🔗Liên Hòa Pháp GiáoPhẩm thứ 6Luận pháp tu
🔗Đây là đoạn nhà sư chỉ dạy pháp môn tu hành cho quý Phật tử tại Tịnh xá trong ngày cúng hội, hay cũng gọi là chỉ rõ cái then chốt cho người phát tâm mong cầu chân lý. Theo thường lệ, sau giờ cúng hội và độ ngọ xong, nhà sư lên giảng đường để chỉ dạy răng nhắc thêm trên đường tu hành cho các Phật tử. Do đó có một ông thiện nam mới quỳ gối chắp tay bạch rằng: "Xin nhà sư từ bi chỉ dạy cho con được biết thêm về đạo lý để con cố gắng tiến tu. Đó cũng là nhờ ân đức của sư vậy." Nhà sư mới nở nụ cười và nói, "Phải, ông thiện nam có thắc mắc điều chi cứ hỏi."
🔗Thiện nam hỏi: Bạch sư, tu pháp nào để mau thành Phật?
Nhà sư đáp: Tu pháp hồi quan phản chiếu.
🔗Vấn: hồi quan phản chiếu là sao?
🔗Đáp: Hồi có nghĩa là trở lại, quan là quan sát, suy xét, phản là phất hay chặt bỏ. Phản cũng có nghĩa là đảo ngược lại, chiếu là rọi vào.
🔗Vấn: trở lại là làm sao?
🔗Đáp: Vì vọng tâm điên đảo thường hay nghĩ tưởng đó đây cho nên phải gom thần định trí trở lại, không cho nó phóng túng nữa.
🔗Vấn: còn quan sát làm sao?
🔗Đáp: Quan sát là quán xét phân biệt chuyện nào nên làm, chuyện nào không nên làm. Và cái gì là chơn, cái gì là vọng động.
🔗Vấn: chặt bỏ làm sao?
🔗Đáp: chặt bỏ có nghĩa là dứt bỏ lòng mê hoặc nghi ngờ giả dối, sanh diệt không thật. Hoặc phản cũng gọi là đảo ngược cái thấy trở lại.
🔗Vấn: còn rọi vào là làm sao?
🔗Đáp: là sau khi đã dứt bỏ lòng mê hoặc, nghi ngờ giả dối sanh diệt rồi thì dùng huệ nhãn mà soi vào bản tâm của ta. Do từ đâu mà có và sẽ đến đâu tận cùng? Cái nguyên thể của nó như thế nào và đồng thời đảo ngược cái thấy lại để soi sâu vào tạng tánh của thấy. Nếu ngộ được cái lý đó, thời tạm gọi là thấy được pháp thân bình đẳng của Như Lai. Tiến lên một tầng nữa, thực hành y theo sự thấy biết thì trong khoảnh khắc sẽ thành Phật đạo không sai.
🔗Vấn: huệ nhãn là cái gì?
🔗Đáp: Huệ là sự sáng suốt thông minh, nhãn là cái thấy. Nghĩa là cái thấy bằng trí tánh huyền diệu, thanh tịnh, tự tại chứ không phải cái thấy của nhục nhãn thấy thường.
🔗Vấn: bạch sư, trong kinh Kim Cang, Đức Phật dạy Bồ Tát trụ tâm vào chỗ không trụ là làm sao? Nếu nói trụ vào chỗ không trụ, thời không trụ vào đâu hết. Mà nếu không trụ vào đâu hết, sao Đức Phật dạy là phải trụ, tức là vô sở trụ.
🔗Đáp: Bản thể chân tâm huyền diệu vô cùng, dĩ chí từ vô thủy cho đến vô chung, tự nhiên như nhiên, không lay động, không sanh không diệt, không đến không đi, không qua lại, không tới lui, không xuôi ngược, dung thông tự tại không ngăn ngại. Bởi thế cho nên Phật dạy không trụ vào đâu cả. Có nghĩa là: không trụ vào sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, có, không lành, dữ, phải, quấy, nên, hư lìa tất cả. Vì nếu trụ vào bất kỳ một pháp nào dù đó là pháp vô vi hay hữu vi thì chưa phải là chân Bồ Tát. Bởi còn cái vi tế ràng buộc. Đó là Phật dạy không trụ. Còn Phật dạy trụ ở đây có nghĩa là trụ nơi tự tánh của nó. Nhưng chính tự tánh của nó đã an trụ như nhiên từ vô thủy cho đến vô chung không lây động. Cho nên trụ mà không trụ mới là chân Bồ Tát.
🔗Vấn: trong kinh Kim Cang, Đức Phật dạy: "dùng sắc cầu ta, dùng âm thinh cầu ta, kẻ ấy đạo tà không thấy đặng ta" là sao?
🔗Đáp: Phật nói "ta" đây có nghĩa là tánh Như Lai tạng hay gọi tâm Phật vậy. Mà tâm Phật thì huyền diệu vô cùng, linh thiên vô tận, có thể rộng lớn bao la cả vũ trụ mà cũng có thể thâu nhỏ lại như một hạt cát vi trần nữa. Tâm Phật ấy không thể dùng mắt thấy, tai nghe được. Đến đổi lìa cả văn tự, lời nói, luận bàn, suy nghĩ, ý thức, thì hà huống gì lại tìm ở kinh sách hay lời nói hay thấy nghe. Bởi thế nên Phật nói: "kẻ ấy đạo tà" là vậy đó. Vì làm sai tôn chỉ của chư Phật ba đời thì không bao giờ thấy được Phật tâm.
🔗Vấn: nếu muốn thấy được Phật tâm thì phải lìa tất cả. Như vậy đồng với hư không làm sao hay biết được? Vì hư không đâu có cái thấy, cái nghe hay cái biết.
🔗Đáp: theo lời Phật dạy, muốn thấy được Phật tâm phải lìa tất cả. Có nghĩa là lìa tất cả sở chấp trở về với tự tánh viên minh thường trụ của nó thì sẽ thấy chứ gì? Bởi trong cái bổn tâm thường trụ mà thường chiếu. Thường chiếu mà thường trụ. Nghĩa là chiếu soi tất cả. Nhưng cái chiếu soi ấy vẫn tự nhiên như nhiên không lay động. Vả lại cái bổn tâm thường trụ, thường chiếu ấy không hình không dạng, không tướng không tánh, không tận không cùng. Thời đối với hư không khác. Vì sao? Vì hư là không thật, còn không là không. Hai chữ ráp lại là không thật không. Không thật không là có thật chứ gì. Phật đã dạy cái có ở trong cái không. Cái không ở trong cái có. Nghĩa là cái có mà không thể thấy theo phàm phu được. Nên gọi rằng không vì không thấy.
🔗Còn không mà có là vì trong cái không có một sức mạnh chuyển hóa huyền diệu vô cùng vô tận, bao gồm tất cả cái thấy, nghe, hay biết, ngửi, nếm, rờ, tưởng, nên, hư, tốt, xấu, thành, bại, sơn hà đại địa, nói không tận cùng, nghĩ không đến chốn, nên gọi rằng có không có thảy đồng như nhau.
🔗Vấn: Nếu nói lìa tất cả sở chấp trở về với tự tánh viên minh thường trụ của nó thì sẽ thấy Phật tâm. Vậy Phật tâm là cái gì?
🔗Đáp: là cái đó chứ cái gì?
🔗Vấn: chơn tâm thường trụ và vọng tâm điên đảo như thế nào?
🔗Đáp: chân tâm dụ như tánh nước thường yên lặng mát mẻ, trong thanh. Còn vọng tâm như là sóng gợn
🔗Vấn: chơn tâm và vọng tâm là một hay hai?
Đáp: không phải hai mà cũng không phải một.
🔗Vấn: tại sao không phải hai?
🔗Đáp: chơn tâm dụ cho nước, còn vọng tâm là sóng. Sóng thì do từ nước mà có, vọng tâm do từ chơn tâm mà sanh ra. Thế đâu nói hai được.
🔗Vấn: không phải hai là một. Sao lại không phải một, vậy chớ là bao nhiêu?
🔗Đáp: Vì bản thể chân tâm thường trụ, không vọng động từ vô thủy đến vô chung, không sanh không diệt, lìa tất cả các pháp hữu vi và vô vi nên không thể nói là một được. Một còn không có thì hà huống gì là nói hai hay là nhiều.
🔗Vấn: xin sư chứng minh.
🔗Đáp: Cũng như tánh nước thường yên lặng, mát mẻ trong thanh, không có sóng gợn thì không thể nói là lặng được. Vì chính tánh nó đã như vậy. Hoặc nói tuy nước có sóng gợn nhưng sóng kia cũng vẫn còn cái tánh trong thanh mát mẻ yên lặng, nguyên thủy của nước mà thôi.
🔗Vấn: xin sư chứng minh ví dụ lần nữa.
🔗Đáp:
🔗Cũng như đời có tương đối, có sống có chết, có phải có quấy, có đen có trắng, cái này đối chiếu cái kia mà sanh ra tánh. Chớ như trắng mà không có đen để đối chiếu thời không thể thành danh là trắng hay là đen được.
🔗Cũng như thế, vì có vọng tâm phát khởi, cho nên tạm gọi đó là có chơn tâm để đối chiếu. Phật phương tiện chỉ dạy cho chúng sanh chứ như vọng tâm đã hườn diệt rồi thì chơn tâm cũng không còn danh tánh bởi không có chỗ để đối chiếu.
🔗Vấn: sao gọi phiền não là Bồ Đề, sanh tử là Niết bàn?
🔗Đáp: Bồ đề là giác tánh thường trụ, còn phiền não là vọng tưởng sanh diệt. Nhưng bản thể của vọng tưởng vốn là bản thể của giác tánh. Vì lẽ đó cho nên gọi phiền não tức là bồ đề vậy.
🔗Vấn: phiền não tức là Bồ Đề, sao gọi rằng Phật hay ma?
🔗Đáp: Bởi bản thể của vọng tưởng tức là phiền não, tức là bản thể của giác tánh tức Bồ Đề. Nhưng vì mê nên sống theo vọng tưởng là làm ma. Còn bằng mà giác ngộ sống theo bản thể thời làm Phật vậy.
🔗Vấn: Nếu nói như vậy, thời phiền não và Bồ Đề là hai, sao lại nói một được?
🔗Đáp: Đừng hiểu lầm.
🔗Bởi bản thể của phiền não và bồ đề là chân không, tự nhiên vắn lặng. Nhưng tự tánh của chân không vốn gọi là Bồ Đề, còn cái sanh diệt của chân không là phiền não. Như vậy thì phiền não nó ẩn hiện không ngoài cái tạng tánh Bồ Đề.
🔗Người mà hiểu biết như thế, thời vẫn tự nhiên thanh tịnh bất động trước cảnh sanh diệt của sắc pháp, không cấu nhiễm, không ngã chấp năng duyên và không lòng rối loạn. Cho nên gọi phiền não tức là Bồ Đề, sanh tử là Niết Bàn là vậy.
🔗Sau khi vấn đáp đến đây, ông thiện nam mới nói rằng: "Hay quá, thiệt là một điều chưa từng có. Lâu giờ mới nghe lời sư chỉ rõ ràng trên đường tu học tầm đạo, thật quý báu vô cùng, không chi sánh kịp. Con thành tâm đảnh lễ và đội ơn sư đời đời không dám quên."
🔗Nhà sư đáp lễ và nói: "Ông thiện nam về cố gắng tu nghe."
🔗Thiện Nam nói "Dạ Nam Mô Phật. Nam Mô Định Tâm Vương Bồ Tát Ma Ha Tát".
🔗Hết phẩm thứ 6
🔗Nam mô Thiền Sư An Lạc Hạnh.