🔗Liên Hoa Pháp Giáo
🔗PHẨM THỨ 30
🔗ĐẠI Ý KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
🔗Vì lợi ích chung cho trăm họ mong cầu chánh pháp nhãn tạng Như Lai, nên bần đạo xin phương tiện tóm lược rút đại ý về Kinh Thủ Lăng Nghiêm, hầu giúp duyên cho người thực hành chánh đạo.
🔗Vẫn biết rằng khi nói đại khái về Thủ Lăng Nghiêm Kinh nó không đủ những lý sự sâu rộng mà Phật đã thuyết từ ngàn xưa để cung ứng cho chúng sanh. Nhưng dầu sao nó cũng thể hiện được sự mầu nhiệm chơn thật của đạo pháp mà bao người đã phải rối trí điên đầu vì chạy theo văn nghĩa. Vả lại từ trước đến nay có lắm người vì học hiểu suông nơi văn nghĩa đại thừa pháp tạng đã vội rằng: mình được liễu thông đắc nhập, nhưng thật ra chẳng có chút gì để gọi là....đạo pháp cả.
🔗Thế thì nơi đây cũng là một cơ hội quý báu bằng vàng để cho những ai lầm lạc được xác nhận lại sự thật tại của nó hầu dứt mối nghi ngờ mà tiến tu giải nghiệp:
🔗Hỏi: Quyển Thủ Lăng Nghiêm Kinh to lớn lý nghĩa sâu rộng mà chỉ nói tóm lược, e khi thiếu nghĩa lý của kinh tạng, mà chúng sanh hậu thế đâm ra nghi ngờ chánh pháp của Như Lai chăng?
🔗Đáp: Tuy kinh Thủ Lăng Nghiêm to lớn lý nghĩa sâu rộng, chớ không ngoài cái ý dạy cho chúng sanh ngộ nhập chánh pháp nhãn tạng, và hành trì theo sự thấy biết ấy để được đến nơi rốt ráo của diệu quả Bồ Đê.
🔗Vả lại, quyển Thủ Lăng Nghiêm kinh có đủ sự lý viên dung vì đó là thật pháp của đức Như Lai, mà nếu đem ra giải nghĩa triết lý từng chi tiết một, thời chỉ làm cho sai lệch cái ý mầu nhiệm của kinh tạng. Mà nếu sai lệch cái ý mầu nhiệm của kinh tạng, thời không thể hiện được cái thật tướng của diệu quả Bồ Đề. Không thể hiện được cái thật tướng. Thời ví dầu có giải nghĩa triết lý cho nhiều chăng cũng chỉ vô bổ đối với chúng sanh mong cầu chánh đạo.
🔗Vì lý do đó nên nơi đây chỉ rút sơ lược cái đại ý của kinh Thủ Lăng Nghiêm để giúp cho người đi tìm mối đạo dễ bề nhận thức mà thực hành, hầu tránh khỏi sai lầm mà chấp theo văn tự... Lại nữa những lời đại ý sau đây là để chỉ điểm then chốt trong bộ Thủ Lăng Nghiêm, chứ những chi tiết trong kinh, người hành đạo cũng cần xem qua để hiểu biết sâu rộng về lời Phật dạy vậy.
🔗Phẩm này chỉ nói tóm lược ba đoạn trong bộ Thủ Lăng Nghiêm kinh là:
🔗 ● Đoạn I: Định nghĩa bốn chữ Kinh Thủ Lăng Nghiêm, và diễn ý Phật bác bảy chỗ tâm mà ông A Nan đã nói.
🔗 ● Đoạn II: Diễn ý về pháp tu nhĩ căn viên thông của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm.
🔗 ● Đoạn III: Diễn ý Phật thuyết chú Lăng nghiêm.
🔗Đoạn I:
🔗Định nghĩa bốn chữ Kinh Thủ Lăng Nghiêm và diễn ý Phật bác bảy chỗ tâm mà ông A Nan đã nói. Vậy thì Kinh Thủ Lăng Nghiêm là gì?
🔗Kinh là phân tách bày vẽ. Thủ là đầu dây mối nhợ. Lăng là lăng tẩm, là nơi quý báu. Nghiêm là trang nghiêm, thanh tịnh, vắng lặng.
🔗Kinh Thủ Lăng Nghiêm là lời phân tách bày vẽ đầu dây mối nhợ để chúng sanh nương đó mà đi, hầu tiến đến nơi quý báu trang nghiêm, thanh tịnh, vắng lặng của thế giới Tây phương cực lạc.
🔗Kinh Thủ Lăng Nghiêm khi vô đề đức Phật Thích Ca đã bảy lần hỏi ông A Nan “Tâm ở Đâu? ” Ông A Nan đã trả lời: “Tâm ở trong thân, ở ngoài thân, tâm nép ở mắt, cả trong lẫn ngoài, tâm ở chỗ tuỳ hiệp, ở khoảng giữa, tâm ở chỗ vô trước Phật đều bác cả.” Ông A Nan theo lý sự của Kinh Thủ Lăng Nghiêm mà Phật phương tiện làm người đối thoại đây là vì A là chữ đứng đầu tất cả chữ, Nan là khó.
🔗Nghĩa là ý Phật muốn nói rằng, chúng sanh từ địa vị phàm phu muốn tu hành chứng thánh quả và bước sơ khai đi vào thế giới của tự tánh rất khó mà ngộ đặng. Bởi chúng sanh đã bị màn vô minh vây phủ từ vô lượng kiếp nhẫn lại đây. Nên khi chỉ ra sự thật tại của nó, khó mà chấp nhận, vì trí huệ đã quá lu mờ điên đảo, chỉ duyên theo vọng tưởng, chấp chặt nơi ngũ uẩn lục trần sắc thinh hương vị, quên mất căn xưa xa rời bổn tánh, nô đùa với danh lợi tiền tình, để cho lòng tham muốn kéo lôi mải miết.
🔗Tại sao Phật lại bác bảy chỗ tâm mà ông A Nan đã nói? Vì lòng từ bi vô lượng nên Phật phương tiện hiển vọng bày chơn để chỉ cho chúng sanh biết rằng: những cái tâm vọng sanh và năng duyên theo các cảnh sắc pháp vô chừng đó chỉ là giả tâm chớ không phải là thật tâm, thật ta, chính ta, bởi cớ sao? Vì nếu thật tâm, thật ta, chính ta thời cái đó nó vốn không sanh, không diệt, không trong, không ngoài, không có, không không nhẫn đến sắc pháp nó thảy đều không.
🔗Nghĩa là: Nơi đây ý Phật đã nói vào Tạng Thánh Như Lai hay cũng gọi là chánh pháp Nhãn Tạng của Như Lai mà ba đời chư Phật đều nương đó an trụ thực hành, để đắc diệu quả chánh đẳng chánh giác. Lại nữa, khi phá chấp bảy chỗ tâm mà ông A Nan đã nói chính là Phật đã dùng đại trí huệ soi qua bên kia bờ giác, để cho tứ chúng nương theo oai thần ấy mà trực nhận được tự tánh thanh tịnh của mình, và an trụ nơi tự tánh ấy mà thực hành hầu đưa tất cả tình ý thức trí phản bổn hườn nguyên trở về nơi thế giới trang nghiêm vắng lặng quý báu của bổn tâm diệu giác chơn không.
🔗Thật vậy, trong buổi sơ khai chúng sanh dễ gì ngộ nhận được tự tánh để mà đắc đạo quả Bồ Đề, nên sau đó Phật đã phương tiện giải bày. Bổn thể của chúng sanh vốn tự nhiên, y nhiên, vắng lặng, bình đẳng vô tranh, còn cái thấy nghe, hiểu biết, ngửi nếm, rờ tưởng sắc pháp nói chung đều do từ diệu minh chơn tâm mà sanh ra tất cả.
🔗Những cái thấy biết sanh diệt là thấy biết điên đảo, vọng giả, còn cái tự tánh thanh tịnh của chúng sanh nó vẫn hay thấy biết nghe hiểu tồn tại không hề tan mất. Rồi ngài dạy pháp tu nhĩ căn viên thông của Bồ Tát Quán Thế Âm.
🔗Đoạn II:
🔗Pháp tu của Bồ Tát Quán Thế Âm, nghe nghĩ và tu, nghĩa là ý Phật dạy rằng phải phát tâm hành đạo Bồ Tát, dụng trí huệ hồi quan, quán xét nơi thế giới âm thầm sâu kín của nội tâm và phản chiếu để soi nhìn thế giới của tạng tánh. Thường hay hay nghe, nghe tiếng nói của chư Phật Thánh và của chúng sanh nội tâm lẫn ngoại tướng mà suy ngẫm, vừa xét, nghĩ phân biệt vừa tu hành để đạt đến chỗ thế giới trang nghiêm quý báu chơn thật của nó.
🔗Hơn nữa hay nghe mà không duyên theo cảnh, hay suy gẫm mà không móng tâm sanh khởi, hay tu mà không lìa tự tánh thanh tịnh, thì tuy là nói có nghe nghĩ và tu chứ kỳ thật cái nghe nghĩ và tu ấy chẳng có sắc pháp chi cả, mà nếu không có sắc pháp thời gọi là có hay không đều sai lâm.
🔗Vả lại người hành được như vậy, thời gọi là tu chỗ nhứt một, hành chỗ không hành, đắc chỗ không đắc. Tiếp đến, Phật thuyết chú Lăng nghiêm để hộ niệm cho người hành đạo.
🔗Đoạn III:
🔗Phật Thuyết Chú Lăng Nghiêm. Tiếp theo đây nhắc lại Phật Thuyết Chú Lăng Nghiêm cứu ông A Nan bị Ma Đăng Già Nữ bắt là ý Phật dạy cho chúng sanh biết rằng đường tu hành nhiều nỗi gốc gai hầm hố, bọn ma vương nội tâm là lòng tham muốn và ma vương ngoại tướng là kẻ giả dối, tà nguy, tham dâm, chúng thường hay quấy nhiễu bắt buộc người tu phải lìa bỏ ngôi vị chánh giác của mình để làm con cháu và tay sai của chúng, để chúng dễ bề điều khiển làm việc tà trược.
🔗Nên người tu hành mỗi khi gặp phải trở lực ma vương quấy phá, hay là nghiệp chướng tội lỗi chi chi, dầu cho lớn hay nhỏ mà thành tâm sám hối ăn năn và trì chú Lăng Nghiêm, thì sẽ có chư vị Kim Cang bát bộ đến gia hộ sẽ được dứt tội chướng ngay.
🔗Lại nữa trên đầu đề kinh Lăng Nghiêm Phật đã bảo ông Đại Trí Văn Thù đem chú cứu A Nan là ý Phật dạy rằng tuy chư Bồ Tát có đại trí huệ soi thấu bờ giác, chớ cũng còn non kém lắm, phải cần có chú Lăng Nghiêm yểm trợ, thời trí huệ ấy mới vững chắc và đủ nghị lực mà phá phiền não, nghiệp chướng vô minh do nội tâm lẫn ngoại tướng gây ra.
🔗Hỏi: Tại sao chú Lăng Nghiêm lại có một năng lực mạnh mẽ như thế?
🔗Đáp: Vì chú Lăng Nghiêm là những câu chú bí mật do sự đắc nhập pháp tạng của Phật, phương tiện bày khai để hộ niệm cho chúng sanh trên đường giác ngộ giải thoát vậy. Tóm lược quyển Thủ Lăng Nghiêm Kinh là một quyển kinh khai thị chánh pháp nhãn tạng của chư Phật ba đời, rất thậm thâm vi diệu mà tất cả chúng sanh muốn tu hành đắc quả chánh đẳng chánh giác cần phải nương về.
🔗Quyển kinh Thủ Lăng Nghiêm Là một quyển kinh đại thừa thật giáo rất hay ho mầu nhiệm, là tạng bí thuyết khai nẻo Bồ Đề của đức Phật Thích Ca xưa kia chỉ dạy cho hàng đại trí phát tâm vô thượng nương đó thực hành.
🔗Quyển kinh Thủ Lăng Nghiêm là chìa khoá kho tàng pháp bửu vô giá mà ai ai cũng cần học hiểu để đưa mình đến nơi cao vợi của Niết Bàn cực lạc vô sanh hết..
🔗Sau đây là phần phụ do ông Trực Văn hỏi.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, theo bốn chữ Kinh Thủ Lăng Nghiêm mà sư đã giải ở đoạn đầu, nghe có hơi khác lạ với văn nghĩa thông thường đặc biệt là chữ Lăng. Nếu nói lăng tẩm thời đó là ngôi mộ, mà ngôi mộ thời làm sao gọi là nơi quý báu được?
🔗Xin sư giải mở giùm chỗ nghi vấn ấy cho trò được nghe hiểu thêm, đồng thời để chúng sanh ở mai hậu khỏi phải thắc mắc nghi ngờ cho rằng lời diễn thuyết như trên là thiếu căn bản.
🔗Đáp: Hay lắm. Chỗ nghi ngờ của ông phải lắm, nhưng tôi hỏi lại ông một điều, là ông có hiểu cái lý ý của Phật hiện Bửu Tháp trong quyển Diệu Pháp Liên Hoa Kinh chưa? Nếu chưa hiểu thời chậm rãi truy tầm đừng vội vàng phê phán mà thêm lỗi. Bằng hiểu rồi, thời tôi giải chữ Lăng Tẩm trên đây nó đồng nghĩa với chữ Bửu Tháp trong diệu pháp vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như người có trí huệ soi thấu bờ giác rồi, mà còn cần phải thực hành để được phản bổn hườn nguyên là nghĩa thế nào? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Vì thuở ban sơ tình ý thức trí đồng trụ nơi bờ giác nhưng bởi vô minh khởi niệm sai lầm lại qua bến mê, mà bây giờ được biết bờ giác rồi, thời trở về ngôi vị cũ, nên gọi là phản bổn hườn nguyên vậy. Vả lại người có trí huệ soi thấu bờ giác cũng thí dụ như: nhằm ban đêm trời tối, với cặp mắt thường người kia đứng bên này sông, không thể ngó xuyên qua những
🔗lớp sương mù của màn đêm bao phủ để thấy bờ bên kia sông. Nhưng trong nhứt thời ấy người kia lại có được cây đèn pin rọi thấu qua bờ bên kia sông, và tuy là có ngọn đèn rọi được thông suốt bờ kia, chớ nào phải đã đi qua đến chốn rồi.
🔗Nên người có trí huệ soi thấu bờ giác rồi là cần phải lấy đó làm mục tiêu để thực hành, hầu đưa tình, ý, thức, trí đồng qua bờ giác (tức phản bổn hườn nguyên). Cũng dụ như kẻ kia cầm đèn soi thấu qua bên kia sông rồi, là cần phải lấy bờ sông đó làm chuẩn đích và nương theo ánh sáng của đèn mà vừa lội vừa rọi để được đến chốn khỏi phải sai lầm. Có lội qua bờ kia mới được an vui nghỉ khoẻ, chớ không lội qua thời sao gọi là nhập đạo đặng.
🔗Tóm lại: Lời nói người có trí huệ soi thấu bờ giác rồi mà còn cần phải thực hành để được phản bổn hườn nguyên là để nhắc nhở cho hành giả hiểu thêm rằng: Trí huệ soi thấy bờ giác chỉ mới gọi là ngộ đạo, và còn phải thực hành nữa mới nhập đạo đặng. Có ngộ mới biết nơi nhập và cần phải nhập mới có toàn chơn vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, người hành trì theo chánh pháp làm sao để biết được rằng mình đã thâm nhập cõi đạo và đắc một quả trong bốn quả đạo của Phật. Xin sư chỉ dạy?
🔗Đáp: Người hành chánh pháp mỗi khi đắc được một quả trong bốn quả (tức La hán. Duyên giác, Bồ tát, Như Lai) thời cảm thấy tâm hồn được thuần hoà, an nhàn, tự tại, thông dụng. Tối ngày thích nơi vắng lặng, trí huệ mở thông, am tường huyền cơ vận chuyển, điển lực gom về, ngươn thần tích tựu nơi tam tinh (tức chỗ hai chân mày giáp lại), đó là những triệu chứng mình đã đạt được một quả trong bốn quả đạo và dĩ nhiên sau đó đều có Thiên cơ ấn chứng vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại Sư: Như đệ tử nghĩ tâm và trí như ngọn đèn phát ra yến sáng, ngọn đèn dụ cho tâm, trí dụ cho yến sáng, tâm là thể, trí là dụng, chẳng phải hai, chẳng phải một, như vậy có đúng không, xin sư chỉ dạy?.
🔗Đáp: Ông lầm rồi. Nếu nói tâm là thể, trí là dụng, dụ như ngọn đèn và yến sáng của ngọn đèn, thời cùng trong một lúc, ai nói cái gì ông cũng nghe và sau đó nhớ hết chớ? Bởi tâm vốn tự nhiên, như nhiên vắng lặng, thời trí phải y nhiên bình đẳng, nhưng sao lại có khi ông đang suy nghĩ chuyện gì đó, thời lúc bấy giờ có kẻ khác đến nói ít câu, ông không chú ý, rồi một lát sau ông quên mất đi.Nếu nói tâm là thể, trí là dụng theo ông nghĩ, thời chẳng hoá ra tâm ông là tâm vọng hay sao? Mà nếu nó là tâm vọng thời cũng không phải ghép cái trí vào mà cho là cái dụng của vọng tâm ấy đặng.
🔗Giả dụ ngọn đèn là vật tự nhiên, thời yến sáng đồng thời phải sáng đều bốn phía (theo nghĩa cùng một lúc phải nghĩ được tất cả và soi thấy mọi việc). Nhưng ông thấy ông có làm được như vậy chăng? Lẽ dĩ nhiên là không được rồi, vì ông quán biết cái này rồi lần lần mới quán biết cái kia, mà nếu có lần hồi như vậy, thời tâm và trí nào phải thể và dụng tương sanh như ngọn đèn và yến sáng của ngọn đèn. Hơn nữa nếu nói tâm là thể, trí là dụng, thời còn tâm là còn trí, mà còn trí là còn biết, nhưng sao khi ông ngủ, ông lại hết biết đi vậy. Không lẽ khi ông ngủ, tâm ông đã mất vì ngủ và lúc thức có tâm trí lại. Thời quyết chắc tâm trí có lại không phải là tâm trí đã qua, không phải là tâm trí đã qua thời ông không thể nhớ chuyện bữa trước, nhưng đằng này ông lại nhớ chuyện bữa trước kia mà!
🔗Thế nên ông phải biết rằng Tâm là bổn thể chơn không, tự nhiên, vắng lặng, thanh tịnh, không có chết sống. Trí là cái năng soi của tâm và chẳng bao giờ rời tâm. Tâm dụ cho hư không. Trí dụ cho mặt nhựt. Mặt nhựt thời thường soi sáng nhưng có qua lại, đến đi, nhưng dầu có qua lại, đến đi cũng không rời hư không đặng. Trí năng soi phân biệt vào một việc mà không nhớ đến chuyện khác. Cũng dụ như ánh mặt nhựt khi soi phía bên này quả địa cầu, đồng thời không thể soi bên kia ánh địa cầu vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như nói mặt nhựt đang soi bên này quả địa cầu, đồng thời không thể soi bên kia quả địa cầu thì sao lại gọi là toàn giác. Xin sư từ bi chỉ dạy?
🔗Đáp: Tuy đồng thời trí không soi đặng hai bên nhưng trong thời gian hành đạo, trí huệ đã quán soi khắp chỗ và ý đã nương nơi trí huệ mà hiểu hết khắp chỗ và tuy là sau sự hiểu biết khắp chỗ trong nhứt thời đó, trí không soi chứ cái hiểu biết nó đã có sẵn rồi.
🔗Hỏi: Xin sư thí dụ.
🔗Đáp: Cũng như người thợ sửa máy bơm nước, tuy không thấy máy mà nghe tiếng nổ rát quá thì hiểu biết chắc rằng vì lửa già nên nổ rát vậy.
🔗Hỏi: Xin sư thí dụ lần nữa.
🔗Đáp: Cũng như người kia sửa xe đạp quen rồi, tuy không thấy xe, mà chỉ nghe nói, xe sao mà dây sên đạp nó quay tuông chớ không bắt bánh thời người kia hiểu biết chắc rằng cái líp nó trật con chó nên không bắt bánh vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như nói trí không soi mà vẫn hiểu biết thời chẳng hoá ra cái trí và sự hiểu biết là hai hay sao? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Chẳng phải hai, chẳng phải một. Cũng một mà lại cũng hai, vì sao? Vì trong trí đã sẵn có ý, trong ý có sẵn hiểu biết, phân biệt, đó là lời phân tách chi tiết, nghe dường như có hai, ba, bốn, nhưng rốt cuộc tất cả thẩy đều do từ chơn tâm mà sanh ra ứng đối trong mỗi lúc thôi, chứ chẳng có một, hai, ba, bốn gì cả.
🔗Nên cũng có thể tạm gọi nôm na bằng một tiếng chung rằng tâm hiểu biết phân biệt hay trí hiểu biết phân biệt, hay ý hiểu biết phân biệt cũng đặng.
🔗Nam Mô Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Bồ tát
🔗Hết phẩm thứ 30
🔗Nam Mô Thiền Sư An Lạc Hạnh