🔗Liên Hoa Pháp GiáoPHẨM THỨ 10GƯƠNG SEN KIỂU MẪU
🔗Vào ngày rằm tháng tư, lễ kỷ niệm Đức Bổn Sư giáng lâm trần thế, tại ngôi Đạo Tràng Tịnh Xá có rất đông thiện nam tín nữ tứ chúng vây quanh để nghe nhà sư thuyết giảng. Trong lúc nhà sư đang an tọa trên đài Liên Hoa pháp bửu để giảng giải về ý nghĩa của ngày lễ kỷ niệm Phật Tổ giáng sanh vừa xong thời lúc bấy giờ có một người thiện nam pháp danh là Huệ Trí quỳ gối chắp tay bạch rằng: Bạch sư, hôm nay con được hân hạnh về đây để chiêm ngưỡng chân dung Đức Từ Phụ và nghe lời của sư chỉ dạy, thật rất quý báu vô cùng. Nhưng kính bạch sư, tự nơi thâm tâm của con còn lắm điều ẩn khuất, mà sức hiểu biết của con không thể nào khám phá ra nổi. Vậy xin sư từ bi mở lòng hà hải chỉ dạy cho con cùng tử chúng trong hội này được nghe thêm, riêng con thì ân đức ấy không bao giờ dám quên.”
🔗Nhà sư nói: “Quý hoá thay! Này Huệ Trí, ông có điều chi thắc mắc, tùy phương tiện thưa hỏi, ta sẽ nói cho nghe.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, như trong kinh Đức Phật nói tuỳ căn cơ chúng sanh, phân ra tam thừa để hoá độ. Vậy tam thừa khác nhau ở chỗ nào xin sư chỉ dạy”.
🔗Nhà sư đáp: “Phật phương tiện phân ra tam thừa vì sự hiểu biết của chúng sanh cao thấp có khác nhau. Thí dụ như ở đời, có ba giai đoạn học: Một là Tiểu học, hai là Trung học, ba là Đại học. Vì cái trí của bậc tiểu học không thể bằng trung học, mà trung học không thể bằng đại học. Do đó bậc giáo sư dẫn dắt phải phân ra ba cỡ để chỉ dạy cho tiện, chớ đường đột mà dạy một cỡ lớp với nhau thì e những trò kém trí không dám học, mà phải chịu dốt nát vô minh. Phật là vị giáo sư, chúng sanh là những học trò vậy.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, sự ngộ đạo của thừa Thinh văn, thừa Duyên giác, và thừa Bồ tát có khác nhau không? Nhà sư đáp: “Sự ngộ đạo cũng như là sự thi đậu của một năm học, thì lòng vui mừng của học sinh đồng nhau. Tuy nhiên cái cấp bằng thì phải sai khác, do trình độ học vấn trong năm đó của học sinh. Cũng như thế. Sự ngộ đạo là đắc được an lạc và dứt phiền não là ba thừa bằng nhau, còn cái trí thời có hơn kém vậy.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, xin sư nói rõ chỗ ngộ đạo của mỗi bậc?”
🔗Nhà sư đáp: “Vì Chư Thinh văn thì ngộ lý Tứ diệu đế, Chư Duyên giác ngộ lý vô thường, Chư Bồ Tát thì ngộ lý vô sanh”.
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, sự ngộ đạo của ba thừa có khác nhau, mà sự hành thì có khác nhau không? ”
🔗Nhà sư đáp: “Sự ngộ đạo của ba bậc có khác, nên sự hành đạo cũng sai biệt vậy.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, xin sư nói rõ chỗ sai biệt của ba thừa?”
🔗Nhà sư đáp: “Vì bậc Thinh văn ngộ lý Tứ diệu đế nên các ngài cho rằng Chúng sanh sở dĩ có khổ sanh tử luân hồi, là do 12 nhân duyên tập nhiễm sanh ra, mà 12 nhân duyên này vốn không căn bản, những tư tưởng sanh diệt liên hồi, và chính có khổ là do sự mê lầm của trí giác cứ bám níu duyên trụ theo những tư tưởng xấu, nên muốn hết khổ là hoá những tư tưởng xấu thành những tư tưởng tốt. Mà muốn đổi những tư tưởng xấu lại tốt là phải hành bát chánh đạo. Vì hành bát chánh đạo nên tự nhiên cảm thấy thân tâm khoan khoái an lạc. Không còn các thứ khổ nạn của tư tưởng xấu quấy nhiễu nữa. Tâm của các ngài đã đi sâu vào chánh định, và an trụ trong chánh định bất thối chuyển, nên gọi là hữu dư Niết Bàn.
🔗Còn bậc duyên giác ngộ lý vô thường, các Ngài cho rằng chúng sanh sở dĩ có khổ sanh tử luân hồi, là do 12 nhân duyên chuyền níu sanh hóa của vũ trụ vạn vật mà 12 nhân duyên do vô minh dẫn đầu, bởi vô minh vọng tưởng mới có vạn vật chúng sanh và các pháp, mà vạn vật chúng sanh và các pháp từ nơi không có mà có, có rồi hườn về không thay đổi sanh diệt triền miên. Các Ngài nhận rằng bản thể chân không là quê xưa kiểng củ, còn thân tâm hiện đang sống đây là sống trong cõi mộng của tâm thức sở duyên và tư tưởng sinh diệt mà thôi. Chính vì lẽ đó, nên các Ngài dứt khoát những tư tưởng đi sâu vào đại định và an trụ trong cảnh tịch diệt chơn không, bất thối chuyển nên gọi là vô tư Niết Bàn.
🔗Còn bậc Bồ Tát ngộ lý vô sanh các Ngài cho rằng chúng sanh sở dĩ có khổ sanh tử luân hồi, là bởi không nhận được con người chơn thật của mình. Do từ đâu mà có và sẽ đến đâu tận cùng, cái nguyên thể của nó như thế nào nên mới khổ. Các Ngài nhận rằng bản thể chơn tâm vốn tự nhiên, thường tịnh mà thường chiếu, thường chiếu mà thường tịnh, nhưng cái thường tịnh thường chiếu ấy, lại xa rời các pháp hữu vi và vô vi. Chính vì lẽ đó, nên các Ngài an trụ vào tự tánh vô sanh của bổn tâm diệu giác chơn không bất thối chuyển nên gọi là Đại Niết Bàn.
🔗Nghĩa là: Chư Thanh Văn thì cho rằng có khổ não có pháp tu tập diệt khổ. Chư Duyên Giác cho rằng không có phép chi mà cầu đặng cả. Chư Bồ tát thì cho rằng bản thể chơn tâm vốn là không nhưng trong cái không, có một tánh giác tròn sáng bao gồm cả vạn vật chúng sanh và các pháp.
🔗Chư Thanh Văn thì đi vào cái có. Chư Duyên Giác bước về cái không. Chư Bồ Tát thì có mà không, không mà có. Thế thì chư Bồ Tát đã hoàn toàn minh tâm kiến tánh rồi vậy.
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, sao gọi là minh tâm kiến tánh?”
🔗Nhà sư đáp: “Minh tâm là cái tâm sáng thông suốt tất cả vạn pháp. Kiến tánh là thấy biết nguồn gốc của sự thông suốt vạn pháp từ đâu mà có một cách rõ rệt không còn sai lầm.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, sao gọi là minh tâm kiến tánh thì thành Phật?
🔗Nhà sư đáp: “Vì người minh tâm kiến tánh là chính kẻ ấy đã nhận được nguồn gốc của mình một cách chơn thật, bởi nhận được nguồn gốc chơn thật, nên các Ngài sống với cái chơn thật của mình là tánh giác, mà ngược lại tánh giác thời mê, là mê là chúng sanh, còn giác thì Phật vậy.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, Tâm và tánh có khác nhau không?”
🔗Nhà sư đáp: “Có khác mà không khác.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, xin nói rõ chỗ khác mà không khác cho con và tứ chúng được nghe”.
🔗Nhà sư đáp: “Vì tâm là bản thể chơn không, còn tánh là tự tánh bình đẳng năng soi của chơn không, nên tâm là thể, tánh là dụng, cũng thí dụ như ngọn đèn và yến sáng của ngọn đèn, tâm là cái gốc, tánh là cái bình đẳng năng soi, tâm là hình, tánh là bóng, hình ngay thời bóng ngay, hình dại thời bóng dại. Tâm là cái bản thể chơn không, không sanh không diệt không thêm bớt, tánh là yến sáng của chơn không, chơn không không sanh diệt, thời tánh sáng cũng không sanh diệt chơn không bao gồm tất cả vạn vật chúng sanh và các pháp, thời tánh giác cũng bao gồm tất cả vạn vật chúng sanh và các pháp. Tâm là cõi, tánh là vua, vua còn thì cõi còn, vua mất thì cõi mất, tâm tánh nương nhau không bao giờ lìa.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, bản thể chơn tâm của chúng sanh trước kia là thanh tịnh trong sáng nhưng bất giác khởi niệm vô minh vọng tưởng nên có khổ luân hồi, vậy xin sư nói rõ chỗ bản thể và vọng tưởng.”
🔗Nhà sư đáp: “Cũng như ban đêm trong hư không, mây lặng gió êm, thì bầu trời có một yến sáng huyền ảo vô cùng vô tận, đang lúc thanh vắng như vậy, thì bỗng bầu trời chuyển động, mây đen u ám hiện ra che án hư không, thời lúc bấy giờ yến sáng huyền ảo kia đã ẩn vào trong đám mây vậy. Bản thể chơn tâm trước kia dụ như hư không mây lặng gió êm, nhưng bất giác khởi niệm vô minh vọng tưởng, cũng như trong hư không bỗng nhiên bầu trời chuyển động mây đen u ám hiện ra che áng cả hư không và yến sáng huyền ảo của hư không.
🔗Tuy nhiên mây che áng được hư không, chớ không thể phá hoại được hư không và yến sáng huyền ảo của hư không, vì sao? Vì mây nó từ không sanh ra có, rồi tự nhiên nó phải diệt, như hư không có cái chuyển động nên mây hiện. Khi hư không hết chuyển động, thì mây kia phải ẩn vào hư không, trả lại sự tự nhiên của hư không và yến sáng huyền ảo của hư không. Cũng như thế! Vọng tưởng từ nơi chơn tâm sanh ra che áng trí giác, và trí giác duyên theo vọng tưởng nên mới khổ. Khổ là vì vô minh không nhận được ta là tánh giác tròn sáng của chơn không, lại chấp cho những tư tưởng là ta, tư tưởng thì sanh diệt liên hồi, còn trí giác thì bất sanh bất diệt. Mỗi khi một tư tưởng sanh là trí giác ẩn vào trong đó, tư tưởng đó diệt rồi thời có tư tưởng khác sanh lên. Vì trí giác duyên trụ theo những tư tưởng cho nên phải điên đảo. Tuy là điên đảo, nhưng tánh giấc không thêm, không bớt, không giảm, không tăng. Người đã hiểu rõ thật thể như vậy, thời sống với cái ta chơn thật, không còn duyên theo những cái giả dối sanh diệt nữa.”
🔗Huệ Trí thưa: Bạch sư, vọng tưởng từ nơi bản thể sanh ra, vậy có phương pháp chi để diệt vọng tưởng, xin sư từ bi chỉ dạy?
🔗Nhà sư đáp: Đã nói vọng tưởng từ nơi bản thể chơn không sanh ra, mà vọng tưởng có sanh là do sự mê lầm của giác tánh. Nếu giác tánh không còn mê lầm thì tự nhiên vọng tưởng phải diệt, cần gì phải mượn phương pháp để diệt. Vả lại có pháp là có sanh và có vọng rồi, mà nếu có vọng thì làm sao diệt vọng được. Người mà nghĩ rằng: cần phải có phương pháp để diệt vọng tưởng, thời chẳng khác kẻ kia thấy ly nước cặn cáu nổi lên, muốn hết cặn lại lấy tay đè xuống, nhưng nếu tay thọc vào ly nước là nước càng bị động, và cặn cáu lại nổi lên nhiều hơn mà thôi.
🔗Huệ Trí thưa: Bạch sư, trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có đoạn nói, sau khi Đức Phật hỏi chỗ ngộ nhập của 25 vị Thánh để chỉ dạy phương pháp cho ông A Nan tu hành, và sau khi các vị Thánh thuật rõ chỗ ngộ nhập của mình xong thời lúc bấy giờ Đức Phật kêu ngài Văn Thù lựa pháp tu viên thông để dạy A Nan, ngài Văn Thù mới nói, chỉ có pháp tu Nhĩ Căn Viên Thông của Quan Thế Âm Bồ Tát là dễ tu dễ chứng hơn hết. Kính bạch sư, nếu theo lời nói của kinh Lăng nghiêm thời có pháp để tu, còn sư lại nói không pháp, vậy thì sự giải đáp của sư hiện nay có phần trái ngược rồi, mà nếu trái ngược thì làm sao con và tứ chúng trong hội này có đủ đức tin để tu hành cho được. Xin sư từ bị giải mở giùm chỗ hoài nghi ấy cho con và tứ chúng được rõ.
🔗Nhà sư đáp: Ngoài văn tự chữ nghĩa có sai khác, nhưng đối với lý tánh vẫn đồng. Vì sao? Phật đã dạy, pháp của ta nói cũng ví như ngón tay chỉ mặt trăng, hãy ngó theo chiều hướng của ngón tay thì sẽ thấy mặt trăng. Ngón tay của ta không phải là trăng (nếu ngó ngón tay thì không bao giờ thấy trăng). Ông nên hiểu rằng: pháp là một phương tiện tỏ bày tánh giác, người đã ngộ đặng tánh giác, thì đối với pháp không còn hữu dụng nữa. Cũng như khi đã thấy mặt trăng, thì không cần ngón tay cũng thấy trăng. Tuy nhiên, trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy tu pháp Nhĩ Căn viên thông của Quan Thế Âm Bồ Tát. Nghĩa là: nghe nghĩ và tu thời sẽ được viên thông. Vì nếu xoay cái nghe trở về tự tánh thì cái nghe vốn thường còn, nghĩ mà không lìa tự tánh thì cái nghĩ đó không sanh diệt, tu mà không lìa tự tánh, thì cái tu đó vốn tự nhiên. Như thế thì nghe nghĩ và tu, Phật phương tiện phân ra làm ba pháp, chớ kỳ thật có một mà thôi, mà cái một vốn không sanh không diệt, không sắc không pháp, thì đó là tự tánh Niết Bàn vậy. Hơn nữa, nếu an trụ nơi tự tánh không sanh diệt thì lo chi không đắc quả vô thượng Bồ Đề.
🔗Phật đã dạy phương pháp, mà không phải phương pháp, mới thật là phương pháp. Còn hành mà không hành, mới là thực hành.”
🔗Huệ Trí thưa: Bạch sư, như các vị Bồ Tát có còn hành Bát Chánh đạo nữa không?
🔗Nhà sư đáp: Chư Bồ Tát vẫn còn hành Bát Chánh đạo nhưng sở hành của Bồ Tát thì khác sở hành của Thinh văn. Vì sao? Vì Chư Thinh văn thời thuận theo đà tiến triển của trí huệ. Nghĩa là, Chư Thinh văn khi hành Bát Chánh đạo là phải hành chánh kiến rồi mới đến chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ngược lại Chư Bồ Tát thì trước tiên hành chánh định rồi mới chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh tư duy, chánh kiến.
🔗Huệ Trí thưa: Bạch sư, xin sư từ bị giải rõ sở hành Bát Chánh đạo của Chư Bồ Tát cho con và tứ chúng được nghe?
🔗Nhà sư đáp: Vì Chư Bồ Tát sau khi đã minh tâm kiến tánh, thấy được nguồn gốc chân thật của mình, mới đi sâu vào chánh định, an trụ nơi tự tánh, bình đẳng không sanh diệt. Vì có chánh định mới có chánh niệm, là niệm tưởng không lìa tự tánh để duy trì tâm định. Vì có chánh niệm mới có chánh tinh tấn, là siêng cần niệm tưởng không lìa tự tánh, để định tâm được vững chắc. Vì có chánh tinh tấn mới có chánh mạng, là sống bằng pháp thân huệ mạng. Vì có chánh mạng mới có chánh nghiệp là đem pháp thân huệ mạng ra gánh vác sự nghiệp của chư Phật, cứu khổ chúng sanh. Vì có chánh nghiệp mới có chánh ngữ, là lời nói chân thật, chắc quyết không hư không dối phương tiện dẫn dắt chúng sanh trên đường giác ngộ. Vì có chánh ngữ mới có chánh tư duy, là suy nghĩ, quán xét các pháp nhân duyên sanh diệt không lìa tự tánh. Bởi quán xét không lìa tự tánh nên sự thấy biết một cách rõ rệt không còn sai lầm.Vì có chánh tư duy mới có chánh kiến trị của Như Lai là thấy biết tất cả vạn pháp. Nhưng sự thấy biết ấy vốn tự nhiên như nhiên không lại động.Thế thì Chư Bồ Tát hành Bát Chánh Đạo mà không hành, đó mới là có hành vậy.
🔗Lại nữa Chư Bồ Tát sống bằng pháp thân huệ mạng mới gánh nổi sự nghiệp của Như Lai, đúng với câu trong Diệu Pháp Liên Hoa nói, sau khi Đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh diệt độ, Diệu quang Bồ Tát trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, như trong Kinh thường nói, Chư Phật cùng Bồ Tát, Bích Chi và A La Hán đều ngồi trên tòa sen là nghĩa thế nào, xin sư chỉ dạy?”
🔗Nhà sư đáp: “Hoa sen là chỉ cho sự quý báu của những tâm hồn trong trắng thoát tục. Vì sao? Vì gốc sen vốn mọc trong bùn mà khi trổ hoa, hoa lại không hôi mùi bùn.
🔗Bùn nhơ đây là chỉ cho ngũ dục. Ngũ dục là:1. Là ham muốn sắc đẹp tình yêu
2. Là ham muốn tiền tài.
3. Là ham muốn danh vọng.
🔗4. Là ham muốn lợi lộc.
🔗5. Là ham muốn ăn uống ngủ nghỉ.
🔗Cõi trần thế là cái đầm.
🔗Nước trong đầm là sự yêu thương.
🔗Gốc sen là nhân loại.
🔗Rễ sen là tánh thú.
🔗Cọng và lá sen là trời.
🔗Hoa sen là Thánh A La Hán, Bích Chi.
🔗Gương sen là Bồ Tát.
🔗Hột sen là Phật Như Lai.
🔗Nghĩa là, làm con người sống trong cõi trần gian, không ai tránh khỏi lòng ham muốn ngũ dục cả, cũng như có gốc sen là có rẽ sen. Nhưng gốc sen kia nếu không có cọng lá vượt khỏi mặt nước của đầm để duy trì sự sống thì gốc và rễ sen sẽ bị thúi hư, không thể trổ hoa kết quả đặng. Cũng như thế, con người sống trong cõi tục luy này mà không hướng về lẽ phải của đạo đức, cứ mãi bám níu theo ngũ dục vật chất, thì sẽ bị chết ngộp trong đầm nước yêu thương, tan rã cả xác lẫn hồn như gốc và rễ sen vậy. Trái ngược lại, nhơn loại sống trong cõi đời mà có tinh thần ý chí hướng thượng, chắc được sự sống trường tồn và nên danh phận, như gốc sen mặc dầu ở trong bùn nhơ, nhưng sự sống luôn luôn cố vươn lên, thời kết quả được cọng và lá sen để duy trì tánh mạng. Một khi sự sống của gốc sen có phần vững chắc mới sanh ra hoa sen, gương sen và hột sen. Cũng vậy, con người sống với một tâm hồn đầy ham muốn ngũ dục, thời có khác chi là thú rễ sen cứ bám níu vào bùn. Ngược lại, con người sống trong cõi đời này mà có một ý chí tránh xa ngũ dục, và hướng về sự trong sạch, thì chính kẻ ấy là Trời, như cọng và lá sen vượt khỏi bùn nhơ. Còn những người ở đời này hoàn toàn sống với đạo đức và tâm chơn, thời chính kẻ ấy là Phật. Cũng như hoa sen, gương sen và hột sen...vượt khỏi sự trong sạch của cọng và lá sen...
🔗Trong Kinh nói, Chư Phật cùng Bồ Tát Bích Chi và Ạ La Hán cùng ngồi trên tòa sen là ý nói những tâm hồn sống trong cõi đời này, mà không gợn một chút bợn nhơ của trần thế, cũng như sống trên sự trong sạch thời rất là quý báu, như đoá sen vượt khỏi bùn và không hôi mùi bùn.
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, Chư A La Hán và Bích Chi có được minh tâm kiến tánh chưa? Xin sư chỉ dạy.”
🔗Nhà sư đáp: “Chư A La Hán và Bích Chi có minh tâm mà không kiến tánh.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, xin sư giải rõ chỗ chư A La Hán và Bích Chi có minh tâm mà không kiến tánh cho con và tứ chúng trong hội được nghe.”
🔗Nhà sư đáp: “Chư A La Hán và Bích Chi có minh tâm, là tâm sáng thông suốt nhận rõ được cái có của tư tưởng và cái không của chơn tâm. Còn không kiến tánh là chẳng nhận được cái sáng thông suốt là tánh giác thật tướng của ta.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, xin sư thí dụ cho các con dễ hiểu.”
🔗Nhà sư đáp: “Như ngọn đèn thường phát ra ánh sáng để soi vạn vật Ngọn đèn dụ cho chơn tâm, ánh sáng dụ cho tánh giác, vạn vật chung quanh dụ cho tư tưởng. Chư A La Hán thì thấy biết rõ rệt các vật chung quanh, còn chư Bích Chi thời thấy biết rõ rệt ngọn đèn, nhưng hai hạng ấy chưa nhận được yến sáng của ngọn đèn, cũng như không biết rằng sở dĩ có thấy được vạn vật và ngọn đèn do ánh sáng chiếu soi. Lại nữa, con người sở dĩ có thấy được châu thân này là nhờ cái thấy từ mắt thoát ra. Vậy con mắt dụ cho chơn tâm, cái thấy là tánh giác, thân này là tư tưởng. Chư A La Hán thì dùng cái thấy mà biết được thân này là giả, còn chư Bích Chi thì dùng cái thấy hồi quan lại biết con mắt vốn tự nhiên... Hai hạng ấy đồng dùng cái thấy mà kẻ thì ngó tới phát hiện được vật phía trước, người ngó lại sau, phát hiện được vật phía sau, chớ chưa phản chiếu để nhìn nhận cái thấy vốn là ta, không trước không sau cũng không mực giữa mà ở đâu cũng có ta.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, muốn minh tâm kiến tánh thì phải làm sao? Xin sư từ bi chỉ dạy?”
🔗Nhà sư đáp: “Muốn đặng minh tâm kiến tánh thì phải hồi quan phản chiếu.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, xin sư từ bi chỉ dạy nghĩa của hồi quan phản chiếu?”
🔗Nhà sư đáp: “Hồi quan là xoay cái thấy soi trở vào nơi nội tâm để quan sát coi vọng tưởng do từ đâu mà sanh, phản chiếu là dùng cái thấy đảo ngược lại xem tự tánh của nó (tức của thấy) do đâu mà có.”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, sao kỳ hội trước, con nghe sư cũng dạy hồi quan phản chiếu mà khác với lời giải hôm nay, như vậy đồng hồi quan phản chiếu mà nghĩa khác nhau, thì con làm sao chủ định được cái nào đúng, cái nào sai để tu hành, xin sư từ bị giải mở chỗ hoài nghi ấy cho con và tứ chúng trong hội được nghe?”
🔗Nhà sư đáp: “Đành rằng trước sau ta cũng đều giải hồi quan phản chiếu, nhưng văn nghĩa khác nhau là vì tuỳ căn cơ trong mỗi lúc mà diễn nói, tuy là tùy căn cơ mỗi lúc chớ lý pháp vẫn đồng. Vậy thì, ông và tứ chúng trong hội tùy theo sự thích hợp của căn hạnh mình mà hành, nghĩa nào cũng đúng cả (xem lại phẩm thứ bảy đoạn trước).”
🔗Huệ Trí thưa: “Bạch sư, chư A La Hán và Bích Chi chưa kiến tánh, sao trong Kinh thường nói, Phật La Hán, Phật Bích Chi, là nghĩa như thế nào xin sư chỉ dạy? ”
🔗Nhà sư đáp: “Vì chư A La Hán và Bích Chi sau khi đã minh tâm, thời dứt được phiền não thất tình và đắc an lạc rồi, tuy nhiên dù cho chư Bồ Tát có minh tâm kiến tánh cũng chưa hoàn toàn, nên sở dĩ có phân ba thừa, ba món Niết Bàn, là sự phương tiện của Phật để dạy đạo, chớ kỳ thật có một Phật thừa và một Niết Bàn mà thôi. Nghĩa là chỉ có đắc tự nhiên mới thật hoàn toàn rốt ráo.”
🔗Huệ Trí thưa: Bạch sư, vì sao có một Phật thừa chớ không có ba thừa, xin sư chỉ dạy.
🔗Nhà sư đáp: Đã nói sở dĩ có ba thừa là sự phương tiện của Phật, tùy căn cơ chúng sanh, như ban đầu tôi đã nói, nhưng đây tôi xin dẫn chứng một đoạn trong Diệu pháp Liên hoa Kinh cho ông dễ hiểu. Phật nói: Thí dụ như đường hiểm nghèo nhiều nạn dữ, vài năm trăm do tuần, chốn ghê sợ hoang vắng không người, nếu chúng đông muốn đi qua con đường ấy, đến chỗ trân bửu, có vị đạo sư thông minh sáng suốt, khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhơn muốn vượt qua nạn đó, chúng nhơn được dắt đi nữa đường lười mỏi, bạch Đạo sư rằng: chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt. Chẳng có thể đi nửa, đường trước còn xa nay muốn lui về. Vị Đạo sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: Bọn này đáng thương làm sao cam bỏ trận bửu lớn mà muốn lui về nghĩ thế rồi dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do tuần hóa làm một cái thành, mà bảo chúng nhơn rằng: các người chớ sợ đừng lui về, nay thành lớn này có thể dừng ở trong đó, tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành này sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng đặng. Bấy giờ chúng nhơn mỏi mệt rất vui mừng khen chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ, rất được an ổn, đó rồi chúng nhơn thẳng vào hóa thành, sanh lòng tưởng cho rằng đã được độ rất an ổn. Lúc ấy đạo sư biết chúng nhơn đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhơn rằng các ngươi nên đi tới chỗ châu báu gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi.
🔗Các Tỳ Kheo: Đức Như Lai lại cũng như thế nay vì các ông mà làm vị Đại Đạo Sư, biết các đường dữ, sanh tử phiền não hiểm nạn dài xa, nên bỏ nên vượt qua, Nếu chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa, thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi mà nghỉ thế này. Đạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể đặng thành, Phật biết tâm chúng đó. Khiếp nhược hạ liệt dùng sức phương tiện mà ở giữa đường, vì để nghỉ ngơi nên nói hai món Niết Bàn. Nếu chúng trụ nơi hai bực, Đức Như Lai bấy giờ liền bèn vì nói (chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông ở gần với huệ của phật, phải quan sát suy lường, Niết Bàn đã đặng đó chẳng phải chơn thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như Lai, ở nơi một Phật thừa phương tiện nói thành ba).”Nhà sư tiếp: “ Này Huệ Trí, ông nên nhớ rằng nếu căn cứ theo lời trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh thời Niết Bàn của A La Hán và Bích Chi chỉ là tạm mà thôi. Nghĩa là, chỉ có một thừa và một Niết bàn vậy.
🔗Huệ Trí thưa: Bạch sư:, như trong Kinh có câu: Y kinh giải nghĩa, tam thế Phật oan. Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết là nghĩa như thế nào, xin sư chỉ dạy?
🔗Nhà sư đáp: “Nghĩa là Phật nói rằng: Y như nguyên văn của Kinh mà giải nghĩa thì oan cho chư Phật ba đời, bằng ngược lại bỏ một chữ trong Văn kinh là ma nói. Vì sao? Vì những lời thuyết giảng của Phật đều là dùng phương tiện tỏ bày ý lý, trí tánh nên người giải nghĩa theo văn kinh thì không bao giờ trúng đặng. Vì không trúng mà nói là Phật thuyết, thì oan Chư Phật ba đời. Còn Kinh của Phật mà bỏ một chữ là trái với Văn kinh, mà trái với Văn kinh, thời không thể ngộ ý, lý, trí, tánh đặng cho nên nếu bỏ một chữ thời quyết không phải là Phật nói.”
🔗Sau khi vấn đáp đến đây, ông Huệ Trí thưa rằng: “Bạch sư, hôm nay con mới được thưởng thức giọt nước Cam lồ Pháp bảo mà từ bấy lâu con thấy mình rất thèm khát. Vậy từ nay con cố gắng tu hành để khỏi phụ lòng chỉ giáo của sư.”
🔗Nhà sư nói tiếp: “Hỡi Chư thiện hữu tri thức và các phật tử nam nữ bốn phương thân mến. Hôm nay là ngày kỷ niệm Đức Bổn Sư giáng sanh trần thế, chư vị không màng đường xá xa xôi hoặc ngăn sông cách suối, quy tų về đây, trước chiêm ngưỡng chân dung Đức Từ Phụ, sau nghe những lời chân thật giảng thuyết của bần tăng để mong tiến lên con đường giải thoát, thì rất quý báu vậy. Hỡi chư vị, đối với Phật pháp lý nghĩa rộng dài vô hạn, dầu chúng ta có tìm học muôn thiên kinh điển, cũng vẫn kém khuyết về sự hiểu biết mà thôi. Thế thì mục đích tu hành là cần tầm nguồn gốc chơn thật của mình, nếu đã biết nguồn gốc chơn thật rồi, thì vạn pháp đều thông, không hề ngăn ngại. Vậy, trong buổi câu hội hôm nay không điều chi hơn là bần tăng nguyện hồi hướng công đức này, đến với toàn thể quý vị âm cũng như dương, hiện tại, quá khứ, vị lai ba đời đều nhận ra được sự sống chân thật của mình để khỏi phải khổ đau nữa.”
🔗Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật.
🔗Hết phẩm thứ 10
🔗Nam Mô Thiền Sư An Lạc Hạnh