết thảy nhân dân mặc đồ thế nào, Tỳ kheo phải mặc cho khác người thế tục. Khi muốn thọ giới, Thầy phải hỏi: người đương đơi có phạm tội thất nghịch không? Bồ Tát pháp sư không nên cho người đương đơi phạm tội thất nghịch thọ giới. Tội thất nghịch là: làm cho mình Phật ra máu, giết cha mẹ Hoà thượng, trưởng lão, Thánh nhơn, phá tăng yết ma chuyển pháp luân, nếu phạm đủ bảy tội nghịch thì đời này không đặng thọ giới, còn ngoài ra đều đặng thọ giới phép người xuất gia, không đặng lạy vua chua, cha mẹ sáu thân chẳng mến, quỷ thần chẳng lạy, có chúng sanh hiểu đặng lời pháp sư, từ trăm ngàn dặm đến cầu pháp mà Bồ Tát, pháp sư đem lòng ác, lòng sân, chẳng chịu truyền giới cho tất cả chúng sanh đó, phạm khinh cấu tội.
🔗41. Nếu Phật tử: khi giáo hoá người khởi lòng tin, thấy người muốn thọ giới, mình làm pháp sư dạy bảo phải dạy thỉnh hai thầy Hoà thượng, trưởng lão, hai thầy phải hỏi: “Ngươi có bảy tội ngăn không?” Nếu đương đời có bảy tội ngăn, thơi pháp sư không nên cho người đó thọ giới. Nếu không có bảy tội ngăn ấy thời được thọ. Bằng có phạm mười giới trọng phải dạy sám hối nơi trước tượng Phật, tượng Bồ Tát ngày đêm sáu thời tụng mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, tha thiết ân cần, lạy ba đời ngàn Phật, cầu đặng thấy tướng tốt. Tướng tốt đó là Phật đến rờ đầu, thấy hào quang, thấy hoa nở, các điềm tướng lạ liền đặng dứt tội. Như không thấy tướng tốt tuy sám hối cũng vô ích, song người ấy đương đời vẫn không đắc giới, nhưng được thêm căn lành thọ giới đời sau. Nếu phạm 48 giới khinh phải làm phép đối thú sám hối tội liền tiêu hết, không như 7 tội ngăn nói trên. Song ông thầy dạy bảo phải hiểu rõ tất cả trong giới pháp, nếu không hiểu kinh luật đại thừa, các tướng tội hoặc khinh, hoặc trọng, phải quấy cũng không hiểu nghĩa đế thứ nhất, tánh giống quen, tánh nuôi lớn, tánh giống tánh, tánh không hư, tánh giống đạo, tánh chánh pháp, trong đó bao nhiêu quán hạnh cao thấp mười thiền chi. Tất cả phép tu mỗi mỗi, không hiểu ý nghĩa trong phép ấy là gì, mà Bồ Tát vì danh lợi, vì tiếng khen, tưởng bậy, tham nhiều ham cầu đệ tử, dối nói hiểu thông tất cả kinh luật cho người cúng dường, đó là gạt mình, cũng gạt người nữa, hành vi như thế, mà cố truyền giới cho người, thời phạm khinh cấu tội.
🔗42. Nếu Phật tử: không nên vì lợi dưỡng, nói giới đại thừa của mười phương Phật, cho người chưa thọ giới Bồ Tát, và người ngoại đạo cùng người dữ nghe, trước kẻ tà kiến cũng không nên nói, trừ ra ông vua còn bao nhiêu người khác không nên nói, những người ác ấy, không thọ giới cuả Phật, kêu là súc sanh, đời đời sanh chỗ nào, không gặp được ngôi Tam Bảo, vô tâm như cây, như đá, nên gọi là ngoại đạo. Bọn người tà kiến, thế không khác khúc cây Bồ Tát đối trước người ác như vậy lại nói giới của bảy lớp Phật, thơi phạm khinh cấu tội.
🔗43. Nếu Phật tử: Tâm tín xuất gia thọ chánh giới của Phật, lại quyết đem lòng huỷ phạm chánh giới thời không hưởng tất cả cuả người đàn việt cúng dường cũng chẳng đặng đi trên đất và uống nước của vua ngàn quỷ lớn thường ngăn trước mặt, quỷ mắng là “Đại tặc” vào nhà cửa, thành ấp, quỷ thường quét dấu chân tất cả người đời mắng rằng:” Tặc trong Phật pháp”. Tất cả chúng sanh mắt không muốn ngó những kẽ phạm giới không khác súc sanh, y như khúc gỗ, nếu cố huỷ, phá chánh giới phạm khinh cấu tội.
🔗44. Nếu Phật tử: thường phải một lòng vâng giữ, đọc tụng kinh luật đại thừa, lấy da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tuỷ làm nước, chẻ xương làm viết, biên chép giới luật Phật, dùng những vỏ cây giấy tốt, tố tre hàng luạ, biên chép giữ gìn, thường dùng bảy báu hoa hương, vô giá, tất cả vật quý làm rương trấp đựng quyển kinh luật, nếu không như phép cúng dường, phạm khinh cấu tội.
🔗45. Nếu Phật tử: Thường đem lòng đại bi, vào các chỗ thành ấp, nhà cửa, thấy bao nhiêu chúng sanh, thơi phải bảo rằng, các người chúng sanh đều phải thọ Tam qui, Thập giới, hoặc thấy heo, ngựa, trâu, dê, cả thảy mọi loài, phải lòng tưởng niệm nói rằng: “ Súc sanh các người phải biết tâm Bồ Đề”. Bồ Tát vào tất cả chỗ núi rừng, sông ruộng, đều phải khiến cho tất cả chúng sanh phát tâm Bồ Đề. Bồ Tát ấy nếu không hết lòng giáo hóa chúng sanh, như vậy phạm khinh cấu tội.
🔗46. Nếu Phật tử: thường phải giáo hóa khởi lòng đại bi hoặc khi vào nhà đàn việt, quý nhơn trong tất cả người chẳng đặng đứng nói pháp cho người thế nghe, phải ngồi trên toà cao, nơi phía trước người thế mà nói. Ông pháp sư Tỳ kheo không được đứng dưới đất vì tứ chúng mà nói pháp. Nếu khi thuyết pháp, vị pháp sư ngồi toà cao hương hoa, cúng dường, tứ chúng nghe thơi ngồi dưới thấp, như hiếu thuận cha mẹ, kính vâng lời thầy dạy, như Bà La Môn thờ lửa, nếu pháp sư thuyết pháp không như vậy phạm khinh cấu tội.
🔗47. Nếu Phật tử: đã đem lòng chánh tín thọ giới của Phật hoặc vua, thái tử, bá quan, bốn bộ đệ tử, ỷ mình cao sang, phá diệt giới luật Phật, bày đặt quan chức, ngăn cấm bốn bộ đệ tử ta không cho xuất gia tu hành, cũng không cho dựng lập hình tượng, tháp Phật và kinh luật đặt chức thống quan, coi xếp tăng chúng, và bộ sổ ghi tên tăng chúng, Bồ Tát Tỳ Kheo, đứng dưới đất, còn người thế ngồi tòa cao, làm nhiều việc phi pháp chẳng khác nào như quân lính hầu vua, đầy tớ hầu chủ nhà. Bồ Tát chính phải thọ tất cả người cúng dường, mà trở lại làm kẻ sứ cho quan sái phép, sái luật, nếu vị quốc vương, bá quan hảo tâm thọ giới cuả Phật rồi, thời đừng tạo tội phá Tam Bảo, nếu cố làm việc phá pháp ấy, phạm khinh cấu tội.
🔗48. Nếu Phật tử: hảo tâm xuất gia, mà vì tiếng khen lợi dưỡng, nói lời cuả Phật cho vua chua bá quan nghe, hiếp đáp trói buộc Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, đệ tử thọ Bồ Tát giới, như cách ngục tù, như binh nô, khác nào như dòi trong mình sư tử, ăn thịt sư tử, không phải dòi ở ngoài mà ăn đặng, như vậy Phật tử tự phá Phật pháp, chẳng phải ngoại đạo thiên ma nào phá nổi, nếu thọ giới của Phật rồi, thì phải giữ gìn như thương con đẻ, như thờ cha mẹ, chớ nên huỷ phá. Bồ Tát nghe kẻ ngoại đạo, người ác dùng lời ác, chê huỷ giới của Phật khác nào 300 mũi giáo đâm chĩa vào tim, ngàn đao muốn gậy đánh đập vào mình. Thà chui vào địa ngục thọ khổ trăm kiếp, chứ không chịu nghe, ngươi dữ dùng lời ác chê phá giới cấm của Phật huống chi mình phá và làm gương bảo người phá, không lòng hiếu thuận, nếu cố phá đó phạm khinh cấu tội.
🔗Chín giới này cần phải học kỉnh lòng vâng giữ, các Phật tử 48 giới khinh này các người phải thọ trì các vị Bồ Tát quá khứ đã tụng, Bồ Tát vị lại sẽ tụng và Bồ Tát hiện tại nay đang tụng cần phải tụng, kính
🔗lòng vâng giữ.
🔗Các Phật tử lắng nghe mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh đây, ba đời chư Phật đã tụng, sẽ tụng, đương tụng, ta nay cũng tụng như vậy. Các ngươi tất cả đại chúng hoặc vua, vương tử, bá quan, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thiện nam tín nữ, thọ trì giới Bồ Tát phải giữ vững đọc tụng, giải nói biên chép quyển giới Phật tánh thường trụ, truyền khắp ba đời, tất cả chúng sanh, dạy hoài không dứt, đặng thấy ngàn Phật được ngàn Phật dìu dắt đời đời khỏi đoạ ba đường và tám nạn, thường sanh trong cõi Trời và cõi người.
🔗Ta nay ở dưới cội Bồ Đề này, dón bày giới pháp cuả bảy lớp Phật, các người đaị chúng phải một lòng học giới Ba La đề mộc xoa này, vui lòng vâng giữ làm theo.
🔗PHẦN PHỤ
🔗Pháp thập trụ (tức mười phát thú)
🔗1. Xã tâm
🔗2. Giới tâm
🔗3. Nhẫn tâm
🔗4. Tấn tâm
🔗5. Định tâm
🔗6. Huệ tâm
🔗7. Nguyện tâm
🔗8. Hộ tâm
🔗9. Hỷ tâm
🔗10. Đảnh tâm
🔗Pháp thập hạnh (tức mười trưởng dưỡng)
🔗1. Từ tâm
🔗2. Bi tâm
🔗3. Hỉ tâm
🔗4. Xả tâm
🔗5. Thí tâm
🔗6. Hảo tâm
🔗7. Ích tâm
🔗8. Đồng tâm
🔗9. Định tâm
🔗10. Huệ tâm
🔗Pháp thập hồi hướng (tức mười Kim cang)
🔗1. Tín tâm
🔗2. Niệm tâm
🔗3. Hồi Hướng tâm
🔗4. Đạt tâm
🔗5. Chơn tâm
🔗6. Bất thối tâm
🔗7. Đại thừa tâm
🔗8.Vô tưởng tâm
🔗9. Huệ tâm
🔗10.Bất hoại tâm
🔗Pháp thập địa
🔗1. Bình đẳng địa
🔗2. Thiên huệ địa
🔗3. Quang minh địa
🔗4. Dỉ nhiên địa
🔗5. Huệ chiếu địa
🔗6. Hoa quang địa
🔗7. Mảnh túc địa
🔗8. Phật hẩu địa
🔗9. Hoa nghiêm địa
🔗10. Nhập phật địa
🔗Pháp thập thiền định (tức mười pháp tam muội lớn):
🔗1. Phổ quang tam muội
🔗2. Diệu quang tam muội
🔗3. Thứ đệ biến vảng chư Phật quốc độ tam muội
🔗4. Thanh tịnh thân tâm hành tam muội
🔗5. Tri quá khứ trang nghiêm tạng tam muội
🔗6. Trí quang minh tạng tam muội
🔗7. Liễu tri nhất thế giới Phật trang nghiêm tam muội
🔗8. Chúng sai biệt thân tam muội
🔗9. Pháp giới tự tại tam muội
🔗10. Vô ngại luận tam muội
🔗(Chữ tam muội đồng nghĩa với chữ chánh định)
🔗Pháp thập nhẫn:
🔗1. Âm thịnh nhẫn
🔗2. Thuận nhẫn
🔗3. Vô sanh pháp nhẫn
🔗4. Như huyền nhẫn
🔗5. Như diên nhẫn
🔗6. Như mộng nhẫn
🔗7. Như hướng nhẫn
🔗8. Như ảnh nhẫn
🔗9. Như hóa nhẫn
🔗10. Như không nhẫn
🔗Tám thứ ruộng phước:
🔗1. Kinh Phật
🔗2. Kính Thánh nhơn
🔗3. Kinh Hòa thượng
🔗4. Kỉnh Trưởng lão
🔗5. Kinh Tăng ni
🔗6. Kinh cha
🔗7. Kinh mẹ
🔗8. Kỉnh nuôi người bệnh
🔗Mười hai bộ Kinh Phật:
🔗1. Khế Kinh
🔗2. Kỳ dạ hay trùng tụng
🔗3. Già đà
🔗4. Nhơn duyên
🔗5. Bản sự
🔗6. Bản sinh
🔗7. Vị tằng hữu
🔗8. Lời thí dụ
🔗9. Luận nghĩa
🔗10. Vô vấn tự thuyết
🔗11. Tỳ Phật lược
🔗12. Thọ ký
🔗Chư Phật tử muốn biết về những chi tiết trong Phẩm Bồ Tát giới, cần nên xem Kinh Phạm Võng.
🔗Hết Phẩm Thứ 34
🔗Nam Mô Thiền Sư An Lạc Hạnh
Phẩm trước Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 33 Phẩm tiếp Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 35