🔗Liên Hoa Pháp Giáo
🔗PHẨM THỨ 29
🔗HUYỀN CƠ LÝ NHIỆM
🔗Một bữa nọ tại Ngôi Đạo Tràng Tịnh Xá Liên Hoa có ông thiện nam pháp danh là Thiện Hạnh đến viếng Phật thăm đại sư và cầu học đạo pháp. Sau đây là câu hỏi của ông Thiện Hạnh và lời giải đáp của đại sư.
🔗Hỏi: Bạch đại sư, như những bậc Thánh Phật ra đời hoá độ chúng sanh, các ngài thường giả xưng điên khùng là ý chi vậy? Xin Đại sư chỉ day.
🔗Đáp: Các bậc vĩ nhân ra đời độ chúng sanh mà thường hay giả nói điên khùng là vì các ngài nhận thấy rằng: chúng sanh vì bị vô minh che án trí giác, nên sự lầm chấp sâu nặng hiểu biết chút ít đã vội rằng đầy đủ, giỏi hay, không cần học ai nữa. Do đó Phật Thánh xưng điên khùng là để đối chiếu với những tư tưởng cố chấp ngã mạn ấy, đồng thời để cho đời hiểu thêm rằng: những sự thật của chân lý mà hạng phàm phu không bao giờ thấu triệt, chỉ trừ ra bậc toàn giác mà thôi.
🔗Hỏi: Bạch đại sư:, như Phật Thánh, các ngài có đem cái khôn và cái dại ra để dạy đời không? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Nếu Phật Thánh đem cái khôn mà dạy cho đời thời đời chúng sanh sanh tánh tự cao ngã mạn, bằng đem cái dại mà dạy cho đời thời đời càng thêm u tối vô minh. Do đó giữa khôn và dại là pháp tương đối của thế gian xuyên qua bởi trí. giác của xuất thế gian, mà nếu nó có tương đối thời tất không chơn thật và tồn tại. Bởi lẽ có khôn thời có dại, hay nói có dại thời còn khôn, khôn dại, dại khôn không thể dạy cho chúng sanh đi đến con đường rốt ráo đặng, nên Phật Thánh chẳng dạy chúng sanh đôi lẽ ấy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, nếu Phật Thánh không dạy cho chúng sanh cái khôn và dại, thời chúng sanh làm sao có đủ chánh kiến mà nhận ra sự thật của chân lý của đạo và đời?
🔗Đáp: Bởi khôn và dại không thể sanh ra được chánh tri kiến, nên chư Phật Thánh không dạy cho chúng sanh. Bởi trí giác cùng ý thức là pháp xuất thế gian xuyên qua hành động là trở về thế gian, nên nếu dạy pháp thế gian thời làm sao nhận ra tuyệt đối đặng.
🔗Cũng thí dụ như: Chúng sanh đang mang thân xác tứ đại này, phải chịu ảnh hưởng trong bốn thời kỳ: sanh, già, bệnh, chết, đó là pháp thế gian rồi, chính những chúng sanh ấy lại có trí hiểu ra rằng: linh hồn không có chết, đó là pháp xuất thế gian.
🔗Nếu Phật Thánh dạy cái dại cho chúng sanh, thời chúng sanh chấp chặt cái thân tứ đại phải chết, bằng đem cái khôn dạy cho chúng sanh, thời chúng sanh chấp chặt linh hồn không chết. Cái chết và cái không chết chúng sanh có thể nhận được, chớ cái không chết mà chết, không sống mà sống hay nói: sống mà như chết, chết mà như sống, chúng sanh làm sao hiểu nổi, bởi cái đó đã ngoài sắc pháp của thế gian và xuất thế gian rồi.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, vậy chớ Phật Thánh dạy cho chúng sanh cái gì để được hiểu ra sự thật của chân lý của đạo và đời? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Vì thương đời nên Phật Thánh chỉ đem cái rốt ráo ra để chỉ dạy cho chúng sanh thôi, mà cái rốt ráo ấy hiển hiện trước mắt không xa lạ, không cầu kỳ, không phức tạp, đó chính là cái...”biết”
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, vì sao Phật Thánh chỉ dạy có cái “biết” không, mà chúng sanh có thể đi đến con đường rốt ráo đặng? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Bởi cái biết là cái trung gian giữa khôn và dại. Ngoài cái biết có ý sanh ra mọi việc, trên cái biết có trí giác quán soi, nên hễ trí giác quán soi đến đâu thời cái biết hiện ra đến đấy.
🔗Trí ý cũng thí dụ như bóng với hình, hình đi là bóng đến, bóng lại là hình theo, không thể tách rời đặng.
🔗Còn cái giác và biết cũng dụ như lửa và khói, lửa đến đâu là khói sanh ra ở đó, lửa và khói chẳng phải hai, chẳng phải một.
🔗Tuy nhiên Phật Thánh không dụng cái khôn và dại mà dạy chúng sanh, nhưng trong cái biết nó đã có sẵn khôn và dại, nên Phật Thánh dụng cái biết mà dạy cho chúng sanh, đồng thời uyển chuyển cái biết thành khôn và dại trong mỗi lúc để tuỳ duyên phổ tế quần sanh đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng dầu cho các ngài có uyển chuyển cái biết ra khôn và dại chăng thời đó chỉ là một phương tiện độ thế hay cũng gọi một phương cách đối xử với đạo và đời trong mỗi lúc, chớ các ngài không bao giờ chấp là khôn hay dại, tối hay sáng, vì các ngài đã biết quá rõ ràng rằng: pháp vốn không sanh, tình chẳng thật có, chúng sanh thời không có tự tánh tất cả chỉ là diệu dụng của cái “biết, giác” cùng bản thể chơn tâm sanh ra mà thôi.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như sự mưa nắng do cơ tạo hóa biến sanh, hay là do một đấng thần linh nào làm ra, xin sư từ bi chỉ dạy?
🔗Đáp: Theo luật tuần hoàn thời mưa nắng là do cơ tạo hóa biến sanh, chớ chẳng phải riêng một đấng thần linh nào làm ra cả.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như trong sự tích ghi lại, thuở xưa nhằm khi hạn hán, đức vua cùng quan dân đặt bàn cầu khẩn, thế là được mưa, điều đó có hay không, xin sư từ bi chỉ dạy?
🔗Đáp: Đó là lẽ đương nhiên phải có, như ở đoạn trước tôi đã nói. Vì sao? Bởi khi thời tiết bất hoà không thông, nên mưa nắng cũng do đó mà tăng lên hay giảm xuống, mới có những cuộc hạn hán hay nước dâng, và vì lòng thành của nhà vua cùng quan dân khấn đảo, chấn động đến các đấng thiêng liêng, nên các ngài mới dùng sức thần thông huyền diệu làm cho gió thổi mạnh, khí dương hạ thấp phản chiếu vào đất nước, và đất. nước mới bốc hơi nương gió bay lên làm mưa đổ xuống. Sự vận chuyển ấy cũng ví như một thau nước đầy đem ra phơi nắng ngoài trời cho khô cạn, thời phải tốn một thời gian là năm hoặc sáu ngày. Nhưng vì muốn cho mau khô, nên người chủ mới ra quạt, và nhờ nhiều người cùng quạt thau nước, thế là chỉ có một hoặc hai ngày là thau nước đã cạn ngay.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như theo lời sư dạy, thời những cuộc nước dâng hay hạn hán là không phải Trời Phật làm ra sao? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Sở dĩ có những cuộc hạn hán hay nước dâng là do thời tiết bất hoà, gió máy không thông sanh ra, chớ lòng từ bi của Phật Trời thương xót chúng sanh không hết, có đâu lại làm ra các lẽ ấy để hại chúng sanh.
🔗Hơn nữa, sở dĩ có những cuộc hạn hán nước dâng là do tâm hồn chúng sanh quá tham ác trược nhơ, nóng nảy, xấu xa, cộc cằn, thô lỗ mới làm cho thời tiết bất hoà, gió máy không thông, chớ như tâm hồn chúng sanh trong sạch thuần hòa chơn chất hiền lương nhã nhặn thời đâu có những tai hại như trên. Sự ảnh hưởng tâm tánh của chúng sanh đối với luật tuần hoàn như: Tâm tánh chúng sanh quá hung ác trược nhơ sanh ra gai gốc độc hại trong quả địa cầu. Tâm tánh chúng sanh quá thô lỗ cộc cằn, sanh ra nước dâng
🔗lụt lội. Tâm tánh chúng sanh quá mơ tưởng về gió trăng ân ái sanh ra mưa gió dầm dề. Tâm tánh chúng sanh quá tham muốn và uất hận sanh ra nắng lửa gắt gao hạn hán.
🔗Bởi vì lòng ham muốn và uất hận quá độ nó sanh ra nóng nảy, sự nóng nảy trong tâm nó sẽ biểu lộ ra bên ngoài, làm tăng thêm sức nóng của khí dương.
🔗Lòng mơ tưởng về gió trăng ân ái quá độ nó sanh ra mưa gió. Sự mưa gió trong tâm, nó sẽ biểu lộ ra bên ngoài làm tăng thêm sức lạnh của khí âm. Lòng cộc cằn thô lỗ quá độ, nó sanh ra độc hại, sự độc hại trong tâm nó sẽ biểu lộ ra bên ngoài làm tăng thêm các thứ gai gốc ác hung.
🔗Tóm lại: Những tai nạn hạn hán nước dâng, là do nơi lòng người chiêu cảm mà có chớ Phật Thánh không bày ra các lẽ ấy để hại chúng sanh bao giờ.
🔗Tuy nhiên cũng có khi vì chúng sanh gây ra nhiều tội ác thái quá, các đấng thiêng liêng mới tùng theo đó mà cho hưởng quả xấu, nhưng sự cho hưởng quả xấu ấy chỉ trong một phạm vi cá nhân theo luật lệ thông thường, chớ chẳng bao giờ gây tai hoạ chung quanh cho tập thể mà trong đó có những người vô tội.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như đệ tử nhớ hôm trước sư giảng đạo với ông Giáo sĩ ở Tây Ninh là rồng không có lấy nước làm mưa còn hôm nay sư lại nói có các đấng thiêng liêng vận chuyển làm mưa là nghĩa làm sao? Xin sư giải mở giùm chỗ hoài nghi ấy cho đệ tử được nghe!
🔗Đáp: Hôm trước, tôi có nói với ông Giáo sĩ là rồng không lấy nước làm mưa là vì căn cứ vào luật tuần hoàn mà nói. Bởi ông giáo sĩ đã hỏi câu hỏi ngoài cái luật tuần hoàn nên tôi phải đáp đối chiếu lại trong luật tuần hoàn đặng cho nó hiển ra cái lý chơn thật ở khoảng giữa. Còn hôm nay nói có các đấng thiêng liêng vận chuyển làm mưa, là vì chiếu theo cơ tạo hoá, lý âm dương của trời đất, mà giảng nói phân tách sâu rộng cho ông được tận tường gốc ngọn đó thôi.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, vì sao mỗi năm có bốn mùa xuân hạ thu đông? Xin sư từ bi chỉ dạy.
🔗Đáp: Vì theo lý tuần hoàn của cơ tạo hoá, thời âm thịnh là dương suy, dương thịnh là âm giảm, những ở khoảng giữa của sự suy thịnh có một trạng thái quân bình không hơn không kém. Cũng thí dụ như cái cần bàn có hai dĩa, hễ bên phải đưa lên là bên trái hạ xuống, Nhưng mỗi khi lên xuống là nó phải trở lại trạng thái thăng bằng, rồi mới vượt về một phía vậy. Lại cũng thế. Vì cơ tạo hoá có đổi xoay nên các bậc Thánh Triết mới phương tiện biệt lập thành danh sắc để chỉ dạy cho chúng sanh tận tường chân lý, chớ kỳ thật lý tuần hoàn nó đã như vậy và như vậy chớ chẳng có danh sắc chi cả.
🔗Các ngài phương tiện rằng: dương tăng và âm giảm quá mức thăng bằng là mùa đông. Dương hạ xuống mức thăng bằng và âm tăng lên mức thăng bằng là mùa xuân. Rồi âm tăng dương giảm quá mức thăng bằng là mùa hạ. Âm giảm dương tăng trở lại mức thăng bằng là mùa thu.
🔗Tóm lại: Sở dĩ mỗi năm có bốn mùa biệt lập là do quý vị Thánh Triết chiếu theo cơ tạo hoá lý âm dương mà đặt tên để dạy đời vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, trong Sấm giảng của ông sư vãi bán khoai, ông Huỳnh Giáo chủ, ông Ba Thới có đoạn nói: Sau lập đời thượng cổ người sống muôn tuổi, nước sông thuận dòng chảy xuôi, không ròng, không lớn, thời tiết chỉ có hai mùa xuân và thu, ban đêm cũng như ban ngày, mặt nguyệt chiếu sáng luôn luôn, chớ không có tối sáng như rằm hay ba mươi lúc này, điều đó có hay không và lý nghĩa ra sao? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Theo cơ tạo hoá, thời cái gì có sanh tất có diệt, có sáng là có tối, có âm thời có dương, có lên thời phải có xuống, đó là luật tuần hoàn từ vô thuỷ đến vô chung thảy đều y như vậy..
🔗Còn theo Sấm giảng đã nói, đó là diễn tả một thế giới Thiên đường Phật quốc vô hình của thế giới nội tâm do đức Di Lặc ra đời thành lập, nhưng thay vì chỉ ngay thế giới vô hình của nội tâm, các vị Thánh triết tiền bối lại tả cái cảnh trang nghiêm của thế giới ấy quá thực tế (dường như trước mặt) nên đời lầm tưởng cho là thế giới hữu hình này.
🔗Tuy nhiên mặc dù không phải thế giới hữu hình này chăng! nhưng giữa sự và lý cũng phải song song với nhau mới thể hiện được cái chân lý bất diệt, mà bao người đã và đang chẳng quản công khó nhọc truy tầm.
🔗Lại nữa, một lời nói, một câu văn, một bài kệ, của quý vị Thánh triết đều bao hàm cả một sự mầu nhiệm, sâu xa, huyền diệu mà trong đó có đủ sự lý, ý, nghĩa, để cho tất cả chúng sanh đều ngộ nhận tùy theo căn hạnh của mình mà tiến tu giải nghiệp.
🔗Thế thì, sở dĩ trong sấm giảng có nói những đoạn như trên là vì quý vị Thánh triết nhận thấy rằng: đời hạ ngươn sắp dứt, thượng ngươn sẽ hồi phục, chúng sanh chỉ ham chém giết mà không nghĩ đến tình thương đồng chủng, thích vật chất xa hoa, mà chẳng nghĩ đến tinh thần đạo đức, do đó các ngài mới phương tiện mà nói lên lời ấy, để cứu vớt chúng sanh một phần nào, trong thời chiến tranh tận diệt, hầu sống sót để bước sang thời thái bình, Thánh đức thanh tân, ấy cũng do lòng từ bi mà nói vậy.
🔗Tóm lại: những điều trong sấm giảng đã nói như trên là: có mà không, không mà có, lý nghĩa nó đã như vậy, và như vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, theo như sấm giảng đã nói như vậy, như vì chúng sanh căn tánh quá hẹp hòi, e khi họ lầm chấp nơi hữu hình mà bất tín luôn chăng, xin Đại sư chỉ dạy?
🔗Đáp: Bởi chúng sanh căn tánh quá hẹp hòi, phần nhiều thích cái giả mà không ưa cái thật, thọ cái bở mà chẳng nhận cái chắc, nên pháp giáo của Thánh nhân cũng tùng đó mà hiển hiện ra mỗi lúc hoặc “thật” hoặc “hư”, hoặc “hư” hoặc “thật” đều khế hợp với tất cả trình độ chúng sanh và chúng sanh sẽ có thể được thọ nhận diệu pháp trong mỗi lúc vậy.
🔗Tóm lại: Chúng sanh đã có gieo một đức tin nơi Phật Thánh rồi, thời ví dầu họ có lầm chấp và bất tín chăng? Rồi một ngày kia hột giống đức tin ấy cũng sẽ nảy nở thêm hơn mà thôi.
🔗Cũng thí dụ như: Cây khoai bán đã trồng xuống đất rồi, thời nếu càng bị gió lung lay, là càng sanh thêm nhiều củ vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, vì sao lại gọi là Thế giới hữu hình và thế giới vô hình, xin sư chỉ dạy?
🔗Đáp: Vì thế giới hữu hình là thế giới của thân huyết nhục có thiệt hình, thiệt dạng cố định. Còn thế giới vô hình là thế giới của thân trung ấm, có bóng mà không có hình cố định, vì không có hình cố định nên bóng cũng không cố định vậy!
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, thế giới vô hình và thế giới nội tâm có khác nhau không? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Lẽ dĩ nhiên phải có khác. Vì thế giới nội tâm là thế giới huyền bí siêu cả hình dạng vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, cõi vô vi và cõi vô hình có phải là một không, xin sư chỉ dạy?
🔗Đáp: Không. Vì cõi vô vi là cõi không có sự thấy nghe bằng tai mắt của thân nhục thể hữu hình hay thân trung âm vô hình. Bởi cõi vô vi tức là cõi của nội tâm, nên không phải một vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, hữu vi pháp và vô vi pháp khác nhau chỗ nào? Xin sự chỉ dạy.
🔗Đáp: Những vật gì mà có thể thấy nghe bằng thân huyết nhục hữu hình, hay bằng thân trung ấm vô hình, đó thảy là hữu vi pháp. Còn những vật gì mà không thấy nghe bằng thân huyết nhục và thân trung ấm, ngược lại có thể thấy nghe bằng trí huệ tâm linh thời đó thảy là vô vi pháp.
🔗Tóm lại: Vô vi pháp khác hữu vi pháp là vì pháp vô vi nó vẫn còn ẩn tàng trong nội tâm, còn hữu vi pháp là pháp đã hiện ra ngoài tướng rồi vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, cõi huyền vi là cõi nào? Xin sự chỉ dạy.
🔗Đáp: Nếu đứng về khía cạnh ở cõi hữu hình này mà nói, thời cõi huyền vi là cõi của những người âm sống bằng thân trung ấm vô hình. Bằng đứng về khía cạnh ở cõi vô hình mà nói, thời cõi huyền vi là những cõi của nội tâm vô tướng.
🔗Tóm lại: tiếng nói cõi huyền vi không thể xác định được là cõi nào, vì tùy theo mỗi quan niệm của chúng sanh hoặc chủ quan, hoặc khách quan.
🔗Cũng thí dụ như: một cái cầu có hai đầu, không thể đặt cho cầu nào là gốc hay ngọn nhứt định được, mà nếu có đặt chăng, thời người đặt đó đã đứng vào một đầu rồi vậy.
🔗Sau khi học hỏi diệu pháp đến đây, thì ông Thiện Hạnh đảnh lễ Đại Sư ba lễ và nói rằng: “ Đệ tử thành thật biết ơn những lời chỉ giáo của sư, không bao giờ dám quên.” Nói xong ông Thiện Hạnh ra về, còn Đại sư thời đi nghỉ vậy.
🔗Nam Mô Quang Minh Pháp Giác Như Lai Hoằng
Khai Đạo A Di Đà Phật.
🔗Hết Phẩm Thứ 29
🔗Nam Mô Thiền Sư An Lạc Hạnh