Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 2

🔗Liên Hoa Pháp giáoPhẩm thứ 2Tứ Diệu Đế
🔗Lòng từ bi cao cả của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vô tận. Vì thương xót chúng sanh đang lạc lỏng giữa rừng sâu hố thẩm nên khai cơ giáo hóa mở bài phương tiện diệu mu dẫn dắt bá gia trăm hò thoát vòng nghiệp báo oan khiê. Lần đầu tiên nơi thành Ba La Nại chuyển pháp luân giải bài chân nghĩa. Thuyết thời kinh Tứ Diệu Đế độ năm anh em ông Kiều Trần Như chứng quả A La Hán vô sanh hữu dư niết bàn.
🔗Để nhắc lại lời thuyết pháp của Đức từ phụ sư kia nên đây tôi xin nói đại khái về Tứ Diệu Đế hầu tiếp duyên những ai muốn giải thoát nghiệp trần sanh tử khổ.
🔗Tứ Diệu Đế là gì? Tứ Diệu Đế là bốn điều chắc thật hay cũng gọi là bốn pháp môn không hư không dối bởi chúng sanh mãi lo say mê trong ngũ dục đường tình kham nhẫn mà lãnh chịu đớn đau đầy đọa. Chẳng biết gì thật giả trên thế gian. Lòng từ bi nên Phật chỉ ra rõ rệt cho nghe thấy để tránh khỏi tai ương thảm não dồn dập.
🔗Bốn đế là:
🔗1. Khổ đế 2. Tập để 3. Diệt đế 4. Đạo để
🔗Về khổ thời có muôn ngàn, nhưng đây Phật chỉ ra có 8 điều đại khái như sau:
🔗1. Sanh khổ. 2. Già khổ (lão khổ). 3. Bệnh khổ. 4. Chết khổ (tử khổ). 5. Thương yêu xa lìa khổ (ái biệt ly khổ). 6. Thù oán gặp gỡ khổ (oán tắng hội khổ). 7. Cầu bất đắc khổ. 8. Sắc thọ tưởng hành thức thái quá khổ (ngũ uẩn xí thạnh khổ).Giải nghĩa.
🔗1. Sanh khổ:
🔗Là sau khi thần thức đã nhập vào thai bào, tối tâm mù mịch trong bụng mẹ, nương tựa nơi tinh huyết hợp thành của song thân cấu tạo. Càng lúc càng lớn, đúng tháng đủ ngày nở nhụy khai hoa mở mắt chào đời, mang một thân hình với lớp nhao bọc nhơ nhớp tanh hôi, chui ra nơi cửa sản môn, tựa hồ như hai tạng đá ép ngặt, đau đớn vô cùng. Nên khi lọt lòng mẹ, cất tiếng khóc khổ a khổ a, vài chập sau mới biết khóc tua tu qua, đó gọi rằng sanh khổ.
🔗2. Già khổ (lão khổ):
🔗Là từ khi cha mẹ mới sanh đến tuổi già đã trải qua thời kỳ thanh xuân đẹp đẽ, tay chân bóng láng mạnh dạn khỏe người đi chạy lẹ mau. Lời thốt ra trong trẻo ngọt ngào tươi như hoa thấm. Tiếng oanh vàng tựa kiển đổ chuông ngân làm chi đặng nấy. Tài trí thông minh hoạt bát, văn võ song toàn chẳng kém nhượng ai. Nhưng khi tuổi già tóc bạc, ngôn ngữ khô khan, giọng nói khàn khàn như trống bể, mắt mờ tai điếc, răng rụng lưng khòm, da dùng gối mỏi, tứ chi bại nhược run rẩy ngày đêm, đi đứng phải nương nhờ cây gậy đỡ chân. Lần dò từng bước từng bước một, tâm tánh lưu mờ, hết biết sạch dơ, lẫn thẫn như người mất trí, chẳng còn cao bay xa chạy như trước nữa, đụng chi bốc nấy. Tuổi thanh xuân sáng suốt tráng kiện bao nhiêu, thời già nua càng tối tâm yếu đuối thế ấy.
🔗Lời tục nói trẻ khôn hoa già lú lại là vậy đó.
🔗Nếu có phước con cháu hiếu nghĩa nuôi nấn chu toàn, còn bằng kém phước gặp nghịch tử bội tôn, phải lãnh chịu họa tai nên già rất khổ.
🔗3. Bệnh khổ:
🔗Là từ khi linh hồn đã mượn một thai bào mở mắt chào đời cho đến già chết vẫn khỏe mạnh như thường thì quý báu biết bao. Nhưng có thân mấy ai khỏi bệnh thì thân thể ốm gầy, tứ chi đau nhức nức nẻ. Tinh thần bãi hoải mỏi mệt mê man. Ăn chẳng ngon ngủ chẳng được. Đi đứng không xong, nằm la liệt trên giường, lăn qua lăn lại, hoằng hoại rên than, nằm đâu ỉa đó, vô chừng tanh hôi khó chịu. Ruồi lằn kiến mũi bu đậu, hút máu đớn đau. Cầu sống không được, muốn thác cũng chẳng xong. Dây dưa nhiều tháng nhiều ngày, bức rức bực bội, dơ dáy thúi tha, cam lãnh khổ sầu, trăm cay ngàn đắng nên bệnh rất khổ.
🔗4. Chết khổ (tử khổ):
🔗Là cuộc đời hữu hình của chúng sanh trên cõi tạm này, có mấy ai thoát khỏi tử sanh? Không chết trẻ cũng chết già, chỉ có trước sau mau chậm mà thôi. Thế nên trước khi thần hồn là hơi thở dứt, mất lần cuối không bao giờ trở lại. Thời tay đưa lên thinh không bắt chim như ngây dại. Cặp mắt đứng trồng miệng ngậm rồi lần lần tắt liệm. Vì tâm linh đã ra đi tùy theo duyên nghiệp lúc đương tiền mà thọ sanh nơi khác, bỏ lại một thân thể cứng đờ, lạnh ngắt, vô tri vô giác, dẫu ai có đánh đập chặt bằm cũng không hay. Cha mẹ, anh em, chồng vợ tình bằng hữu sáu thân quyến thuộc than khóc kể lễ giật mình bứt tóc lăn lộn tiết thương có biết chi đâu. Khác nào cây khô cục đá loài vô tình để cách vài ngày sình chương hôi thúi gớm ghê, chẳng ai dám gần nên dòng họ vội vàng tẩn liệm, đem chôm dưới ba thước đất, của tứ đại trả về tứ đại. Sự nghiệp dương trần bỏ lại kẻ khác hưởng xài, không đem món chi theo được cả nên chết rất khổ.
🔗5. Thương yêu xa lìa khổ (ái biệt ly khổ):
🔗Là trong cõi hồng trần luôn luôn tương đối. Có thành tất có bại, có phải có quấy, có sáng có tối, có sanh có tử, có hiệp có ly vân vân. Do đó, mọi người đang sống đầm ấm trong mái ấm gia đình, vợ chồng con cháu, cha mẹ, anh em xum họp tương phùng hội ngộ, thương yêu triều mến nhau, giúp đỡ che chở, diều dắt nương tựa đùm bọc nhau không bao giờ xa cách. Nhưng bỗng nhiên cuồng phong nổi dậy hoặc thời giặc giả lửa binh, nước cuốn tù tội, hay người hết số quỷ vô thường đến dắt dẫn đi làm cho đôi phanh xa cách ly biệt hận sầu. Kẻ chết người còn, Bắc Nam phân rẻ người đứng trong hoàn cảnh ấy phải đau khổ vô cùng khó sống. Càng nghĩ ngợi người xưa càng thêm mủi lòng bi lụy. Càng nhìn sự chia ly, gan vàng thêm khô héo, ruột lòng đứt đoạn từng cơn. Có kẻ đi tự vận để xóa bỏ cuộc đời hiệp tan ly biệt và còn biết bao cảnh khổ về sự chia ly nên thương yêu xa lìa rất khổ.
🔗6. Thù oán gặp gỡ khổ (oán tắng hội khổ):
🔗Là cuộc sống thế gian ân oán lẽ thường tình. Chúng ta còn sống trên cõi đời này, có mấy ai không thương yêu và thù hận khi chung chạ với muôn người lân cận xung quanh. Bởi vậy khi đã oán hờn ai rồi, tâm ta thấy như gác dơ kẻ ấy vô cùng, không muốn ngó nói chuyện, gần gũi và gặp mặt nữa. Nhưng trớ triều thay tạo hóa khéo sắp bày nghịch cảnh, càng mong xa nó lại càng gần, càng phân ly lại càng hiệp. Do đó lắm lúc thấy mặt người thù đằng xa trăm thước, là lối này rảo bước tẻ đường. hoặc trường hợp đụng đầu gặp mặt, ta cảm thấy cõi lòng sao xuyến, lo ngại băn khoăn, tựa hồ như gai đâm vào mắt, cúi tránh giả vờ ngó lơ che mặt vân vân, nên thù oán gặp gỡ rất khổ.
🔗7. Cầu bất đắc khổ:
🔗Là lòng ham muốn của con người vô độ, túi tham không đáy, đựng hoài không đủ. Cho nên nói bể đông dễ lắp, túi tham khó đầy. Muốn cái này rồi lại muốn cái kia, cái nọ đủ thứ. Thí dụ như muốn có nhà rồi muốn có nhà tốt, có máy radio, muốn có xe hơi, vợ đẹp chồng xinh, muốn con thảo hiền, giàu sang nhiều tiền bạc, rồi muốn làm quan, muốn làm vua, rồi muốn làm dân, làm người muốn sống lâu, không chết, muốn tu hành thành Phật vân vân. Nhưng khổ thay, có bao giờ sự muốn của chúng ta được đầy đủ hết đâu. Chính vì lẽ đó nên tâm hồn đâm ra suy nghĩ, bày mưu tính kế, tìm cầu cho được, không được lại sanh ra tức giận, oán hờn, buồn rầu nản chí, khiến hư thân hoại thể, có khi loạn trí điên cuồng, đau bệnh đến chết vân vân. Nên cầu bắt đắc rất khổ.
🔗8. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức thái hóa khổ (ngũ uẩn xí thạnh khổ):
🔗● Sắc: là sắc dục. ● Thọ:là thọ tình. ● Tưởng: là tưởng tượng. ● Hành: là hành vi việc làm. ● Thức: là cái biết phân biệt.
🔗Nghĩa là:
🔗Ham muốn sắc đẹp nhiều thì thọ tình dung nạp, nhận lãnh, buồn vui, mừng giận, thương ghét muốn, phiền não dấy sanh. Vì phiền não nhiều nên tư tưởng nhiều. Là tưởng cái này cái kia việc nọ.
🔗Dụ như tưởng thân mình đẹp, tưởng người kia xinh, kẻ nọ lịch, tưởng việc này tốt, cái kia xấu, vân vân. Tưởng tượng rồi mong muốn tìm cầu cho được là hành vi việc làm được mấy cũng không vừa. Càng sưu tầm hiểu biết phân biệt nhiều thời lao tâm mệt trí, tinh thần rối loạn, thân xác bệnh hoạn suy nhược, chết bị đọa trong ba đường ác. Nên gọi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thái hóa rất khổ.
🔗Đó là nói về khổ đế. Tiếp theo đây là tập đế.
🔗Tập đế là gì?
🔗Tập đế là nguyên nhân của sự khổ. Nên tập đế có 12 phần là
🔗1. Vô minh tập 2. Hành tập 3. Thức tập 4. Danh sắc tập 5. Lục nhập tập 6. Xúc tập 7. Thọ tập. 8. Ai tập 9. Thủ tập 10. Hữu tập 11. Sanh tập 12. Tử tập
🔗Nghĩa là:
🔗Từ trong vô minh có cái vọng tưởng điên đảo nên tập hành trong hành có rung động, biến hóa nên tập thức.
🔗Trong thức có tình nên tập danh sắc. Trong danh sắc có cái biết linh động nên tập lục nhập. Trong lục nhập có lục thức nên tập xúc. Tập xúc có cảm động nên tập thọ. Trong thọ có dung chứa nên tập ái. Trong ái có triều mến nên tập thủ. Trong thủ có chấp lấy nên tập hữu. Trong hữu có vọng thức nên tập sanh. Trong sanh có giảm tổn nên tập tử. Trong tử có si mê nên sanh trở lại lên luân hồi.
🔗Bởi có vô minh vọng tâm điên đảo mới tập hành.
🔗Bởi có hành động rung chuyển biến hóa vạn vật, chúng sanh và các pháp mới tập thức.
🔗Bởi có thức biết, buồn vui, mừng giận, thương ghét muốn mới tập danh sắc.
🔗Bởi có danh là tên gọi của linh giác, nương tựa vào sắc là tinh huyết bào thai trong bụng mẹ mới tập lục nhập.
🔗Bởi có cái biết linh động căn trong nhập với sáu trần bên ngoài là sắc thinh, hương vị xúc pháp mà tượng sanh mắt, tay, mũi, lưỡi, thân, ý mới tập xúc.
🔗Bởi có xúc biết, xúc động, xúc đối giữa căn và trần mới cảm tưởng nghĩ ngợi, ham muốn thích ưa. Những vật trơn láng, mịnh màn, sinh lịch mới tập thọ.
🔗Bởi có thọ nhận, dung chứa cái hiểu biết tham sân si cùng ruộng vườn, nhà cửa, cha mẹ, vợ chồng con cháu, sắc màu tốt hay quý lạ, các pháp thế gian mới tập ái.
🔗Bởi thương yêu triều mến, phụ tử, phu thê, sự nghiệp hồng trần, các việc mới tập thủ.
🔗Bởi có thủ lấy giữ gìn những vật mình thương mến làm của riêng mới tập hữu.
🔗Bởi cho là có cái có chắc thật của mình mới tập sanh.
🔗Bởi có sanh mưu nảy kế tìm cầu danh lợi, chạy nhảy, đua bơi, phát khởi vọng niệm tà kiến, tham sân si, giảm tổn máu huyết mới tập tử.
🔗Bởi chết mất tiêu diệt sắc thân mà còn si mê vọng niệm, thời sanh trở lại luân hồi khổ não mãi mãi.
🔗Lại nữa, chúng sanh từ khi đã có cái biết rồi, vì sợ tử mới tham sanh.
🔗Muốn sanh phải chấp hữu, giữ hữu là phải thủ, lấy thủ phải ái, muốn ái phải thọ, muốn thọ phải xúc, muốn xúc phải lục nhập, muốn lục nhập phải nương danh sắc, muốn có danh sắc phải tập thức, muốn có thức phải hành, muốn hành phải vô minh.
🔗Giả bộ làm ngơ, ra tuồng ngu dạy thiếu trí si ngây dốt nát, không cần đen trắng, miễn sống tạm qua ngài. Phì da ấm cực, sung sướng, đầy đủ sát thân thì thôi. Chẳng cần phân chia phải quấy tội phước là gì, tới đâu hay tới đó, phú mạng cho đất trời kham nhẫn mà chịu khổ đau.
🔗Diệt đế là gì?
🔗Diệt đế nghĩa là chúng ta có khổ sanh tử luân hồi cũng do tập nhiễm mà ra. Thế nên muốn dứt luân hồi phải diệt trừ tập nhiễm. Nhưng sở dĩ có tập nhiễm là bởi vô minh. Vậy trước tiên muốn diệt vô minh phải trừ tập nhiễm. Muốn trừ tập nhiễm thì ta nên xét rằng cõi thế gian vô thường giả tạm, có hữu hình tất tiêu hoại. Dù vật chất lớn như sơn hà, đại địa núi sông nhẫn đến nhỏ mọn như hạt cát vi trần cũng không bền chắc lâu dài đặng.
🔗Danh lợi, sắc tài là bốn bức tường thành nhốt phạt kẻ vô minh tăm tối. Lòng ham muốn nó làm cho tâm hồn ta phải đảo điên khổ não, phiền trược mọi bề, nhưng rốt cuộc đều giả dối không thật.
🔗Kiếp sống này không khác chi trong giấc ngủ chiêm bao. Đi tìm phú quý giàu sang các việc. Khi giật mình thức dậy mới hay là mộng ảo. Thân này sống đây rồi phải chết. Bóng Quan Âm thấm thoát trôi qua, kiếp giả tạo ngày giờ không định trước sự tồn vong. Ta chớ nên say đắm theo tiền trần huyễn hóa nữa. Hãy quay trở về với ánh sáng từ bi chân thật đạo lành. Xả phú cầu bần xả thân cầu đạo. Cho tánh mạng được nhẹ nhàng siêu sanh liễu tử.
🔗Khi chúng ta xát nghĩ cặn kẽ như vậy thời lìa bỏ dứt khoát lòng ham muốn tập nhiễm thường tình của nhân thế, mới tiến lên hành bát chánh đạo để diệt vô minh.
🔗Bát chánh đạo là gì?
🔗Bát chánh đạo là tám con đường chơn chánh, không giả dối tà mỹ.
🔗Lòng từ bi Phật chỉ cho chúng sanh để nghe thấy, để bước lên con đường ấy mà đi hầu tránh khỏi khổ hại và được an lạc đời đời.
🔗Bát chánh đạo gồm:
🔗1. Chánh kiến đạo: thấy biết theo đường chân chánh. 2. Chánh tư duy đạo: suy nghĩ theo đường chân chánh. 3. Chánh ngữ đạo: nói lời theo đường chân chánh. 4. Chánh nghiệp đạo: làm nghề theo đường chân chánh. 5. Chánh mạng đạo: nuôi mạng sống theo đường chân chánh. 6. Chánh tinh tấn đạo: siêng cần theo đường chân chánh. 7. Chánh niệm đạo: niệm tưởng theo đường chân chánh. 8. Chánh định đạo: định tâm theo đường chân chánh.
🔗1. Thấy biết theo đường chân chánh:
🔗Phàm làm người ai cũng có trí giác để phán đoán và phân biệt cả. Thế nên khi có nghe thấy bất luận một việc gì, thời ta nên bình tâm phân tách coi sạch hay dơ, tội hay phước, lành hay dữ. Nếu thiện phải thì làm theo, còn ác quấy thì bỏ ra. Không mê tín luồng tuông, thấy nghe đâu tin đó chẳng cần hiểu rõ trắng đen chơn giả. Trái lại, chúng ta phải thấy biết rằng cõi đời là vô thường, khổ não vô ngã. Cuộc sống thế gian vốn hiệp tan ly biệt, chỉ có phước đức, trí huệ tâm linh mới thật, thường còn vĩnh viễn và đạo bát chánh là chân lý, chẳng hư vọng. Tức là đó là chánh kiến đạo.
🔗2. Suy nghĩ theo đường chân chánh:
🔗Thế thường mỗi lúc tâm hồn ta hay nghĩ tưởng đó đây. Vậy khi suy xét nghĩ ngợi ta nên lấy từ bi bát ái khoan hồng vị tha làm gốc để mở mang trí huệ thâu nhập pháp lành. Trưởng dưỡng hột giống đại Bồ Đề Phật tánh cho mau thành tựu hầu ban vui cứu khổ chúng sanh. không nghĩ tưởng về danh lợi, sắc tài, rượu chè, bài bạc buông lung mà thường nghĩ cõi đời là giả tạm, có thân tất có khổ. Bát chánh đạo là pháp diệt khổ, đó là chánh tư duy đạo.
🔗3. Nói lời theo đường chân chánh:
🔗Nếu tiếp chuyện với ai, ta không nói lời vô ích làm phiền lòng người như vọng ngữ, rủa chửi, đâm thọc, khoe khoang, không nói hung dữ chém giết mà nên nói về lời lẽ lành, lẽ phải, chân thật ôn hòa nhã nhặn. Người nghe được vui lòng thường nói pháp, chỉ rõ phước tội quả báo luân hồi, dẫn dất bá gia trăm họ quay về nẻo thiện đường chơn. Đó là chánh ngữ đạo.
🔗4. Làm nghề theo đường chân chánh:
🔗Sự sống của tất cả người thế gian ai cũng tìm kế sinh nhai cho qua ngày tháng. Nhưng biết tu rồi, chúng ta nên tầm nghề cho được trong sạch, thiện lợi mà làm để vung trồng cội đức tâm chơn và giải oan dứt nghiệp, mở dây ràng buộc dính mắt tội lỗi về sau. Như người cư sĩ tại gia giữ giới thời tránh làm nghề sát sanh hại mạng chài lưới giăng câu, đốt núi phá rừng bán buôn thú vật, thuốc độc rượu men, cung tên giáo mác dao gậy cùng bảy giò lưới rập, trộm cấp dâm dục nói láo, không buôn bán sắc đẹp nam nữ. Ngoài ra các việc thiện đều nên làm. Còn chư tăng ni xuất gia ở chốn già lam sống nhờ bá tánh cúng dân, hộ trì bòn phước thời đừng làm nghề coi bói, bùa ngãi phép phù mê hoặc tứ chúng, khiến trăm họ lạc vào đường tà, mất chánh kiến tri. Không buôn bán bất luận vật gì theo lối thế gian. Phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, một lòng tham thiền nhập định, giữ gìn giới cấm tịnh hạnh trang nghiêm, nêu gương trong sạch kiểu mẫu cho đời noi theo. Đó là chánh nghiệp đạo.
🔗5. Nuôi mạng sống theo đường chân chánh:
🔗Tất cả ai đều có ăn mới sống được. Nhưng ăn để sống chứ đâu phải sống để mà ăn. Thánh ngữ có câu: "Quân tử mê đạo bỏ ăn, tiểu nhân bỏ đạo lấy ăn làm đầu." Người tu hành lo tập làm Phật thế thì có chi ăn nấy. Tương chao, rau cỏ, lê hoát, đậu mè, hoa quả, muối dưa, tạm dùng nuôi thân mạng để tam nghiệp không còn vavay tạo oan trái tiền khiên nữa. Rửa lòng trong sạch, tu nhơn tích đức, mở rộng tâm từ, thương xót muôn loài cũng đồng sự sống như ta. Không ăn thịt chúng sanh. Và vì sự sống của mình, muôn người phải khổ. Loài vật chết khóc kêu la thảm thiết, đem ân đáp oán, nhẫn nhục từ bi bình đẳng, xây dựng tinh thần đạo nghĩa thanh cao, đó là chánh mạng đạo.
🔗6. Siêng cần theo đường chân chánh:
🔗Khi đã hiểu ra đường tu hành lương thiện, bát ái nhu hòa, xá kỷ lợi tha, nói chung các pháp lành là đúng, thì ta nên bền chí kiên tâm, cương quyết, dũng cảm tiến tới. Ngày nào sở nguyện chưa đắc thành thì ngày ấy ta còn siêng năng. Dù gặp phải gốc gao khảo đảo, nắng lửa mưa dầu, nghiệp trần ma quân quấy nhiễu thà chết bỏ thân mạng này, nhất định không thối chí nản lòng lui bước trở ra theo việc đời nên tạo lợi danh, một lòng một dạ sắc son hành chánh đạo. Đó là chánh tinh tấn đạo.
🔗7. Niệm tưởng theo đường chơn chánh:
🔗Bởi còn làm chúng sanh nên tâm ta không định trụ, thường duyên theo lục trần mà dấy sanh phiền não vọng niệm. Nào là niệm buồn, niệm vui, niệm thiện, niệm ác, niệm quấy, niệm tinh cần, niệm giải đãi đủ thứ không ngừng. Do đó ta nên kiềm chế cho nó niệm vào một việc chân chánh từ bi, không buông lung tưởng bậy theo thế gian thường tình và thường hay niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thanh tịnh giải thoát chân như, niệm niệm không sanh diệt. Đó là chánh niệm đạo.
🔗8. Định tâm theo đường chân chánh:
🔗Còn phàm nhơ nên tâm chúng ta thường duyên trụ theo các cảnh sắc pháp vô thường nên phải an trụ nó vào một việc bình đẳng chân không để mở mang trí tuệ thiện lành các pháp, hầu ban bố cho đời hưởng nhờ phước huệ. Hơn nữa, người tu hành có định tâm mới sáng suốt mà diệt vô minh đạt quả Bồ Đề đặng. Nên muốn định tâm chân chánh thì phải giữ lòng trong sạch, thanh tịnh chánh kiến. Có thấy biết chơn chánh mới suy nghĩ chơn chánh. Có chánh tư duy mới nói lời chân chánh. Có chánh ngữ mới làm nghề chơn chánh. Có chánh nghiệp mới nuôi mạng sống chân chánh. Có chánh mạng mới siêng cần chân chánh. Vì có chánh tinh tấn mới niệm tưởng chân chánh. Có chánh niệm mới định tâm chân chánh. Có chánh định mới phát huệ chơn chánh. Có trí huệ chơn chánh mới diệt được vô minh và đi sâu vào đại định đạt quả chơn chánh làm Phật.
🔗Vậy bát chánh đạo là một con đường dài chắc thật nói liền từ cõi thế gian đến Tây Phương Cực Lạc. có tám chặng. Hay như cây cầu bắt từ bến mê sang bờ giác có tám nhịp. Thế nên ai muốn về bờ giác xứ Tây Phương thì nên hành bát chánh đạo sẽ được như ý.
🔗Tóm lại:
🔗Tứ Diệu Đế là một phương tiện Phật mở bày pháp môn tiệm giáo để dẫn dắt người sơ căn liễu ngộ đạo màu. Nên ngài chỉ rõ cõi sống của người nhân thế là khổ mà nguyên nhân khổ là do tập nhiễm sinh ra. Muốn dứt trừ khổ, thời phải diệt trừ tập nhiễm và hành bát chánh đạo sẽ kết quả yên vui, giải thoát dứt luân hồi.
🔗Vậy tứ diệu đế là một nất than đầu tiên của tất cả chư Phật, thánh tiên hiền phải bước qua để trở về với trung đạo bình đẳng của Như Lai. Tứ Diệu Đế là thầy của muôn loại, là bạn của chúng sanh, là ân nhân của chư Phật ba đời. Tứ Diệu Đế là gậy trầm hương đỡ chân người già cả, tật bệnh ốm đau khi lê gót. Là song ly dìu dắt trẻ nhỏ tập đứng biết đi và đi mãi mãi. Tứ Diệu Đế là hoa sen quý báu ngàn cánh, dung chứa đùm bọc chúng sanh. Là bà mẹ dịu hiền từ mẫu nuôi nấn con thơ khờ dạy khỏi lạc vào rừng sâu tội lỗi, hố thẳm vô minh và khỏi chìm đắm trong sông mê biển khổ. Tứ Diệu Đế là áo thiên y đỡ che sự lạnh lùng, nắng mưa gió xương cho trăm họ.
🔗Thế thì bất kỳ ai cũng thực hành Tứ Diệu Đế và đắc quả được hết.
🔗Vấn: tại sao có Bát Chánh Đạo?
🔗Đáp: Vì có bát tà đạo vậy.
🔗Vấn: Bát tà đạo là như thế nào?
🔗Đáp: Bát tà đạo nghĩa là:
🔗1. Tà kiến đạo, tức là thấy biết theo lối, hư vọng mê hoặc. 2. Tà tư duy đạo nghĩa là suy nghĩ theo lối hư vọng mê hoặc. 3. tà ngữ đạo nghĩa là nói lời theo lối hư vọng mê hoặc. 4. Tà nghiệp đạo nghĩa là làm nghề theo lối hư vọng mê hoặc. 5. Tà mạng đạo nghĩa là nuôi sống theo lối hư vọng mê hoặc. 6. Tà tinh tấn đạo nghĩa là siêng cần theo lối hư vọng mê hoặc. 7. Tà niệm đạo nghĩa là niệm tưởng theo lối hư vọng mê hoặc. 8. Tà định đạo nghĩa là định tâm theo lối hư vọng mê hoặc.
🔗Vậy thì nguyên nhân khởi đầu của bát tà đạo là do sự thấy không chân chánh.
🔗Vì thấy biết không chân chánh nên suy nghĩ không chân chánh.
🔗Vì tư duy không chân chánh nên nói lời không chân chánh.
🔗Vì nói lời không chân chánh nên làm nghề không chân chánh.
🔗Vì làm nghề không chân chánh nên nuôi mạng sống không chân chánh.
🔗Vì nuôi mạng sống không chân chánh nên siêng cần không chân chánh.
🔗Vì xên cần không chân chánh nên niệm tưởng không chân chánh.
🔗Vì niệm tưởng không chân chánh nên định tâm không chân chánh.
🔗Vì định tâm không chân chánh nên phát huệ không chân chánh.
🔗Vì trí huệ không chân chánh nên làm việc tà trược thời bị đọa khổ.
🔗Tóm lại: bát tà đạo là một con đường dài nối liền trần gian với địa ngục có tám chặng. Hay như cây cầu bắt từ dương gian xuống âm phủ có tám nhịp. Vì lẽ có đường tà đi đến cảnh khổ cho nên Phật mới chỉ ra đường chánh để đi đến nơi dứt khổ là vậy đó. Kệ rằng:
🔗Lưu luyến cảnh trần phải khổ đau Từ xưa nhẫn lại có hay nào Ai người tu niệm mau nên tỉnh Bát chánh hành y dứt khổ đau
🔗Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát
🔗Hết phẩm thứ 2
🔗Nam mô Thiền Sư An Lạc Hạnh
Phẩm trước Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 1 Phẩm tiếp Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 3