14:38 bắt đầu
Liên Hoa Pháp giáo phẩm thứ 35
Liên Hoa Diễn Giáo.
Một bữa nọ tại ngôi đạo tràng tịnh xá Liên Hoa đầu voi rừng cấm, sau khi tỉnh tọa tham thiền ông Trực Văn đến bên đại sư cung kính thỉnh cầu diệu pháp.
Sau đây là lời học hỏi của ông Trực Văn, và sự giải đáp của đại sư An Lạc Hạnh.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, vì sao lại gọi Phật thuyết Diệu Pháp Liên Hoa? Kính xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì những ý chỉ Phật dạy trong đây toàn là lý giải thoát vượt ngoài sự hiểu biết của hạng phàm phu rất
nhiệm màu thậm thâm, tựa hồ như đóa hoa sen quý báu ngàn cánh có thể dung chứa đùm bọc tất cả chúng sanh vậy.
Trực văn hỏi: Bạch đại sư, trong Diệu Pháp Liên Hoa Kinh có nói Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh là ý như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Là Đức Thích Ca muốn nói rằng mỗi đấng toàn giác đều có trí huệ sáng suốt vững mạnh, tựa hồ như đèn trời là mặt nhật, mặt nguyệt có thể phá tan bóng tối vô minh cho tất cả chúng sanh ở trần gian vậy.
Trực văn hỏi: Bạch đại sư như trong kinh Diệu Pháp nói, trước khi chưa xuất gia thành đạo, Đức Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai có tám người con là Hữu Ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Bảo Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Trưởng Ý, Pháp Ý là nghĩa như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Là Đức Thích Ca muốn nói rằng mỗi đấng toàn giác trước khi đạt đạo chánh đẳng chánh giác đều có cái ý biết, suy nghĩ phân biệt mới tùng theo lẽ thiện mà hành. Đó gọi là Thiện Ý.
Vì có ý thiện tìm hiểu đạo pháp soi sâu vào nội tâm mới có đạt được trong một pháp có vô lượng nghĩa nên gọi là Vô Lượng Ý.
Vì có đạt được trong một pháp có vô lượng nghĩa mới hiểu biết được cái ý của mình là quý báu vô cùng tận nên gọi là Bảo Ý.
Vì có hiểu biết được cái ý của mình là quý báu vô cùng tận, mới tinh tấn thực hành theo lẽ thiện, mới thấy được sự kết quả trước mắt không còn nghi lầm, nên gọi là Trừ Nghi Ý.
Vì thấy được sự kết quả trước mắt không còn nghi lầm, mới trưởng dưỡng cái ý cho được trong sáng vững mạnh thêm nên gọi là Trưởng Ý.
Vì có trưởng dưỡng cái ý cho đặng trong sáng vững mạnh thêm hơn mới thấu hiểu được ý là nguồn gốc của vạn pháp và vạn pháp đều từ ý mà ra nên gọi là Pháp Ý.
Tóm lại, sở dĩ Đức Phật Thích Ca nói Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh khi chưa xuất gia thành đạo vô thượng có tám người con là ý ngài muốn bảo chúng sanh rằng: từ địa vị phàm phu tiến đến thánh quả Chánh Giác cần phải dụng ý suy nghĩ phân biệt chánh tà trong mỗi giai đoạn, và nương theo đó mà hành thời mới viên mãn được hạnh nguyện vậy.
Trực văn hỏi: Bạch đại sư, như nói Diệu Quang Bồ Tát giáo hóa tám vị vương tử, con của Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh là nghĩa như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Bồ Tát Diệu Quang là chỉ sự sáng suốt màu nhiệm của trí huệ rộng lớn. Tám vị vương tử là tám cái ý con của tâm Phật, tức là tâm vua. Nghĩa là nơi đây Đức Thích Ca không quên nhắc nhở cho chúng sanh hiểu biết rằng muốn tu cho đạt quả Chánh Giác thì cần phải dụng sự sáng suốt màu nhiệm rộng lớn của trí huệ, hướng dẫn cái ý đi trong mỗi giai đoạn mới tránh khỏi sai lầm.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, còn nói vị vương tử Pháp Ý đi tu đắc đạo là nghĩa như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì Đức Thích Ca nhắc nhở chúng sanh rằng: từ khi hiểu biết được ý vốn năng sanh vạn pháp, tức là đắc chánh pháp nhãn tạng, thì còn phải thực hành đúng theo sự thấy biết ấy nữa sẽ được viên mãn. Tức gọi là Pháp Ý xuất gia thành đạo. Chứ sự đắc chánh pháp nhãn tạng, đó chỉ mới là sơ tâm bồ tát. Nghĩa là hiểu rõ đầu dây mối nhợ của Diệu Quả Bồ Đề chứ chưa phải là Diệu Quả Bồ Đề, tức là quả Phật Toàn Giác. Nghĩa là nơi đây Đức Thích Ca muốn nói rằng khi hiểu được ý vốn năng sanh vạn pháp, vạn pháp đều từ ý mà ra và cũng vì ý mê lầm lại ngỡ là các pháp trói buộc mình và chính mình bị trói buộc. Thế là cái ý đắc pháp đó ly ra các sự trói buộc, tức gọi pháp ý xuất gia và cái ý dứt được các sự trói buộc tự chủ lấy mình hoàn toàn không còn mê lầm nữa, tức gọi Pháp Ý thành Phật vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, như nói đức Thích Ca thuyết thời pháp Vô Lượng Nghĩa Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm rồi ngài nhập vào chánh định vô lượng nghĩa xứ. Sau đó ngài lại thuyết thời Diệu Pháp Liên Hoa giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Nghĩa ấy thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì chư La Hán Duyên Giác chấp chỉ có một pháp hành, một pháp chứng nên Phật thuyết thời vô lượng nghĩa để phá chấp, đồng thời cũng để cho họ hiểu biết thêm rằng một câu pháp của Phật thuyết ra có vô lượng nghĩa chứ chẳng phải như cái hiểu sai lầm của họ là quả Hữu Dư Niết Bàn, Vô Dư Niết Bàn đầy đủ rồi, không mong cầu cái chi cao hơn nữa cả. Nghĩa là Phật bác hoàn toàn quả Hữu Dư Niết Bàn, Vô Dư Niết Bàn là giả, không thật để cho chư đệ tử tiến lên cái hiểu rộng lớn của chư Bồ Tát là có một quả Phật, có một Niết Bàn thật tướng chứ không có quả Niết Bàn nào ngoài khác cả.
Nhưng trước khi chỉ cái Niết Bàn thật tướng, e là chư đệ tử sợ sệch không vững lòng tin nên Đức Phật nhập vào chánh định vô lượng nghĩa xứ. Nghĩa là Đức Phật bảo chư đệ tử hãy tự trụ tâm trong một pháp có vô lượng nghĩa đó. Vì mỗi nghĩa là một xứ, tức là nói tắt là trụ tâm chỗ vô lượng nghĩa xứ. Và có trụ tâm chỗ vô lượng nghĩa xứ mới có thể kham thọ pháp giáo chơn thật là Diệu Pháp Liên Hoa. Nên sau khi chư đệ tử an trụ tâm trong vô lượng nghĩa xứ rồi, từ đó Phật mới tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa giáo Bồ Tát pháp Phật sở hộ niệm. Nghĩa là thời pháp Liên Hoa là một thời pháp khai cửa Bồ Đề chỉ rõ chỗ thật tướng hầu hộ niệm cho chư đệ tử thực hành hạnh Bồ Tát và đắc đạo Như Lai như mình vậy.
Tóm lại, sở dĩ Phật thuyết kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm và nhập vào chánh định vô lượng nghĩa xứ, cùng sau đó thuyết thời Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm, là vì Phật biết rằng lời nói chân thật khó nghe, khó hiểu, khó tin nhận, khó chứng ngộ. Nên trước khi nói sự thật, Phật cần phải trải qua giai đoạn hộ niệm cho chư đệ tử một giáo pháp rộng lớn của Đại Thừa là Vô Lượng Nghĩa. Và khi chư đệ tử có trụ tâm vào nơi vô lượng nghĩa xứ ấy mới có thể nghe nhận
được giáo pháp chân thật là chánh pháp nhãn tạng của chư Phật ba đời Diệu Pháp Liên Hoa kinh vậy.
Trực Văn hỏi: bạch đại sư, vì sao Phật lại thọ ký cho chư đệ tử? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì để khỏi hoang mang khi nghe sự thật tu chứng quả của một đấng toàn giác. Nên Phật mới phương tiện cho tất cả chư đệ tử đều biết rằng tức gọi là thọ ký. Rồi ra tất cả ai cũng sẽ thành Phật hết. Hầu họ được an lòng mà lắng nghe lời Phật dạy không còn nghi lầm.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, vì sao gọi là Dược Phương Dược Thượng Bồ Tát? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp: Vì Phật muốn nói rằng pháp ngài thuyết ra nơi đây năng làm lợi ích chúng sanh rất cao thượng quý báu hơn các pháp khác. Ví như món thuốc cao trên hơn các món khác. Như vị thuốc vua của các vị thuốc vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, sao lại gọi là bửu tháp của Đức Phật quá khứ ở dưới đất vọt lên bề cao 500 do-tuần, bề ngang rộng 250 do-tuần. Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp: Vì Phật Thích Ca muốn nói rằng khi chúng sanh thực hành đến chỗ nhất niệm, tức là vô biệt niệm, và trực giác lại nơi nội tâm của mình, thì nhận thấy từ trong nhất niệm có một chơn tướng của mình, tức gọi là Đức Phật quá khứ ngồi. Còn bửu tháp có bề cao 500 do-tuần là ám chỉ năm quả vị Nhập Lưu, Nhất Vãng Lai, Bất Lai, Vô Sanh, Duyên Giác. Và bề ngang bề rộng bửu tháp có 250 do-tuần, tức ám chỉ 250 giới tỳ kheo của Thinh Văn Duyên Giác. Tóm lại 250 giới (coi luật tăng đồ) cùng năm quả vị Nhập Lưu, Nhất Vãng Lai, Bất Lai, Vô Sanh Duyên Giác chỉ là cái dạng bề ngoài của chơn tướng tức Kim Thân Bồ Đề. Còn bửu tháp ở dưới vọt lên là ám chỉ nhất niệm phải có từ trong tâm địa bình đẳng hiện ra chứ không phải tìm kiếm bên ngoài mà có đặng.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, như nói hóa thân của Phật ở khắp cả mười phương, nghĩa ấy là như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Có hai nghĩa hóa thân của Phật.
Một là Phật bổn thể, tức tâm Phật.
Hai là Phật thị hiện, tức người giác ngộ.
Nếu nói hóa thân của Phật bổn thể thì tất cả chúng sanh ở trong mườ phương đều là hóa thân của Phật. Bởi lẽ mỗi chúng sanh là mỗi vị Phật hóa thân. Vì tất cả chúng sanh đồng một bổn thể mà ra, tức có Phật tánh. Còn bằng nói Phật thị hiện thì mỗi tư tưởng là mỗi thế giới địa cầu và cũng là mỗi thọ mạng của thế giới chúng sanh trong địa cầu ấy. Mà mỗi thế giới địa cầu đã do tư tưởng của người giác ngộ biến sanh, thì lẽ đương nhiên phải có một thể xác của người giác ngộ biến sanh trong thế giới địa cầu ấy. Nên nói mỗi hóa thân của Phật thị hiện chính là mỗi tư tưởng vậy. Nghĩa là người giác ngộ có vô lượng tư tưởng và vì mỗi tư tưởng có cao thấp khác nhau nên có nhiều cảnh giới chẳng đồng. Và vì có nhiều cảnh giới chẳng đồng nên mới gọi là hóa thân của Phật thị hiện khắp cả mười phương.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, như nói Phật Thích Ca triệu hồi hóa thân của ngài đồng tựu về nơi chỗ ngài ngự để khai mở cánh cửa Bửu Tháp. Nghĩa ấy thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Cũng như trên tôi đã nói, mỗi thế giới điệu cầu do tư tưởng của người giác ngộ biến sanh đều có một hóa thân của người giác ngộ. Như vậy người giác ngộ kia chỉ cần thâu nhiếp các tư tưởng trở lại nội tâm là chư Phật hóa thân đồng tựu chứ gì.
Này ông Trực Văn phải biết trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Đức Phật Thích Ca có nói ngài triệu hồi các hóa thân của ngài ở khắp cả mười phương đồng tự về chỗ ngài ngự để khai mở cánh cửa bửa tháp là ý ngài muốn nói rằng chỉ khi chúng sanh có nhất tâm thâu nhiếp các tư tưởng trở về nội tánh thời mới có thể tự khai mở cánh cửa Bửu Tháp vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, vì sao lại gọi là cửa bửu tháp mở, chấn động cả các cảnh giới trong mười phương? Và Đức Phật đa Bửu khen Đức Phật Thích Ca lên ngồi phân nửa tòa sen trong bửu tháp? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì Đức Thích Ca thấy biết rằng khi chúng sanh dùng chìa khóa là trí huệ để khai mở cánh cửa Bồ Đề, tức nhất niệm thì rúng động cả tâm thần. Tức là vì trong tâm thần có đủ tất cả các cảnh giới, do nhận thấy được của báu lớn tức Phật tâm của mình rồi từ trong tâm Phật ấy của chúng sanh ứng tiếng âm thầm khen ngợi Đức Thích Ca là rất hay, rất khéo. Mở bày Chánh pháp nhãn tạng đúng lúc, tức gọi Đức Phật Đa Bửu khen Đức Thích Ca. Và sau đó chúng sanh cũng nhận thấy rằng chính mình cũng đồng ngôi Phật như Đức Thích Ca có khác nào, tức gọi Đức Thích Ca ngồi phân nửa tòa sen trong bửu tháp vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, vì sao lại gọi trong khoảnh khắc Long Nữ có thể biến thành nam tử và đầy đủ oai nghi tướng tốt làm Phật liền? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì Phật muốn nói rằng với tâm địa hẹp hòi nhơ trược của chúng sanh, ví như người nữ, nếu biết giác ngộ, chỉ đổi có một niệm thì biến thành tâm địa thanh cao quảng đại, ví như người nam, và ngộ nhập vào chân tướng làm Phật liền tại chỗ, khỏi cần phải tu đâu cho lâu ngày vô ích. Tức Long Nữ biến thành nam tử và đầy đủ oai nghi tướng tốt thành Phật trong khoảnh khắc vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, sao gọi là Diệu Âm Bồ Tát? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì Phật Thích Ca muốn nói rằng, người đắc chánh pháp hành đạo nội tâm rất thâm diệu, khó thể nghĩ bàn.
Trược Văn hỏi: Bạch đại sư, sao gọi là Quan Thế Âm Bồ Tát xin sư chỉ dạy?
Đại sư đáp:
Vì Phật muốn nói rằng khi chúng sanh đắc chánh pháp nhãn tạng rồi thì phát lòng dõng mãnh rộng lớn để quán xem cõi thế giới âm thầm sâu kín của nội tâm cho được sự viên mãn của trí huệ tức toàn giác.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, sao gọi là Thường Bất Khinh Bồ Tát? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì Phật muốn nói rằng, một chúng sanh từ khi đã đắc chánh pháp rồi, thời nhận thấy rằng ai cũng sẽ đắc quả Phật như mình nên chẳng dám khinh khi ai cả. Tức là vì tất cả ai cũng có Phật tánh.
Trực văn hỏi: Bạch đại sư, sao lại gọi là An Lạc Hạnh Bồ Tát? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì Phật muốn dạy rằng chúng sanh từ khi đã đạt được sự an lạc nơi mình một cách chân thật rồi, thường hành cái hạnh bình đẳng chơn thật.
Trược Văn hỏi: Bạch đại sư, sao gọi là Phổ Hiền Bồ Tát? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì Phật muốn dạy rằng chúng sanh từ khi đã đạt được sự an lạc nơi mình một cách chân thật rồi thì nên đem sự an lạc chân thật hiền lành đó ban rải giáo hóa chúng sanh cho được như mình vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, sao lại gọi là Phật vò đầu thọ ký thì tóc rụng, và áo đang mặc biến thành áo cà sa liền? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Phật vò đầu thọ ký, tức là được Phật chứng minh cho làm sa-môn Thích Tử. Tóc rụng tức là sợi dây tơ tóc, tóc tơ tình ái giữa nam và nữ được dứt. Áo là áo mão buồn phiền biến thành áo cà sa, là áo giải thoát, là y thanh tịnh. Nghĩa là người được Phật chứng minh cho làm sa-môn Thích Tử thì kể từ đó sợi dây tơ tóc ái tình bị rơi rụng. Tâm hồn áo mão buồn phiền, nó liền thay vào một tâm hồn giải thoát thanh tịnh, cũng gọi là tâm phiền não biến thành tâm Bồ Đề. Sự lý nó là như thế, hoặc sự sự cũng có nhưng đó là siêu linh thôi.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, như trong kinh Pháp Hoa, Phật nói sự tu chứng chân thật của đấng toàn giác, nhưng chỉ nói cái sự màu nhiệm nào là thần thông phép tắc để chỉ cái mật ý sâu xa nơi nội tâm huyền diệu. E là khi chúng sanh nghe thấy những lời giải đáp của sư như trên rồi họ hiểu lầm cho là Phật nói dối chăng? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Ông đừng nghĩ như vậy. Sở dĩ vì sao? Ông phải biết vì nếu chúng sanh còn mê lầm thì không bao giờ họ dám nhận lời nói của tôi là chân thật. Mà nếu không dám nhận lời nói của tôi là chân thật thì đương nhiên là cho rằng Phật nói thần thông phép tắc như trong kinh là phải có hiển hiện. Ngược lại chúng sanh đã giác ngộ, dầu là giác ngộ giới hạn thì họ cho lời nói của tôi là chơn lý. Đồng thời lời nói của Phật trong kinh là rất màu nhiệm thậm thâm chứ họ chẳng có hiểu lầm như ý của ông nghĩ vậy đâu. Tuy nhiên đối với kẻ tà kiến ngoại đạo chấp chặt thì họ có thể bác hoàn toàn lời kinh của Phật và sự giải đáp của tôi nữa chứ chẳng riêng vì một trong hai trạng thái đó.
Nhưng cũng để xác minh lại chỗ này cho ông cùng chúng sanh hậu thế được rõ, trước tiên muốn phê phán lời kinh của Phật phải xét rằng lời nói thần thông phép tắc hiển hiện đó có giúp ích cho mình không hay là có hại? Lẽ dĩ nhiên không thể có hại được mà là có lợi. Vì mình có tin tưởng thần thông phép tắc linh ứng, mình mới hướng theo nẻo thiện. Và có sống trong nẻo thiện đó thời mới tiến dần đến chỗ thật thiện hoàn toàn.
Lại cũng thế, chúng sanh vì đang vui say trong cái ác giả hoàn toàn nên Phật mới phương tiện chỉ ra cái thiện giả. Tức và tuy ở ngoại tướng giả chớ rất chắc thật trong nội tánh. Và chúng sanh có thích cái thiện giả mới có lìa bỏ được cái ác giả. Và chúng sanh có sống trong cái thiện giả mới có tìm ra cái thiện thật hoàn toàn. Và chúng sanh có thật thiện hoàn toàn mới có xa lìa cái ác giả hoàn toàn.
Thế nên dù biết rằng thổi ban sơ mình sống với lối thiện kia là giả, tức dù rất chắc thật trong nội tánh nhưng cũng nhờ sống với cái thiện giả đó mới có xa lìa được cái ác giả từ từ. Mỗi cái ác giả là mỗi cái trói buộc đau khổ. Còn mỗi cái thiện giả là mỗi cái cởi mở vui vẻ tạm thời.
Có vui vẻ tạm thời mới có vui vẻ hoàn toàn.
Có tránh cái trói buộc đau khổ từ mới có tránh được cái trói buộc đau khổ hoàn toàn.
Cũng thí dụ như mỗi bước đi tới là bỏ lại, mỗi bước trên con đường về nhà để an nghỉ mãi mãi sau bao kiếp bị hành phạt, khảo tra ở trong chốn ngục tù. Lại nữa, nếu lời Phật nói sự mà không bày lý, nói tướng mà không chỉ tánh, nói có mà không chỉ không, nói dương mà không chỉ âm, nói hiển mà không chỉ mật, thì đó là dối. Nhưng đằng này trái ngược hẳn kia mà. Vậy thì lời nói của Phật rất là từ bi, chơn thật, chắc quyết chứ chẳng có giả dối chút nào cả.
Và trong trường hợp có ai cho là Phật phương tiện thiện xảo thì đó là người ấy chưa hiểu lời Phật. Ông cùng chúng sanh ở hậu thế nên hiểu biết như vậy và nên tin nhận như vậy chớ có sai lầm. Tóm lại lời của Phật trong kinh nói sự bày lý. Nói tướng chỉ tánh, nói có chỉ không, nói dương chỉ âm, nói hiển chỉ mật. Thật rất màu nhiệm thậm thâm, vô phương nghĩ nghi vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, như hạng người nào có thể thay thế Phật để giáo hóa chúng sanh đặng? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp: Người chứng thánh quả có thể thay thế Phật đặng.
Trực Văn hỏi: Chỉ người đắc thánh quả mới có thể đi giáo hóa chúng sanh thay thế Phật được sao? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp: Phải vậy, vì đạo Phật là đạo tu tâm. Người chưa đạt được tâm giải thoát, tức chưa dứt luân hồi sanh tử. Chỉ mới có thân xuất gia mà chưa có tâm xuất gia thì có biết mối manh chánh pháp là gì? Mà nếu không biết mối manh chánh pháp thì cũng như kẻ mù không khác. Mù mà dẫn đường cho kẻ khác cũng mù thì lại càng thêm tai hại chớ ích chi.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, người chưa đạt chánh pháp, tức chưa đắc quả thánh, giáo hóa chúng sanh càng thêm tai hại chỗ nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì đạo Phật là đạo giải thoát cõi mê để trở về bến giác. Do đó khi muốn đến bờ giác thì phải qua con sông mê. Nên trong khi người ở bến mê, ví như kẻ mù sống trong đêm tối, họ lại muốn qua bờ giác là cõi sáng và được sáng không còn mù. Nhưng họ lại được kẻ mù dẫn đường. Thì kẻ mù dẫn đường đó có biết con sông chỗ nào cạn, chỗ nào sâu, chỗ nào nước chảy yếu, chỗ nào nước chạy mạnh, chỗ nào có rắn rít, chỗ nào có cọp beo để mà tránh. Và bởi vì không biết nên hoặc cả thầy lẫn trò đồng chết chìm, hoặc bị trôi rồi tắp vào bến mê trở lại, hoặc bị rắn rít cắn, hoặc bị cọp beo ăn, hoặc bị cá nuốt, hoặc đi lạc đường. Mà nếu có những tai hại như vậy thì còn ai tin theo đạo Phật nữa? Thì chỉ vì vô tình mà chính kẻ dẫn đường phá chánh pháp làm cho chúng sanh bặt lối đi, đời đời sa đọa vào ác đạo. Như vậy, thử hỏi người dẫn đường đó thay thế Phật thừa kế sự nghiệp giáo hóa chúng sanh để được ích lợi chỗ nào?
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, nếu không có kẻ đắc chánh pháp thì chẳng có ai thay thế được Phật sao? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Nếu không phải người đắc chánh pháp thay thế sự nghiệp của Phật thì lối giáo hóa của kẻ phàm phu chỉ dạy
chúng sanh theo cái vỏ của đạo Phật chứ không theo cái ruột của đạo Phật. Nghĩa là chỉ theo cái giả tướng của đạo Phật chứ không phải theo cái thật tướng của đạo Phật. Mà nếu chỉ theo cái giả tướng thì sao gọi là thay thế Phật? Thế thì kẻ phàm phu chỉ có thể dẫn đường cho chúng sanh đi tìm nẻo Phật chứ không thể gọi là thay Phật thừa hành sự giáo hóa đặng.
Nhưng nếu có hướng dẫn chúng sanh thì cần phải tự nhận mình là kẻ đàn anh trên con đường tầm đạo của Phật. Có như vậy mới tránh khỏi sự bất mãn ê chề của đoàn hậu tấn đối với việc làm sai lầm của mình. Tức nếu mình bị sai và khi diễn giải kinh pháp của Phật Thánh cũng phải xác nhận đây là ý kiến cá nhân, chứ chẳng nên diễn giải cho là Phật nói thế này thế kia, khiến bá tánh lạc vào tà kiến lầm chấp sâu nặng. Tuy nhiên điều tốt hơn hết là chỉ dạy lại nguyên văn kinh điển của Phật thánh lưu truyền rồi tự bá tánh hay đoàn hậu tấn hiểu sao thì hiểu, chứ mình chưa đạt chánh pháp diễn giải kinh pháp của Phật thánh không thể nào đúng sự thật được.
Lại nữa, người chưa đạt được chánh pháp nên nêu gương Phật Thánh bằng hạnh kiểm oai nghi, trong sạch chân chánh, đó cũng là một lối giáo hóa quý báu rồi. Còn kinh pháp của Phật Thánh thì chớ nên giải nghĩa triết lý thêm nhiều, chỉ làm sai lạc cái ý chỉ trong kinh và gây nên sự rối rắm cho người hành đạo. Hơn nữa, kinh pháp của Phật thánh đã chỉ dạy rất xác thực và đầy đủ lý nghĩa sâu rộng đối với mỗi trình độ, mỗi căn cơ của chúng sanh nên tất cả mỗi người đều có thể nương đó tu hành, khỏi phải giải thêm nhiều cho tốn công vô ích, lại không nhầm mà thêm tội.
Trực Văn hỏi: Tam giáo quy nguyên là nghĩa thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Tam là ba, giáo là dạy, quy là quy tụ trở về, nguyên là nguyên bổn nguồn cội. Tam giáo quy nguyên có nghĩa là quy tụ ba cách dạy của Phật Tiên Thánh về một nguyên bổn nguồn cội là chơn tâm thật tướng. cũng như chỉ rõ cho người học Phật, học tiên, học thánh hiểu biết rằng tam giáo đều từ một chơn tâm thật tướng mà ra. Vậy nên quy tựu trở về một nguồn cội, một nguyên bổn là chánh pháp bình đẳng chơn như thực tế của tam thế Phật.
Vì trong chánh pháp ấy có đủ các căn thượng, trung, hạ và có đủ ba lớp học Phật Tiên Thánh vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, như cúng dường quý vị phàm tu có được phước báo không? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Người phát tâm cúng dường bố thí, dầu cho giúp đỡ những người nghèo khó đi chăng nữa cũng được phước báo nhân thiên. Huống gì là cúng dường những người tu hành. Tuy nhiên, đối với những người phàm mà chơn tu chánh hạnh, sanh lòng chí trọng cung kính thì cũng như cúng dường chư thánh không khác. Vì sao? Vì những người chơn tu như vậy chắc chắn không sớm thì muộn họ cũng sẽ đắc quả thánh. Tuy nhiên hiện tại họ còn phàm vì chưa đắc pháp, chứ họ cũng là một vị thánh ở tương lai rồi. Vậy nên sự cúng dường chẳng nên phân biệt phàm thánh. Vì không phân biệt phàm thánh thì sự cúng dường sẽ được vô lượng phước báo không thể nghĩ bàn.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, làm sao để chúng sanh phân biệt được đâu là chân tu và đâu là giả tu? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp: Muốn phân biệt được người chân tu, giả tu rất dễ. Vì người chân tu là kẻ chuyên tu thiền định, khổ hạnh đầu đà và năng giữ giới luật của Phật. Còn người giả tu là kẻ tham cầu danh lợi, buông
lung giải đãi, chê bỏ giới luật của Phật, không chuyên tâm trì dữ.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, như nói cúng dường được phước báo mà sao có kẻ cúng dường bố thí rất nhiều mà vẫn gặp phải bệnh tật, xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Vì tiền căn người cúng dường đó còn quả xấu nên hiện tại phải trả, còn sự cúng dường được phước báo kia sẽ được hưởng ở trong ngày mai. Khi đã hết quả xấu ở hiện căn. Cũng thí dụ như hồi năm trước mình trồng gai nên năm nay mình phải bị gai đạp nhức nhối mặc dù mình đang nhổ gai và không trồng gai nữa. Còn năm nay tuy mình trồng mía nhưng mía kia năm tới mới hưởng chứ đâu phải hưởng liền đặng. Lại cũng thế. Vì nhân quả có trước sau, có loại mau loại chậm. Nên lắm khi người làm ác hoặc làm thiện mà không hưởng được quả thiện hoặc ác liền. Và cũng có khi người làm ác hoặc làm thiện là trả quả ác hoặc quả thiện trước mắt. Tóm lại, chúng sanh hễ gieo nhân thì chắc chắn sẽ có quả. Bởi cớ sao? Có kẻ phàm thì có kẻ thánh. Có người thú thì có người trời Phật. Do đó việc làm của người hiện tại tốt xấu, sẽ có người siêu hình đã chứng biết. Có người chứng biết thì tất nhiên họ sẽ vận chuyển cho hưởng quả. Hoặc sớm hoặc muộn hoặc tốt hoặc xấu, tùy theo căn nghiệp phước đức của người gây nhân sẵn có. Nên nói lưới trời lòng lộng khó lọt mảy lông là vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, người tín thọ phụng hành lời dạy theo trong bổn tam giáo quy nguyên này sẽ được phước báo chi không? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Người tín thọ phụng hành đúng như lời chỉ dạy trong bổn tam giáo nguy nguyên này sẽ được phước báo vô
lượng, không thể nghĩ bàn đặng.
Trực Văn hỏi: những phước báo ấy là như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Là người ấy sẽ được chư vị Trời, Phật, Tiên, Thánh, Thần, Hiền, Bồ Tát, Kim Cang Bát Bộ cùng tất cả quyến thuộc các chư vị ấy ngày đêm hộ trì đắc lực, và tâm đắc chánh thọ đặng vô sanh pháp nhẫn. Bốn tâm vô lượng tam minh của Phật, trí huệ tự tại vô ngại, đầy đủ oai nghi tướng tốt, đặng lục thông toàn giác vân vân. Nghĩa đồng với phước đức, công đức của Phật không khác.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, lời nói ấy có dối chăng và làm sao để mọi người tin? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Khi nào hư không hoại diệt, nhật nguyệt rơi rụng, trong cõi thế giới này trở thành thâm u tịch mịch, tất cả chúng sanh đều biến thành tro bụi, thì lời nói đó như trên là dối. Còn bằng chẳng vậy, quyết chắc chẳng hề sai lời.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, người tà kiến ngoại đạo là kẻ như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Người làm việc trái chánh pháp của tam thế Phật hay ngụy tạo các trò ma quái giả dối để phỉnh gạt lòng tin bá tánh, tham cầu danh lợi, không biết đạo nghĩa nhân luân là gì, đó gọi là tà kiến ngoại đạo. Lại nữa, đời mạt pháp Ma Phật lẫn lộn trước mắt là thấy hình thức tu chơn, nhưng sau lưng họ lại dùng mọi xảo thuật thủ đoạn lừa gạt bá tánh một cách hợp pháp rất khó đo lường. Vậy nên phải rất thận trọng.
Trực văn hỏi: Bạch đại sư, như nói pháp môn tuy nhiều nhưng đều tưu trung về một quả Phật. Cũng như sở dĩ thấy một cây đèn mà có nhiều ánh sáng khác nhau. Nào là xanh, đỏ, trắng, vàng ở bốn bên tám hướng, là ví tấm kiếng che gió mỗi bên có khác màu, nên thấy như vậy. Chứ kỳ thật ngọn đèn chỉ có một màu sáng duy nhất mà thôi. Lời dụ ấy có đúng không? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Đúng mà không đúng bởi cớ sao?
Cũng như nước ngàn muôn rạch đều chảy ra sông và nước ngàn muôn sông đều chảy ra biển, lấy biển để chứng minh cái đạo. Nhưng dòng nước kia nào phải vừa chảy ra tới biển rồi ngưng, mà phải biết nó còn chảy ra đến rún biển. Và rún biển mới là cái đích. Nên biển chỉ là chỗ nhập một thể rộng lớn của muôn dòng
nước sông. Và từ chỗ nhập một thể rộng lớn đó còn phải chạy thẳng đến rún biển.
Lại cũng thế. Khi chứng minh cái biển là đạo thì đó chỉ là cái thể của đạo chứ chưa phải là cái đích cuối cùng của người tầm đạo. Cũng như chúng sanh khi đến cái một của đạo, thì còn cần phải đến đoạn đường cuối cùng của cái một đó mới trọn đạo, chứ chẳng phải đến cái một rồi thôi. Cũng ví như lá nhánh của cây đều hiệp về mình mẹ thân cây là một. Rồi từ mình mẹ thân cây còn phải đến gốc rễ của cây mới dứt đặng. Thế thì chứng minh ngọn đèn có nhiều mặt kiếng hay nhiều pháp môn đều quy tụ về quả Phật, đó chỉ là lời gọi tổng quát chứ chưa xác định mục đích chính của người tầm đạo. Cũng dụ như có người nói đường lên núi có nhiều ngã chứ chót núi chỉ có một. Lời nói này là lời nói cái kiếng có nhiều màu mà chỉ có một ngọn đèn duy nhứt, hay nhiều pháp môn đều dạy hướng về một quả Phật duy nhất đều đúng cả. Nhưng mà đúng theo lời gọi tổng quát trước khi xác định lại thì đường hành đạo đó không phải thông thường như lời gọi.
Bởi có sao? Vì cái kiếng còn một khoảng cách không gian mới đến ngọn đèn hay nhiều pháp môn còn quy về cái một là đạo. Và từ đạo còn phải có một khoảng cách không gian mới đến quả chánh giác. Hay nước ngàn muôn sông đều chảy ra biển rồi từ bìa biển còn phải ra một khoảng không gian mới đến rún biển.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, vậy phải xác định lại như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Có thể gọi đường lên núi chỉ có một, chót núi là điểm mục đích duy nhất mà người lữ hành cần đến. Còn đường đến chân núi thì cũng có quá nhiều. Bởi có quá nhiều nên khách thập phương ở các nơi mới có thể tề tựu lại chân núi được. Và từ chân núi mới có thể lên đến đỉnh núi. Vậy thì sở dĩ có nhiều pháp môn là để dạy cho bá tánh quy về với đạo tâm là một. Và khi thật về với đạo tâm rồi, bá tánh mới có thể từ từ tiến lên quả Phật Chánh Giác. Cũng như trên đường leo núi lên đỉnh núi. Và khi đó bá tánh mới tự biết đường mà đi đến nơi an nghỉ cuối cùng trên con đường về của mình, không còn sợ sai lầm.
Và trên con đường về đó, bá tánh mới xác nhận được rằng chỗ an nghỉ cuối cùng của mình cũng là của tất cả, không phải hai và chẳng có hai nếu ai muốn đến mục đích duy nhất ấy. Tóm lại, Phật Pháp thăm sâu, lời gọi tổng quát, không đủ những yếu tố xác nhận chỗ đến cuối cùng của người tầm đạo. Hay nói lời gọi tổng quát cũng có thể chỉ chỗ cuối cùng của người tầm đạo, nhưng đó là cái giả tướng bề ngoài của người tầm đạo chứ không phải thật tướng. Vì nếu thật tướng thì hành muôn pháp cũng ví như một pháp, mà một pháp cũng ví như không pháp. Trái lại cái giả tướng của pháp môn người hành đạo thì muôn pháp vẫn là muôn pháp, một pháp vẫn là một pháp chứ không thể nào xê dịch muôn pháp thành một và một thành không đặng.
Giả tướng của pháp môn thí dụ như cây. Nhiều cây hiệp lại thành một bó chứ không thể thành một cây đặng. Vì tuy một bó chứ còn có nhiều cây phân biệt. Còn thật tướng của pháp môn thí dụ như nước. Tuy nhiều gáo nước riêng lẻ chứ đổ vào một thùng rồi thì nước nhiều gáo riêng lẻ kia không còn riêng lẻ phân biệt nữa mà là hiệp thành một rồi vậy. Cũng bởi chấp vào cái giả tướng của pháp môn mà lắm kẻ ngỡ rằng khi mình đến chỗ một là đã đầy đủ rồi. Còn hiện giờ mình chưa đến chỗ một là quả đạo, chớ mình cũng là kẻ biết đạo, ngộ đạo. Nhưng họ có dè đâu? Ngộ đạo là thật hiểu biết đạo, là đến chỗ nhất một rồi. Còn họ chưa đến chỗ nhất một là chưa thật hiểu biết đạo, là chưa ngộ đạo. Chưa ngộ đạo là chưa nhận được mối manh của đạo. Mà chưa nhận được mối manh của đạo là họ còn trên con đường tầm đạo của Phật. Có nghĩa tầm con đường về chân núi chứ họ chưa phải là người hành đạo của Phật, tức là đang trên đường leo núi. Và nếu khi đã tầm được đạo của Phật tức nẻo về, là họ còn phải biết tiến theo nẻo đạo ấy để được làm Phật tức chơn như toàn giác chứ chẳng phải đến chỗ nhất một của đạo tâm là hoàn toàn đầy đủ vậy.
Trực Văn hỏi: Bạch đại sư, vì lý do gì sư mở bài giáo pháp và mở bày giáo pháp với dụng ý gì? Xin sư chỉ dạy.
Đại sư đáp:
Này Trực Văn, ông hãy nghe đây thì rõ.
Như hai kẻ kia từ thuở lọt lòng mẹ đến lớn khôn đã say rượu và say rượu hoàn toàn, chẳng có giờ phút nào ngưng nghỉ cả. Trong lúc say rượu ấy, dầu đi đứng nằm ngồi thức ngủ ăn uống trước mắt, họ đều thấy trời quay đất nghiêng. Do đó, họ đã nhiều lần phải té ngã khổ đau vì cố cưỡng lại trời quay đất nghiêng để mong đi đứng vững vàng. Nhưng càng cưỡng lại, họ càng lão đảo không thể đi đứng vững vàng được. Rồi rất may mắn thay, một trong hai người đó được tỉnh say và dứt say hoàn toàn. Thấy rõ rằng trời không có quay và đất không có nghiêng. Bất giác họ thở phào nhẹ nhõm, xét lại càng tủi thẹn cho thân phận mình.
Từ bấy lâu nay ngỡ lầm là trời quay đất nghiêng. Chứ kỳ thật đất trời vẫn tịnh mãi tịnh. Đất vẫn yên mãi yên, chớ có quay nghiêng như sự hiểu biết của mình lúc còn say rượu bao giờ. Rồi họ nghĩ bấy lâu nay bị té ngã khổ đau là vì muốn đi đứng cho yên thân nên cố cưỡng lại trời đất. Nào dè làm một chuyện điên rồ lầm lẫn mà vẫn không hay để giờ phút này mới biết. Thôi từ rày sắp lên mình khỏi cần muốn đi đứng cho yên thân thì tự nhiên mình cũng vẫn đi đứng thong thả bình yên, và mình khỏi cần muốn trời đất yên tịnh thì tự nhiên trời đất vẫn yên tịnh từ bao giờ.
Kế xét lại kẻ đồng hành, họ sanh lòng từ bi thương xót cho người còn đang say rượu, bèn mới phương tiện chỉ cách thức giải phá nghiệp say rượu. Và người còn đang say rượu khi hành theo lời dạy bảo của người kia nên được dứt say tỉnh táo trở lại. Khi tỉnh táo trở lại, người ấy mới tự thấy rằng: "Thiệt lúc trước vì mình sợ té nên cứ đi theo đường mòn mà vẫn té lên té xuống, không thể nào đi đứng vững vàng. Còn bây giờ mình khỏi cần đi theo đường mòn mà nào có té ngã ở đâu. Bây giờ mặc sức mà mình đi đến đích theo ý định." Rồi người ấy tự nghĩ thật mình ngu xuẩn quá: "Lúc anh kia mới chỉ cách thức dứt say, ảnh nói là trời không có quay, đất cũng chẳng có nghiêng, mà là tại chính mình quay nghiêng, mình lại không tin, còn cho là ảnh nói dối gạt gẫm mình để cầu lợi, nào ngờ bây giờ mới té lẽ. Thiệt anh kia rất hay, rất hiền lành, lòng hào hiệp của ảnh rất đáng kính phục, xém chút nữa mình không tin ảnh hoàn toàn thì hỏng việc rồi còn gì. Mình thật ngu xuẩn quá, ngu xuẩn rất tột bực và người ấy tự an ủi mà thôi. Mình biết mình ngu quá nên mình được khôn quá chứ thỏi trước mình nào có biết mình là kẻ ngu. Mình cứ cho mình là kẻ khôn ngoan ỷ lại nào là tài cao học rộng, phước to giàu đủ ít ai bì kịp. Bởi có cho mình khôn đủ giỏi hay nên không biết cái ngu của mình. Và vì không biết cái ngu, mình mới thật là kẻ ngu xuẩn hoàn toàn.
Đại sư tiếp: Này ông Trực Văn, giáo pháp của tôi đã mở. Vì lý do như thế và với dụng ý như thế ông đã hiểu chưa?
Trực Văn đáp: Bạch đại sư, con đã hiểu rồi.
Đại sư hỏi: Ông hiểu rồi như thế nào?
Trực Văn đáp: Con trò đã hiểu như vậy và như vậy.
Đại sư đáp: Thế thì hay lắm. Ông nên nương theo đó mà hành, chớ có sai lầm.
Nam mô Liên Hoa Pháp Giáo Hoàng Khai Đại Đạo Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Thiền Sư An Lạc Hạnh
Quay lại chuyên mục
Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 35
Một bài giảng chép lại thuộc mạch Liên Hoa Pháp Giáo.
Pháp giáoLiên Hoa