Quay lại chuyên mục

Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 36

Một bài giảng chép lại thuộc mạch Liên Hoa Pháp Giáo.

Pháp giáoLiên Hoa
Liên Hoa Pháp Giáo - phẩm thứ 36 Trí Minh Phục Giáo. Cha mẹ sanh thân Phật trời sanh trí. Làm người có thủy phải giữ nơi chung. Đạo pháp trung dung vô người vô ngã. Vũ trụ hóa hóa, cơ tạo sanh sanh. Ai ơi nhớ một chữ lành trước đền chữ hiếu sau sanh thiên đàng. Học để mà nói đó là nói dối. Nói dối mà không tự nhận đó là tăng thượng mạn. Cảnh giả không thể sanh ra người thật, người thật không thể sanh nơi cảnh giả. Thật giả giả thật. Tánh hiếu kỳ của chúng sanh chỉ hay đi tìm cái mơ hồ huyễn hoặc mà sự thật trước mắt lại không dám nhận. Sự thật trước mắt đó là chân lý tuyệt đối mà thật như mơ hồ huyễn hoặc đối với chúng sanh. Mà không mơ hồ huyễn hoặc sao được khi chính chúng sanh còn mê lầm như người say rượu. Cái bình tĩnh trầm lặng là cái an nhiên vui vẻ. Mà tại sao chúng sanh không vui sống với nó lại đi tìm cái hư vọng quay cuồng ở tận đâu đâu? Tây Phương Thiên Đàng ở đâu? Bồng Lai Cực Lạc ở đâu? Nếu nó không phải ở trong thâm tâm thì chúng sanh ba đời truy tầm làm sao có được? Tâm sanh cảnh, cảnh sanh tâm. Tâm cảnh kết hợp thành một thế giới huyền linh của vũ trụ. Mỗi tư tưởng là mỗi cảnh giới, mỗi địa cầu và cũng là mỗi thọ mạng của chúng sanh trong địa cầu ấy. Chúng sanh có thọ mạng hay yểu số thì cũng tùy theo tư tưởng mà có hoặc trường hoặc đoạn vậy. Một niệm tưởng sai lầm của thân trung ấm sau lúc lâm chung là biến thành thú rồi. Như vậy không phải thân người khó đặng hay sao? Một niệm tưởng sai lầm của chúng sanh hiện tại là trở thành kẻ tà kiến ngoại đạo rồi. Như vậy không phải chánh pháp khó nghe hay sao? Sống trong cõi tăm tối nhơ trược lại không có đủ trí huệ phán xét chơn dạ như vậy không phải gặp Phật rất khó hay sao? Khi hữu sự mới biết ai là tri kỷ. Lúc vô điều có lắm kẻ khoe khoan. Nào ta trung ta hiếu, ta nhân, ta nghĩa lưỡng toàn. Ôi thế sự thủy chung mấy khác. Nghèo trong sạch mấy người hữu chí. Giàu vô mưu vị kỷ mấy ai. Thế gian đời đáo trong ngoài, thật hư hư thật hoàn lai nhãn tiền. Nghèo không tham, giàu không ích kỷ, một mực vững chí lòng chẳng đổi dời. Thế nhân làm đặng trọn đời, ấy người quân tử rạng người tổ tông. Kẻ tà kiến ngoại đạo chấp chặt lại cho rằng thấu triệt chân lý. Đó thật là kẻ vô minh hơn người đã vô minh. Kẻ tà kiến ngoại đạo nghe hiểu đặng chánh pháp mà không tự hối thời có khác chi kẻ mù cầm đuốc đi ngược gió mà không chịu liện bỏ. Người như vậy không thể tránh khỏi sự thảm hại ở tương lai. Kẻ tà kiến ngoại đạo mà lại tự phụ đối trước chánh pháp, thời có khác chi kẻ đói rác mà lại chê cơm và ký ninh vàng. Người như vậy không thể tránh khỏi sự buồn đau hối hận ở tương lai. Kẻ không minh đạt chánh pháp mà làm thầy dạy lại cho người thì có khác chi con chim trống Hồng Hoàng ấp con. Người như vậy mà lại không biết thẹn, còn tự hào là tu hạnh Bồ Tát. Thật đáng tiếc cho người thượng mạn. Bậc Bồ Tát là hạng người đã đắc chánh pháp nhãn tạng chứ nào phải si ngây như kẻ tà kiến thượng mạng mà hồng bịp đời để được no cơm ấm áo. Vải thưa không bao giờ che được mắt thánh. Kẻ mượn đạo tạo đời nếu không phải là hạng người cướp của đàn na thì đó là hạng người gì? Kẻ ly gia cắt ái thường tự khắc kỷ trong việc ăn mặc nói làm. Đó là hạnh của người chân tu đáng kính. Nói lời trong sạch, làm việc trong sạch, ý nghĩ trong sạch. Đó là hạnh của người chân tu đáng kính. Nói lời lành, làm việc lành, ý nghĩ lành. Đó là hạnh của người chân tu đáng kính. Tránh nói ác, tránh việc ác, tránh nghĩ ác, tránh lời nhơ, tránh việc nhơ, tránh nghĩ nhơ. Đó là hạnh của người chân tu đáng kính. Biết sự thật mà không dám nói là nhát, nói mà không nhằm lúc là hèn. Biết sự thật mà không dám nói, nói mà sợ phản đối là người quê. Dẫn bá tánh xuống bãi cát nơi sông Đồng Nai kia để đắp thành những cái núi cát, mong lên trên đó ở yên có được hay không? Lại cũng thế, kẻ không minh đạt chánh pháp mà vội vàng đi thực hành hạnh lợi tha thời có khác chi con dã tràng xe cát biển đông. Nước ròng lại lớn phí công tan rã. Quanh đi quẩn lại sự đời. Độ đời phải biết luật trời ra sao. Biết việc trước hiểu việc sau, mới mong cứu vớt đồng bào quẩn quanh. Quẩn quanh hai chữ quẩn quanh. Quanh đi quẩn lại sao thành lợi tha. Nhờ cặp mắt mà người ta có thể soi thấy được vạn vật chung quanh bên mình. Nhưng nếu không nhờ cái kiếng phản ảnh thì người ta không làm sao thấy biết được cặp mắt của mình. Lại cũng thế, nếu người tu không hành không dụng trí huệ hồi quan, thời không tài nào đạt được chơn tướng một cách thật thể chính xác. Đứng trước gió thổi cây động và gió ngừng cây tịnh. Nếu người không duyên theo cảnh động tịnh của gió và cây, ngược lại còn hồi quan để xem xét cái thấy và tánh thấy thì người sẽ hiểu biết được cái thấy bất động nơi mình đã có tự bao giờ. Cái thấy đã bất động. Cái tánh của thấy lại càng bất động. Cái thấy bất động đứng vững trong cái tánh bất động. Đó là một trạng thái siêu phàm thoát tục rồi vậy. Đứng trước giọng điệu thanh tao và cọc cằn thô lỗ. Khi có khi không, khi trầm khi bổng, nếu người không duyên theo cảnh có và không, ngược lại còn lắng nghe trở vào nội tâm để xem xét cái nghe và tánh nghe thì người sẽ hiểu biết được cái nghe bất động nơi mình đã có tự bao giờ. Cái nghe đã bất động, cái tánh của nghe lại càng bất động. Cái nghe bất động, đứng vững trong cái tánh bất động. Đó là một trạng thái siêu phàm thoát tục rồi vậy. Đứng trước cảnh có thấy nghe cùng không thấy nghe. Cái trí hiểu biết không duyên theo cảnh trí hiểu biết của thấy nghe. Ngược lại còn phản ảnh để xem xét cái trí hiểu biết, tức là thì người sẽ xác nhận được cái trí hiểu biết vẫn bất động. Cùng tánh của trí hiểu biết thì người sẽ xác nhận được cái trí hiểu biết nơi mình vẫn bất động từ bao giờ. Cái trí hiểu biết đã bất động. Cái tánh của trí hiểu biết lại càng bất động. Cái trí hiểu biết bất động đứng vững trong cái tánh bất động. Đó là những trạng thái siêu phàm thoát tục rồi vậy. Xác nhận được cái thấy nghe cùng trí hiểu biết là bất động, đồng thời tạng tánh của thấy nghe và trí hiểu biết bất động. Cứ nương theo đó mà hành thì lo chi không đạt quả Chánh Giác. Tâm là bổn thể rỗng lặng. Tánh là tạng tánh thanh tịnh. Trí là cái năng soi. Ý là cái năng sanh. Thấy nghe hiểu biết là cái diệu dụng thường còn. Tình, dục, tưởng là cái hay sanh diệt. Người phân biệt được các lẽ ấy thì khỏi cần tu tập chi nữa cả. Cứ tùy thuận theo sự viên mãn của trí huệ mà sống nơi đạo thời có chi bằng. Thấy thì năng quán, nghe thì năng lắng, hiểu thì năng gẫm, biết thì năng suy. Đó là cái diệu dụng của người liễu đạo. Tình thì năng vương vấn, tức là trói buộc. Dục thì năng nhiễm tức là gây nhân. Tưởng thì năng hiện cảnh. Đó là ba điều nên dứt của người hành đạo. Tình cảm đến tình yêu rồi tình dục chẳng mấy chốc. Người minh chánh chẳng nên gây tình cảm với kẻ khác phái trang lứa hoặc xê xích tuổi đời. Bằng chẳng vậy ắt khó tránh khỏi xa lầy. Chèo thuyền đi ngược sóng gió để mong đến chốn mà không đi dựa theo bờ để núp sóng gió lại hiên ngang đi ngoài giữa dòng sông thời chỉ có nước chờ cho mỏi mệt rồi neo thuyền ngồi nghỉ. Và đi xa hơn nữa là sóng dội quá mạnh thuyền càng ngày càng lùi rồi đứt dây neo trôi luôn hoặc úp chìm vì sóng gió quá mạnh. Lại cũng thế người tu hành tự độ chưa xong mà không đi tìm nơi thanh tịnh ẩn tu chuyên trì, lại mong sống nơi ồn ào náo nhiệt, tu cho mau đắc đạo thì có khác chi kẻ chèo thuyền hiên ngang ngoài giữa dòng sông ngược gió kia. Kẻ tu hành nơi náo nhiệt ồn ào chẳng khác người chèo ghe gặp sóng gió và nước ngược quá mạnh, chỉ có một cách là quăng neo bịnh đổi, chớ có mong gì đi đến nơi chốn. Kẻ tu hành mà cứ mãi ở nơi nghịch cảnh cũng ví như người bị trôi mà nếu được cây xào đang cắm ở giữa dòng nước đang chảy mạnh. Nếu không thừa cơ hội nhắm hướng đặng lội vào bờ thì có ngày cây xào sẽ tróc gốc trôi luôn ra biển cả, ắt làm mồi cho cá mập không thể tránh khỏi. Làm việc phải mà dư luận cho rằng quấy, người cứ vui vẻ đạp trên dư luận mà đi, đó đáng gọi là hạng người cao cả. Còn bằng làm việc quấy để cho tiếng đời bếm nhẹ, lại còn tự thị đạp trên dư luận của đời mà đi, đó thật là người vô liêm sĩ rồi vậy. Kẻ siêu nhân là hạng người như thế nào mà lại bịp đời? Chỉ có những kẻ tà kiến ác ý mới bày ra các trò ma quái rồi tự nhận là siêu nhân. Hòng dễ bề bịp đời đó thôi. Người hậu sanh dầu có mẫn đạt thấy mấy cũng không ngoài tầm mắt của các bậc vĩ nhân tiền bối. Vậy chớ nên ỷ lại mà phải hối hận muôn đời. Con người từ các loại thú cầm tiến hóa. Vậy văn minh để tiến bộ từ tâm phàm đến tâm thánh hay từ lòng người ra lòng thú? Sự vui say trong trụy lạc có phải là hạnh phúc của người chăng? Hãy nhìn thẳng vào sự thật coi thân tâm đoan chánh là đáng kính hay đáng chê. Và thân tâm gian xảo là đáng chê hay đáng kính. Khi nghe thấy kẻ gian nịnh ai cũng ghét nhưng sao không chừa bỏ cái hành động gian nịnh của mình cho mọi người thương? Ghét kẻ nịnh mà mình lại nịnh, chê kẻ gian mà mình lại gian. Thật không có điều gì xấu hổ cho bằng. Phật dạy pháp hành của chư Bồ Tát là giáo hóa chúng sanh nội tâm, tìm hiểu sự huyền bí ẩn mật, thần thông phép tắc sâu kín, linh thiên hiển hiện của các thế giới trong tạng tánh. Y như ngài thưở trước cho được sự viên mãn của trí huệ, đồng thời cũng hướng dẫn chúng sanh cùng đi như mình để được ích lợi mà người đời nay ngỡ lầm cho là Phật chỉ dạy đi giáo hóa chúng sanh bên ngoài sẽ được viên mãn công đức mà đắc đạo. Rồi họ không cần hành đạo tâm hầu đủ đầy những căn bản pháp lý giải thoát gì cả. Học được ít bài kinh, ít câu kệ, họ vội vàng ra mở đạo tràng, lập chùa, lập tịnh xá, tự nhận là mình hành đạo Bồ Tát Đại thừa. Đã vậy thôi đâu, lại còn phỉ báng những người chuyên tu thiền định, khổ hạnh đầu đà là ích kỷ, tu cho mình, không tu cho bá tánh. Thật là thầy đui dắt trò mù, lại đi trong đêm tối mà lại còn lớn tiếng khoe khoan này nọ. Rất đáng thương tủi cho hạng người tà kiến thượng mạn. Nhưng âu cũng là thời mạc pháp. Tránh đâu khỏi sự hiểu sai lầm của chúng sanh đối với chánh pháp của chư Phật Thánh đã chỉ dạy từ xa xưa. Phật chẳng bao giờ dạy người đui dắt kẻ mù đi trong đêm tối, cho sự lầm lạc lại còn lầm lạc sâu nặng thêm. Người trí giả lấy đó làm gương, hầu tự đánh thức nơi mình để khỏi lầm chánh lý. Tôi Tôi là một con người cũng biết đói ăn khát uống, nắng tránh mưa che và cũng có đủ tứ chi ngũ tạng lục phủ như bao nhiêu người chứ chẳng khác nào. Nhưng tại sao tôi lại nói chánh pháp của Phật? Xin minh sát Phật quả là gì? Phật và quả có khác nhau không? Đạo là gì? Đạo với quả có khác nhau không? Điều tôi dám quả quyết Phật không phải là quả, đạo cũng không phải là quả. Bởi cớ sao? Ví như trái bưởi có hột, trái bưởi đâu phải là hột bưởi và trái cam không phải là hột cam. Vậy nên người tầm đạo tức là tầm Phật, tức cũng là tầm cây để được trái. Tầm được Phật rồi thì sẽ có quả giác ở trong đó. Nhưng phải biết có khai cái Phật ra thời mới có quả giác. Cũng dụ như phải xẻ trái bưởi hoặc trái cam ra thời mới nhận được hột. Người đang cầm trái bưởi hoặc trái cam trong tay thời mới gọi thật là biết trái, tức thật biết đạo. Và người cầm dao xẻ trái để tìm hột mới thật là người biết hành đạo Phật. Và cuối cùng người có nhận được hột của cái trái đó thời mới được gọi là người đó đắc quả Phật, tức là quả giác trong tánh Phật. Thế thì Phật tức là tâm, đạo. Theo ông Lão Tử nói cũng là tâm. Người tầm được tâm chưa hẳn là người tầm được quả tâm nhưng chắc chắn sẽ có quả tâm tức quả Chánh Giác. Và người chưa tầm được tâm tức chưa tầm được Phật cũng như chưa tầm được đạo. Mà chưa tầm được đạo thì làm sao có quả của đạo. Cũng như chưa minh tâm kiến tánh thì làm sao đạt được tánh giác? Lại nữa, dụ như tầm được cây bưởi chưa chắc gì có trái bưởi, nếu sái mùa. Nhưng đã tầm được trái bưởi thì khỏi lo không có hạt bưởi. Thế là người tầm được tâm Phật và hành theo tâm Phật đó là người hành đạo thánh để đắc quả thánh. Còn người chưa tầm được tâm Phật cũng như chưa hành theo tâm Phật thì đó là người hành đạo phàm để đắc được quả phàm. Tuy nhiên trước có đắc quả phàm thì sau mới có tầm đặng đạo thánh và có hành đạo thánh mới có đắc quả thánh đặng. Tóm lại thánh phàm chỉ khác chỗ tâm. Nghĩa là người biết phàm để thuận theo tánh thánh và kẻ không biết tánh thánh nên vẫn tùy thuận theo phàm tâm. Vậy tôi chẳng hề khác chúng sanh. Nhưng chính tôi có cái hân hạnh là đã biết thấy hành động của Phật, biết nghe lời dạy của Phật, biết thâm ý của Phật. Do đó nên tôi mới dám giải bài chánh pháp của Phật. Và tuy giải bày chánh pháp của Phật chứ tôi cũng là tôi tự bao giờ, An lạc hạnh. Tam tạng kinh điển của Phật là một bức đồ hình chỉ vào các cõi trong tạng tánh, trong vũ trụ. Chứ kinh điển không phải là các cõi. Người trí giả nên hiểu biết như vậy để tránh khỏi sai lầm. Những chấm đỏ đen trắng vàng trên bức địa đồ là để chỉ những núi non, sông biển, xã quận tỉnh thành. Thật sự tỉnh thành không phải giống như các chấm đỏ đen trắng vàng trên bức độ hình đó. Người trí giả nên hiểu biết như vậy để tránh khỏi lạc lầm chánh lý. Văn kinh luật luận của Phật là đường đi bằng giấy, là cây bưởi giấy, là múi bưởi giấy, là hột bưởi giấy. Người thông suốt văn kinh Tam Tạng chỉ là hiểu biết đồ giả. Hiểu biết đồ giả tức là cái hiểu biết đã giả. Ngược lại, bạch tự tam tàng giáo điển của Phật là đường đi thật, là cây bưởi thật, là hoa bưởi thật, là trái bưởi thật, là múi bưởi thật, là hột bưởi thật. Người thông suốt bạch tự tam tàng giáo điển thời người ấy mới gọi là hiểu biết đồ chắc thật mà Phật muốn chỉ dạy chúng sanh. Hiểu biết đồ thật tức là cái hiểu biết chắc thật vậy. Văn kinh luật luận của Phật tuy giả nhưng ví như cây gậy rất cần cho người yếu đuối đui mù bệnh tật nương đó mà đi. Ngược lại nếu đem văn kinh luật luận ra mà triết giải theo ý phàm phu thì có khác nào tự gắn thêm vào cây gậy những chông gai nhánh nhóc rồi vì lê đi không được lại tưởng hưởng đặng của báu lớn trong tay và mãi ngồi đó ôm cây gậy cho là của báo riêng mình. Thật rất đáng thương xót cho người lầm lạc và đau lòng cho Phật pháp lắm vậy. Người trí giả chớ nên làm như thế mà tự trói buộc lấy mình. Văn kinh luật luận của Phật là chỉ chỗ hạnh quả của người hành đạo chứ văn kinh luật luận không phải là hạnh quả. Đã tự nhận là người Phật tử phải hành đạo, ví như trâu đi ăn cỏ mới no. Chứ đừng nhịn đói như trâu nằm ngơi mà gọi mình là người Phật tử. Nắm đuôi trâu để đếm từng sợi lông sao bằng leo lên lưng trâu mà cởi. Lại cũng vậy, đạo pháp sở dĩ có là do Phật phương tiện chỉ dạy chúng sanh cần hành đạo để được làm Phật chứ chẳng phải dạy học hiểu triết giải suông nơi lời phương tiện. Người trí giả phải nhận từng câu nơi đây cho chí lý bằng cách khách quan, chứ đừng thiên kiến mà gây điều lầm lỗi. Người sáng mắt nhận biết con voi thế nào thì người giác ngộ cũng biết chư Phật thế ấy. Sự ngủ thức không hạn của thời gian không gian vậy chớ có cố chấp mà mãi làm người trong mộng. Tại sao có kẻ ngủ say đến đổi người đánh mà không hay? Và tại sao có người ngủ thỉnh thức chỉ một tiếng động nhỏ là đã giật mình tỉnh dậy? Và tại sao có kẻ ngủ rất dài mà lại có người ngủ giấc ngắn? Ấy chẳng phải do căn tánh thanh trược nặng nhẹ cùng nhân duyên biến ảo trong mọi lúc trước khi ngủ và trong khi ngủ thì là do đâu? lại cũng thế. Pháp giáo phương tiện là những tiếng động để cho người tỉnh thức hầu tìm về lẽ thật. Nhưng có được tỉnh thức sớm hay muộn là còn tùy căn tánh thanh trược của mỗi người vậy. Kẻ còn ngủ làm sao biết được hành động của người đang thức. Cũng như không phải là voi thì làm sao biết được sở thích của loài voi? Bởi thế nên đối với chánh pháp nói thẳng vào hạnh quả của Phật, thời chỉ có Phật mới biết được Phật mà thôi. Trí viên giác là cái trí tùy thuận chánh pháp. Chánh pháp đã không hư, không thật, không có không không, không vô sanh, không sanh diệt. Bởi thế nên trí viên giác cũng do đó mà không có chỗ chứng và chứng. Tuy nhiên không có chỗ chứng và chứng chớ trí viên giác cũng thông biết mọi lẽ không ngưng không trệ, không ngăn không ngệ, không sắc không pháp, không tướng không tâm, không chơn không vọng, không mọi lẽ. Trí viên giác cũng gọi là đại viên cảnh trí hằng soi hằng chiếu, hằng hiểu hằng biết. Đầy đủ tướng tánh. Có không âm dương sự lý chơn vọng thật hư viên mãn hoàn bị. Không ngưng không trệ, không trước không sau, không trên không dưới, không phải không trái, không sạch không dơ, không qua không lại, không đến không đi, không dính không rời, không tất cả và không tất cả. Vậy nên trí viên giác là cái trí của người giác ngộ viên mãn hạnh nguyện hành đạo cũng tức là Phật trí, chơn trí, xá lợi trí vậy. Bồ Tát Bồ là voi ám chỉ là Phật, tức tượng trưng voi sáu ngà. Tát là hành động, tát cũng có nghĩa là làm. Người Bồ Tát tức là người đắc chánh pháp nhãn tạng và hành động theo hạnh của Phật để được làm Phật. Đạo Bồ Đề. Đạo là con đường, bồ là voi, ám chỉ là Phật. Đề là giác hay ngưng dứt. Chắc thật đạo Bồ Đề là con đường của Phật giác ngộ ngưng dứt mọi vọng tưởng điên đạo, rất chắc thật, không hề hoại diệt. Đạo chánh đẳng chánh giác. Đạo là con đường. Chánh Đẳng là ngay thẳng có một bậc. Chánh Giác là ngay thẳng, có một sự hiểu biết rốt ráo. Đạo Chánh Đẳng Chánh Giác là con đường ngay thẳng có một bậc, ngay thẳng có một sự hiểu biết duy nhất rốt ráo chứ chẳng có con đường hay cấp bậc hiểu biết nào ngoài khác cả. Thần thông của Phật. Thần là chơn thần hay chơn trí. Thông là thông suốt cơ tạo hóa, đạt lý âm dương rõ thấu tướng tánh có không hư nên, chơn vọng của các pháp thế gian và xuất thế gian trong mười phương ba đời. Người đắc thần thông của Phật tức là người đắc được chơn trí thông suốt cơ tạo hóa, đạt lý âm dương rõ thấu tướng tánh, có không hư nên chơn vọng của các pháp thế gian và xuất thế gian trong mười phương ba đời vậy. Người đắc thần thông có những hạnh phi thường mà người thế gian không thể lường được. Những hạnh ấy là: Hoặc biến làm rồng lượn trên hư không và lẫn trên sương mù mất dạng. Hoặc hiện làm rắn bò sát đất và rút trong hang thẩm ẩn mình. Hoặc biến làm voi oai phong lẫm liệt can cường. Hoặc hiện làm cỏ yếu đuối nhu nhược. Hoặc biến làm sư tử gầm thét chấn động cả rừng xanh. Hoặc hiện làm thỏ nhát hèn an phận. Hoặc biến làm gươm giáo sắc bén đến đâu là cây cối ngã liệt tới đó. Hoặc hiện làm nước sẵn sàng nẻ ra nếu có một vật gì đến. Hoặc biến làm Phật Thánh hào quang sáng rỡ. Hoặc hiện làm người phàm phu điên dại ngu khờ. Hoặc biến làm hư không trống rỗng. Hoặc hiện làm bất cứ một vật gì ở thế gian. Và định nghĩa thần thông. Thần là điển lực, là sức mạnh của trí huệ. Thông là thông suốt. Người có trí huệ vững mạnh bấy nhiêu thì thông suốt thế ấy. Nghĩa là từ ngôi phàm phu tiến đến vị Chánh Giác, tức cũng như có chân trí, tùy theo sức mạnh thông suốt của trí huệ mà mỗi người có thần thông nhiều hay ít, thiếu hay đủ. Cũng thí dụ như cục pin, điện càng nhiều thì ngọn đèn rọi sáng đặng xa và tỏ rõ. Còn bằng pin điện ít thì ngọn đèn rọi sáng gần và lu mờ hơn vậy. Chánh pháp của chư Phật thánh sở dĩ có là do đối cảnh mà lập, dầu là cảnh hữu vi hay vô vi, thế gian hay xuất thế gian. Nên có cảnh mà bỏ pháp là kẻ thượng mạn. Không cảnh mà chấp pháp là người vô minh si mê. Còn bằng chấp cảnh chấp pháp là kẻ tà kiến. Bỏ cảnh bỏ pháp là người ngoại đạo. Ngược lại có cảnh có pháp, không cảnh không pháp. Biết có biết không, có không chẳng ngại, tùy thuận nơi chánh pháp mà hành thì đó là người chí sĩ quang minh chánh đại rồi vậy. 11 chi thiền định Sơ thiền tức là tầm sát mừng vui, tịnh định. Nhị thiền là mừng vui tịnh định. Tam thiền là vui tịnh định. Tứ thiền là tịnh định. Ngũ thiền là định. Lục thiền là không ranh giới xứ định. Thất thiền là biết không ranh giới xứ định. Bát thiền là không sanh khởi có xứ định. Cửu thiền là chẳng tưởng, chẳng tưởng xứ định. Thập thiền là có pháp có tâm định. Thập nhất thiền là vô pháp vô tâm định. Hai thiền bồ đề. Nhất thiền là tự tánh định tức vô sanh định. Nhị thiền là chơn thường định, tức tự tại vô ngại định. Mỗi ngày đi trì bình một lần từ 8 giờ cho đến 10 giờ sáng. Mỗi ngày độ cơm ngọ một lần từ 11 giờ cho đến 1 giờ trưa. Mỗi ngày tắm rửa một lần từ 2 giờ đến 4 giờ chiều. Mỗi ngày lạy Phật một lần từ 6 giờ cho đến 8 giờ tối. Thiền định Mỗi ngày bốn lần thiền định kể cả giờ đêm. Từ 4 giờ đến 6 giờ sáng một lần. từ 4 giờ đến 6 giờ chiều một lần, từ 8 giờ đến 10 giờ tối một lần, từ 12 giờ đến 2 giờ khuya một lần. Phương tiện. Nếu vì bệnh hoạn, yếu đuối, bỏ ngỏ đi đường xa hay công quả Phật sự thì có thể điểm tâm ăn cháo hoặc bánh trái. Chiều có thể dùng nước trái cây hay bột. Điểm tâm từ 5 giờ cho đến 7 giờ sáng, uống nước chiều từ 3 giờ cho đến 5 giờ chiều. và có thể tắm rửa hai lần trong một ngày nếu gần sông rạch, suối, ao hồ. Ngoài những giờ khắc căn bản có thể tu thiền định, xem kinh, học kệ, giữ gìn giới cấm tịnh hạnh trang nghiêm hoặc tiếp khách giảng đạo, công quả Phật sự. Đánh chuông. Đánh chuông để thỉnh Trời Phật Thần Thánh thiêng liêng chứng giám lễ cầu nguyện đặc biệt hoặc tối rằm 30, tháng thiếu thì mùng 1 đánh ba hồi ba dụi. Thường mỗi buổi tối đánh một hồi ba dụi. Thường mỗi buổi sáng sớm đánh chín dụi. Thường mỗi buổi trưa đánh ba dụi. Đánh kẽng. Sắm một cái kẽng riêng để ở giảng đường đặng khi cần thỉnh chư tăng quy tụ nếu tịnh xá tăng, hay thỉnh chư ni quy tụ nếu là tịnh xá ni. Thời đánh một hồi ba dụi tức là tập hợp độ cơm hoặc điểm tâm uống nước hay đi bát tu thiền. Đánh chín dụi là thỉnh bát, đánh ba dụi là bưng cơm tức dọn quả đường. Khách tăng ni đến. Khách tăng ni đến viếng ngụ nơi nhà khách hoặc nhà tăng hay nhà ni không quá ba ngày. Nếu muốn ở ngoài ba ngày phải có sự chấp thuận của vị sư trụ trì. Đồng thời khi tạm nghỉ ở già lam, chư khách tăng ni nên giữ theo quy củ hiện hành nơi cõi già lam chứ không tự ý. Nếu tự ý, vị sư trụ trì có quyền quyết định đi hay ở. Khách cư sĩ khách cư sĩ đến viếng nghỉ nơi nhà khói hay nhà khách không quá một ngày một đêm. Nếu muốn nghỉ ngoài thời gian ấn định, phải có sự chấp thuận của vị sư trụ trì. Cõi Già Lam. Trong cõi Già Lam phải có một người đặc biệt do vị sư trụ trì chỉ định gìn giữ tài chánh đặng sắm mọi thứ cần dùng mỗi bữa, mỗi ngày cho tất cả trong chúng ở Già Lam chứ không được ai gìn giữ riêng lẻ hay ăn xài tự ý. Trong ni chúng hay tín nữ, những người mấy ngày không được sạch phải nên tránh lên chánh điện hành lễ và cũng không nên đi chung quanh cùng phía trước chánh điện. Bổn phận vị trụ trì phải sắp đặt cho chúng có thứ lớp trật tự, không đặng độc tài, tức nếu có điều chi khó giải quyết phải cùng trong chúng nghị sự, góp ý kiến. Trong chúng phải triệt để tuân theo sự chỉ thị của vị trụ trì điều hành trong luật già lam. Mỗi tháng hai ngày rằm và 30, tháng thiếu thì là mùng 1, vị trụ trì phải giảng đạo thuyết pháp tại tịnh xá cho tứ chúng nghe, đồng thời giải mở những sự mắt gút nghi ngờ cho tứ chúng được sáng tỏ. Kệ Diệu Âm Tán dương người mang thân trung ấm. Thần thông pháp nhiệm ở nơi tâm. Bớ hỡi trần gian cố gắng tầm. Lý diệu, diệu màu trong chánh pháp. Chân linh biến hóa, hóa muôn năm. Trí chuyển hóa hoặc trường hoặc đoạn. Ý sanh mỗi lúc mỗi thay. Phật thánh tiên thánh thần hiền các ngài, cõi nhiệm nhặt thần thông quảng đại. Biến với hóa đến đi qua lại. Trong phút giây mấy vạn dặm trường. Hiện hào quang sáng tỏ bốn phương. Oai lực ấy thế gian khó sánh. Người liễu ngộ tâm linh bổn tánh. Rõ huyền cơ Pháp giáo Như Lai. Xác thân phàm là kiếp đọa đày. Thể trần trược là nhân gốc khổ. Thương bá tánh hành trình mê lộ. Ngỡ nhục thân đắc đạo thay hình. Nào dè đâu thể xác in in. Của tứ đại vẫn là tứ đại. Trong bốn bể đến đi không ngại. Trung ấm thân bay chạy nửa lừng. Ẩn trong mây và hiện sắc thể sáng trưng. Đủ phép tắc đằng vân giá võ. Năng độ thế khai đàng mở ngỏ. Hay cứu đời khỏi đọa trầm mê. Tai am tường tiếng nói mọi bề. Mắt nhận biết khắp nơi khắp chốn. Tùy cơ duyên tiếp người khốn đốn. Phật Thánh Tiên huyền ảnh linh thay. Với hiền thần tất cả các ngài, thường tế khổ phò nguy bá tánh. Nhưng chẳng phải riêng Phật Tiên Thánh Thần, Hiền là hữu hạnh. Có thần thông bay liện đó đây. Mà quỷ ma cầm thú cũng sẵn đủ đầy. Thân biến hóa vạn môn vạn pháp. Trí cơ xảo lắm bày điều ô tạp. Pháp huyền linh nào kém thần tiên. Cũng hiện thân cũng biến mất tại tiền. Dạo các cảnh đến đi như chớp. Tuy rất giỏi nhưng còn thua Phật một đường chánh đạo. Là quán thông nguồn cội vạn bang. Dứt não phiền ma quỷ phải lai hàng. Và Tiên Thánh Thần Hiền thú cầm đồng nể phục. Thật cao quý thay cho âm dương hưởng phúc. Nhờ Phật ngài mà giải khổ luân hồi. Nhờ Phật ngài mà thiên số đã bôi. Tu đắc đạo được kim thân bất tử. Mong bá tánh chớ nên hung dữ. Lo tu tâm để hiểu thấu cơ trời. Vượt xác phàm để biến hóa rong chơi. Dạo tiên cảnh cùng Tây Phương Cực Lạc. Tu đắc đạo là trí màu thông đạt. Lẽ huyền vi cùng chỗ kết âm dương. Rõ mối manh của các nẻo các đường. Hầu an vị không còn nghi ngại. Một lần nữa đây xin nhắc lại. Trung ấm thân tiến thoái nhẹ nhàng, hiện thần thông biến các hào quang. Đi trong gió trong mây các cảnh. Riêng nhục thể nào đâu dám sánh. Bởi trược trần cấu tạo nặng nề. Biến không sanh mà hóa chẳng được, đáng chê. Nhưng bỏ nó thì khó mà mong đắc đạo. Phật ba đời mượn nó mà tuyên dương chánh giáo. Tiên nhờ đây mà luyện đạo vô vi. Thánh Hiền Thần cũng nương nhờ mà tạo phúc đức đủ đầy. Nên chớ bỏ chớ khinh khi còn mộng muội. Phật thánh tiên hiền thần quỷ ma. Xác không đổi mà tâm linh người đã đổi. Âm dương nhất lý. Ánh nhật hồng đà rạng chiếu cõi phương đông. Hỡi chúng sanh mau trở về nguồn cội, kết bạn với thánh tiên đồng chầu Thượng Đế và quỳ dưới chân Phật nghe kinh hưởng cảnh. Tiêu diêu nhàn lạc muôn đời. Vọng vàng tiếng kệ liên hoa, thanh tao réo rắc hiệp hòa lôi âm. Có ba hạng thiện tri thức. Hạng thứ nhất là thức mà biết mình ngủ. Đó là bậc hạ thiện tri thức. Hạng thứ hai là ngủ mà biết mình ngủ, là bậc trung thiện tri thức. Hẹn thứ ba là ngủ mà biết mình ngủ. Thức mà biết mình thức. Thức mà biết mình ngủ. Ngủ mà biết mình thức. Biết ngủ biết thức. Đó là bậc vô thượng thiện tri thức vậy. Nam mô Thiền sư An Lạc Hạnh.