Quay lại chuyên mục

Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 33

Một bài giảng chép lại thuộc mạch Liên Hoa Pháp Giáo.

Pháp giáoLiên Hoa
liên hoa pháp giáo phẩm thứ 33 phép gom thần định trí phép gom thần định trí là một pháp môn chân thật mà tất cả ba đời chư Phật đều hành qua để đi đến nơi quả vị chánh đẳng chánh giác. Khi nói về pháp môn gom thần định trí là đã phương thiện khai thông tánh cho chúng sanh an trụ nơi ngôi vị sơ tâm niết bàn để rồi kể từ đó sẽ tiếp tục tiến bước đến nơi an nghĩ cuối cùng của quả vị chánh đẳng chánh giác. Thật vậy, khi chúng sanh đã hiểu nơi an trụ của mình rồi, còn dạy gì mà lùi bước trước trở lực của ma vương. Cũng thí dụ như một chiếc thuyền đang trôi lên đên giữa biển, lại thêm sa mù phủ kính chung quanh nên chủ thuyền không biết sẽ nương tựa vào đâu. Khi đã 20:0020 phútgặp bão lớn, thời rất may mắn gặp được một vị thiền sư chỉ rằng, "Này người kia, cách phía trước đây mười dặm, có một hòn đảo nơi đó có thể tránh gió đặng." Thế là người chủ thuyền kia vâng lời theo vị thiền sư nọ tức tóc bơi thuyền đến đảo, trốn gió được an toàn. Và sau khi qua được một trận bảo xong, vị thiền sư nọ lại dạy rằng, "Ở đây không yên đâu, vì còn nhiều trận mưa bão nữa đang đến. Phải mau trực chỉ về phương Tây cách đây 16 muôn dặm, đó là bờ biển. Cùng trên bờ biển có núi cao 3000 dặm. Trên chấp núi ấy có một tòa Bửu Đài chu vi 400 thước, bề cao 100 thước, toàn làm bằng bảy báo, vàng bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, mã não, sang hu hổ phách. Lại thêm bên trong ấy có ngọc minh châu ngày đêm chiếu sáng rực rỡ, người ở trong đó sẽ tránh khỏi mưa nắng gió xương của bốn mùa xoay chuyển. cầu chi đặng nấy, đồng thời dứt khỏi sự sanh già, bệnh chết kéo lôi. Chúng ấy mới thật là nơi an trú ngụ an toàn. Người kia nghe lời vị thiền sư nọ quay thuyền trực chỉ phương tây rong rủi đến nơi. Quả thật có y như lời vị thiền sư đó mách bạo. Lại cũng thế. Bần đạo hôm nay cũng ví như vị thiền sư nọ biết chắc rằng nơi tâm hồn mênh mông trống rộng của chúng sanh còn có một nơi an trụ để tránh những cơn gió nghiệp bảo lòng sống tình nước ái mà nó đã nhận chìm biết bao nhiêu kẻ vô minh tâm tối. Và đồng thời bần đạo cũng biết chắc rằng nơi hướng nào có thể nghĩ khỏe hoàn toàn và hành phương pháp nào để được đến 22:0022 phútchốn, vũ khí nào hộ thân để khỏi phải bị yêu tinh ma quỷ rắn rít dọc đường giết hại. Thế thì phép gom thần định trí là như thế nào và tại sao phải gom thần định trí? Vì thần là điển lực, là sức mạnh của tinh thần. Trí là cái năng soi phân biệt của tinh thần. Tinh thần là lời gọi tổng quát thông thường. Còn nói đặc biệt theo chi tiết sở hành đạo pháp đây thì là trí thần hay thần trí. Bởi tinh là tinh hoa của sự sống của con người. Mà sự sống của con người tức là trí huệ. Vậy thần là điển lực, là sức mạnh của trí huệ. Trí định thời thần gom tức huệ sáng. Hay nói trí định thần về chơn nhơn vững. Chơn nhơn đây là nói về chơn mạng. Chơn là chơn thật. Mạng là mạng sống. Chơn mạng tức là mạng sống chơn thật trường tồn. Nghĩa là người có được trí thần vững chắc thì mạng sống đây. Tức hoặc là thân hữu hình hoặc là thân trung ấm hợp với tánh chơn thật hay tánh chơn như. Và một khi chúng sanh đã sống hợp với chơn tánh thì lần hồi tu tiếng nữa nó sẽ hiện ra được chơn tướng, tức ông Phật hay cũng gọi là kim cang thân của Đức Như Lai. Nên người đắc được chân nhơ thời gọi là thiên tiên bồ tát. Người đắc được chơn tướng thì gọi là Phật Như Lai. Tuy nhiên dù người có đắc được chân tướng để làm Phật Như Lai chăng? Chứ sự sống thì vẫn sống bằng chơn mạng. Nhưng vì chân mạng ấy bên trong còn có cái tánh kim cang cứng chắc nên sự sống chơn mạng Như Lai siêu vượt hơn thiên tiên Bồ Tát rất nhiều. Nên nói chơn tướng tức kim cang thân nó có hiển hiện được là do từ chơn mạng. Nếu rời chơn mạng thời không có kim cang thân. Vậy tóm lại, bởi tâm trí chúng sanh thường hay suy tưởng, vững vơ, năng lìa tự tánh nên thần cũng do đó mà tản mát nên huệ lực không đủ để giải phá vô minh nghiệp báo, phiền não giấy sanh để trở thành Phật. Và cũng vì muốn làm Phật nên phải gom thần định trí. Vậy pháp hành gom thần định trí. Hành giả ngồi bắt chân triếtc già hoặc bán già thẳng lưng, đầu hơi cúi xuống một chút, chỉ hơi cúi thôi, mắt ngó ngay về phía trước cách một thức rưỡi. Lấy dấu đen hay trắng làm điểm để ngó ngay chỗ đó, hai tay để lên đầu gối hoặc bắt ấn tam muội theo kiểu Phật ngồi cũng được. Miệng ngậm răng khích lại, lưỡi để tự nhiên, mắt từ nhắm lại hai phần ba mí. Nên nhớ khi buồn ngủ thì mở ra hết cũng được và khi không buồn ngủ nhắm mắt luôn cũng được. Vì nhiều khi buồn ngủ mà nhắm luôn thì nó ngủ gục. Hay khi loạn tâm mà mở ra hết thì chói lòa mắt, tâm trí không định được. Nếu ban đêm thì ngồi dây mặt ra chỗ trống, ban ngày thì ngồi dây mặt vô vách. Xong rồi mới hít vô ba hơi thở, mỗi hơi chuyển cho nó chạy khắp châu thân, đồng thời song song với hơi thở chạy vô thời hơi trược lại chạy ra miệng rồi thở ra luôn. Thở ba hơi xong là lắng tâm cho lặng lẽ nghe tâm rất vắng vẻ u tịch không có gợn một chút bụi trần nào. Cái trí in sâu vào cõi vắng vẻ u tịch và định luôn nơi đó. Hơi thở hít nhẹ nhàng đến phổi và thở ra nhẹ nhàng. Vừa thở ra vô nhẹ nhàng như vậy, vừa lắng tâm niệm Phật hay niệm số. Tức từ số 1 đến số 100 rồi trở lại. Vừa đếm đi đếm lại như vậy, vừa lắng tâm một hồi nghe tinh thần lẫn thể xác. Nó nhẹ nhàng thơi thới bắt đầu quán sát chuyện đạo, chuyện đời, đem so sánh cái này với cái kia, suy ngẫm những lời Phật dạy, những gì bí ẩn trong tâm và ngoại tướng. Tìm tội khai mở cho ra lẽ ghi nhớ từng đoạn cho rành mạch đặng khi xả thiền ghi chép vào sổ để dành xem về sau khỏi quên. Nhưng có quán xét suy ngẫm tìm tồi này nọ mà phải tuyệt đối luôn luôn lắng nghe nội tâm. Nghe hoài nghe mãi cái thấy vừa thấy biết bên ngoài mà vừa thấy biết sự vắng lặng của nội tâm. Khỏe thì quán, mệt thì cứ an trụ trong chỗ vắn lặng của nội tâm ấy mà niệm Phật. Sự kết quả. Hành giả khi làm như vậy được một thời gian, điển lực tức thần lần lượt gom về tụ lại ngay chỗ tam tinh, tức chỗ giữa hai chân mài giáp lại, trí huệ càng ngày càng sáng, chí khí càng ngày càng cứng chắc. Điển lực càng ngày càng vững mạnh, 28:0028 phúthệ ý càng lắng, trí càng định, thời thần càng gom. Thần gom đủ trí thần nhập một, quán sát sáng tỏ vô ngần, thấy đâu biết đó. Tức tục gọi là con mắt thần hay mắt giữa. Hành giả hành liên tục, trí ý nó thuần hòa, quen chừng an trụ như vậy mãi. Đến khi đi, đứng nằm ngồi, ăn mặt, nói làm thức ngủ đều hành được cả, thì tự nhiên thấy có hành mà không hành, không hành mà có hành, tinh thần lúc này sẽ trở lại cảnh thường, bất biến ắt sẽ ngộ được chân tướng. Tức kim cang thân của Đức Như Lai mà làm Phật. Vậy phép điều hòa hành giả trong khi ngồi gom thần định trí tham thiền lại nghe tâm thần mệt mỏi muốn ngủ gục thì nên chuyển hơi như vậy. Vừa hít hơi vô vừa chuyển hơi đem lên mũi và thở ra. vừa chuyển vừa giữ thân tâm yên lặng tự nhiên làm liên tiếp một hồi thời tinh thần tỉnh táo trở lại. Hoặc khi đang ngồi tu hành mà nghe xác thân nhẹ nhàng quá, muốn bay bỏng lên không trung thì chẳng nên tưởng bay mà phải kiềm chế lắng tâm trở lại, định trí quán sát liên tục hay niệm Phật đếm số một hồi thì dứt. Bởi phép tu này là kiềm tâm tự chủ lấy mình chứ chẳng phải móng tưởng. Vì nếu móng tưởng bay thì sẽ bị ma ba tuần ám ảnh, dẫn dụ hút hồn đi. Trong khi xuất hồn ra rồi thời chúng lại cướp xác này ngay. Và trường hợp hành giả khi ngồi lắng tâm định trí quán sát xem thấy được sự sanh già bệnh chết vốn vô thường nhàm chán trong cảnh khổ. Cầu vui niết bàn tịch mịch thân tâm hoan hỷ. Do sự tu hành kết quả đắc pháp an lạc, trường hợp này cũng phải bình tâm lẫn lặng, định trí quán xét liên tục, không rời cái tánh vắn lặng đó để được trí huệ phát sanh thêm lên. Bởi người đắc pháp an lạc như vậy thời gọi là hữu dư niết bàn. An lạc trong cái không an lạc pháp này. Còn giả đừng sanh tâm chấp trước mà phải cố gắng tiến lên chỗ chơn thường, chơn lạc, chơn tịnh của vô thượng đại niết bàn. Vậy lại nữa, hành giả khi đang tu thiền mà nghe thân tâm vắn lặng tịch tịnh rất bong long, lần hồi trí ý diệt mất luôn không còn biết gì cả, tựa hồ như ngủ. Đó gọi là phi thường định. Bởi cái định đó nó vốn không thường. Khi thân tâm vắn lặng, ngồi yên như chết, tưởng chết. Không không không có gì hết buông xuôi. Không muốn biết gì hết mới đến cảnh đó. Còn bằng mà còn biết đi đứng nằm ngồi ăn mặt nói làm thức ngủ thời không thể đến được. Nên cái định ấy gọi là diệt tận định cõi vô dư niết bàn. Mà diệt tận định cũng gọi là phi thường định, tức là cái định không thường. Mà không thường là giả. Nên trường hợp này hành giả đừng buông xuôi mà đi vào việc tận định. Vì cảnh đó không phải là cảnh bồ đề của tam thế Phật. Hãy định trí trở lại trong cảnh vắng lặng đó mà quán xét suy ngẫm hay lặng tâm chuyển hơi lên thở ra mũi. Làm như vậy mãi thì sẽ định được trong cảnh vắng lặng. tự chủ được cái biết trong cảnh trống không, định trí được trong cảnh phi thường định, ý năng sanh vạn pháp mà không vọng khởi ra ngoài tạng tánh thanh tịnh. Đó là cảnh định của chư Bồ Tát và Phật. Vậy cùng trường hợp lúc hành giả đang hành trì mà nghe nhức đầu nóng mắt thì phải biết đó là hỏa vọng phải điều hòa như vậy. Hít hơi vô chuyển đem xuống vừa thở ra vừa hít vô chuyển xuống chỉ làm điều hòa nhẹ nhàng vừa lắng tâm vừa chuyển như vậy một hồi thờ hết. hay có khi hỏa vọng quá, mặc dù không ngồi tu thiền gom thần định trí mà vẫn nóng mặt nhức đầu, thời mỗi buổi sáng thức dậy, đừng rửa mặt trước mà phải xối một gáo nước xuống hai bàn chân trước cho hạ hỏa rồi sẽ rửa mặt sau. Đồng thời mỗi buổi sáng sớm ra đứng chỗ khoảng trống, hít hơi vô bằng mũi cho dài, thở ra bằng miệng cũng cho dài. Làm chừng 10 hơi như vậy, ít ngày thời sẽ hết. Những điều nên lưu ý, phép gom thần định trí tham thiền này là lắng tâm định trí trong cảnh vắng lặng của sự lắng tâm đó. thì thần tức điển lực từ tụ lại nơi tam tin chứ chẳng phải tưởng trụ tâm nơi tâm tin. Vì nếu hiểu sai lầm mà tưởng rằng trụ tâm nơi tâm tin tức hỏa vọng lên quá sẽ đau đầu đau thần kinh mà hóa ra cuồng loạn. Và đồng thời phép chuyển hơi đem lên là để giúp cho tâm thần nhẹ nhàng khỏe khoắn, dứt đi chứng hôn trầm ngũ gục chứ chẳng phải chuyển lửa, chuyển nước gì hết cả. Bãi lẽ nếu hiểu sai lầm, chuyển lửa đem lên thì nóng loạn thần kinh, chuyển nước đem lên thì thậm thủy khô kiệt, tức tứ đại bất hòa sẽ sanh ra bệnh hoạn mà chết. Phép tu hành này chỉ giữ ngay mực giữa không thái hóa, không bất cập. Lắng tâm thanh tịnh điều hòa, hơi thở nhẹ nhàng ra vô. Trí định trong cảnh vắng lặng mà quán xét suy gẫm đạo đời phải quấy hư nên thành bại theo dõi hành vi cử chỉ ý nghĩ nội tâm lẫn ngoại tướng của mình trong mỗi lúc để trao sửa cho thuần hòa. Chân chánh trang nghiêm không khổ hạnh ép xát bỏ ăn bỏ uống không giải đãi buông lung ăn uống tạp nhập nhiều lần trong một ngày. Ăn mỗi ngày một bữa ngọ trưa thôi, sáng thì có thể điểm tâm. Nếu là người xuất gia, khác nước thì cứ uống. Người cư sĩ độc thân cũng có thể tập hành theo pháp này được. Nhưng sự ăn uống thì tùy khả năng chứ không bắt buộc như người xuất gia. Ghi nhớ người có thân mới dễ tu, dễ ngộ, dễ nhập. Chứ nếu bỏ thân này rồi rất khó tu, khó ngộ, khó nhập. Nên cần giữ gìn thân này để trao tâm luyện trí. Đừng hủy hoại nó mà rời bỏ xác sớm khi chưa thành đạo. Phải bị luân hồi trở lại nữa thì khổ lắm. Đã mang xác thân này lại có đủ căn duyên để tu hành thì đó là một điều rất hữu hạnh. Phải bền chí nhẫn nại mới nên. Tuy nhiên cần giữ gìn thể xác này để trao tâm chứ cũng đừng luyến tiếc cạo gọt sửa sang bề ngoài thái hóa. Vì làm như vậy nó sẽ ảnh hưởng đến đạo tâm rất nhiều. Sống bởi chúng sanh nên cần phải sống. Chết vì chủng loại nên đừng sợ chết. Chết sống là lẽ thường của sát thân nhục thể. Đừng cố chấp thể xác. Đừng phụ bỏ thể xác. Lành thì cho sạch, rách phải cho thơm. Bệnh thì uống thuốc. Mạnh thì đừng tẩm bổ, bình thản tự nhiên, viên dung xử lý. Pháp hành tùy duyên luân chuyển, hoặc đi hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, hoặc ăn hoặc mật, hoặc nói, 37:0037 phúthoặc làm, hoặc thức, hoặc ngủ, hoặc sống, hoặc chết. Trí năng định đặng gom thần về hiệp một. Thần trí hiệp một thì có chơn mạng, hành thì thêm đúng theo quy tắc do trí huệ quán chiếu sẽ đạt được chơn tướng, tức kim cang thân của đức như lai. Đạt được kim thân cũng gọi là kim cang thân của đức như lai thời công tròn quả mãn rồi vậy. đềm lạ xuất hiện. Hành giả khi hành phép gom thần định trí này đúng cách thì đang ngồi tham thiền hay thấy ánh sáng hiện ra chung quanh rạng rỡ hay mặt nguyệt mặt nhật hoặc thấy tòa s hoặc thấy phật tướng hảo quang minh hay trường hợp khi đang tham thiền mà thấy rắn rít cọp beo nhà cửa, gà vịt chim chóc ruộng vườn vân vân nói chung tất cả cảnh lạ gì xuất hiện trước mắt chung quanh thì phải biết rằng đó là do nghiệp báo xuất hiện chẳng phải thật. Trường hợp này đừng hoảng sợ, cũng đừng móng tâm ham thích mà vẫn ngồi an nhiên lắng tâm niệm Phật đếm số hay quán xét đây là cảnh giả chứ không phải có thật. Vững tâm hành trì như vậy thì tự nhiên các cảnh ấy lần lần tiêu diệt. Lại nữa, người lắng tâm định trí gom thần trong những giờ tham thiền hay ngũ nghĩ mà quỷ thường hay xuất hiện quấy phá này nọ hoặc chư thiên hay thị hiện thử thách đạo quả cùng trời Phật ra cơ cho biết những điềm hư nên trên đường hành đạo và tương lai vận mạng ra sao. Trường hợp này hành giả phải bình tĩnh, phán xét thật giả hư nên cho kỹ càng. Đừng sợ sệt, đừng ham thích, sanh tâm đắm nhiệm mà bị ma ba tuần ám ảnh tinh thần dẫn dắt. Quyết nghi hành giả trong khi đang tham thiền gom thần định trí. Nếu có nghe tiếng nói nho nhỏ bên tai hoặc nói pháp hoặc mách bảo chi chi hay Phật hiện ngồi trên tòa sen hào quang rực rỡ thì phải biết rằng đó là giả cảnh đừng ngỡ lầm mình đã đắc được đạo. Có thần thông mà phải bị xa đọa vào địa ngục. Bởi người đắc đạo không phải có cái thấy nghe thông thường do âm thinh sắc tướng từ bên ngoài đem đến như hạng phàm phu đâu. Tuy nhiên người đắc đạo cũng không phải rời cái âm thanh sắc tướng mà có cái thấy nghe hiểu biết đặng. Nhưng cái thấy nghe hay hiểu biết lại càng không phải do nơi âm thinh sắc tướng mà ra. Nghĩa là người đắc đạo là kẻ biết nghe, biết thấy, hay thấy, hay nghe, thấy không tướng, nghe không thinh. Hoặc nói người đắc đạo thấy nghe mà không thấy nghe, không có thấy nghe mà có thấy nghe nhẫn đến sự xuất thần biến hóa, phép tắc cũng thế. Nghĩa là có xuất thần biến hóa mà không xuất thần biến hóa mới gọi là có xuất thần biến hóa phép tắc. Lại nữa, người hành thiền tự tánh vô sanh này đúng thì những pháp vi tế do sự huân tập nhiều đời kiếp trong tâm thức sẽ từ từ phát hiện. Phải dùng trí huệ tự tại vô ngại không lìa tự tánh mà quán xét triệt để tận nguồn cội của nó để không còn si mê lầm chấp các pháp vọng giả. Đồng thời hành pháp tự tánh này đúng mà có điển lực gom về tại tam tin. Ví như bình ắc quy sạc điện, ghim cái nút âm và dương từ bên máy điện truyền vào đúng chỗ thì sẽ được điện để xài. Nhiều việc tùy mình, tức có điện lực đầy đủ mới chiến thắng nổi ma vương và chú quỷ. Điện lực của máy chạy ví như điện khí âm dương của trời đất. Bình ắc quy là tâm thần của mỗi người. Nút ghim và sợi dây truyền vào như là pháp hành tự tánh vậy. Phép xả thiền. Nếu ngồi lắng tâm định trí tham thiền trước khi xạ phải lắc mình qua lại ba lần. Hai tay xoa xoa cho nóng, háp vào hai con mắt ba lần. Kế đến xả chân ra, hai tay chà phía sau lưng dưới chỗ thận thủy cho nóng đều. Chà hai vành tay, chà cổ phía sau ót hai màn tan, hai vai, hai tay, hai chân hai bên sương sườn. Phía dưới nách nếu bị tê chân thì bóp giả mấy đầu ngón chân ít lần sẽ hết. Kế đến ngồi thẳng lưng, hít hơi vô ngậm lại, thở ra từ chuyển máu cho chạy lưu thông khắp mình trở lại. Làm liên tiếp ba hơi như vậy rồi ngồi nghỉ lối năm ba phút. Hãy đứng lên đi hoặc nằm hoặc đứng hoặc đi. Đi nằm sớm quá. sẽ dễ sanh bệnh có hại. Tứ thời hành giả khi mới tập tu thiền gom thần định trí, nếu xuất gia thì một ngày một đêm tức 24 giờ. hành bốn thời đó là mới tối, nửa đêm, gần sáng và xế chiều tức giờ tí ngọ mẹo dậu. Còn người tại gia thì hai thời mới tối và gần sáng. Khi ngồi thì tùy theo khả năng, ngồi nhiều hoặc ít. Nếu đau chân quá thì nên xả chứ đừng ráng mà sinh ra loạn tâm không tốt. Mới tập ngồi ít chừng 10 hay 20 phút, sao lâu quen thì ngồi nhiều một đến 2 giờ. Đừng móng tưởng thần thông phép tắc hay xuất thần này nọ mà bị ma ba tuần nó ám ảnh vào lạc vào đường tà. Sự thật hành giả tu phép gom thần định trí phải biết rằng lắng tâm thanh tịnh trí định trong cảnh vắng lặng nhưng vẫn có thấy nghe hay biết mọi cảnh thì đó là Niết bàn tự tánh. Hãy an trụ nơi đó mà quán chiếu sẽ rõ thông vạn pháp. Rồi ngoài cảnh lắng tâm định trí ấy, quán xét không thể tỏa sáng được. Cũng thí dụ như ngọn đèn có đứng yên, yến sáng mới tỏa chiếu khắp nơi rạng rỡ. Còn bằng mà ngọn đèn kia bị gió phản phất qua lại thì yến sáng không thể nào tỏa rạng được. Hành giả khi đang tu thiền hành mà nghiệp chướng khảo đảo thời nhất tâm an trụ nơi tự tánh thanh tịnh ấy mà hành bốn pháp sau đây, tất nhiên nghiệp chướng sẽ tiêu diệt ngay. Một quán thân này là giả tạm do tứ đại hiệp thành. Có hình tất có hoài. Ta không nên cố chấp tham luyến nơi nó mà phải khổ não triền miên hoặc quán thân này như đang chết, đã chết hay sẽ chết. Quán như vậy thời tự nhiên dứt khổ vì thân. Hai quán tâm này là chơn không, không hình không dạng, không một vật gì, làm gì có dính mắt này nọ mà phải đau khổ luân hồi. Quán tâm như vậy thời tự nhiên dứt tâm khỏi luân hồi. Ba, quán thọ tình vốn không gốc gác, thoạt có thoạt không, tựa điện chớp may bay. Chẳng phải thật ta thì làm gì có dung chứa nhận lãnh này nọ mà bị tử sanh. Quán thọ tình như vậy thì tự nhiên dứ thọ khổ sanh tử. Bốn quán các pháp sư nay vốn không sanh vạn vật luôn đứng vững. Tự nhiên như thế thì có cái chi thành bại mà phải bận tâm cho rối loạn tâm thần. Quán các pháp như vậy, thời tự nhiên pháp tâm bình đẳng, chân như thực tế chẳng còn khổ não ưu bi nữa. Vậy tóm lại, phép gom thần định trí là một pháp môn hành nội tâm, lắng vọng tưởng, trụ tự tánh quán chơn như. Nên người mà có thấy ngộ được cảnh bình đẳng vô hình vô dạng của nội tâm và hay nghe, hay thấy, hay biết, hay hiểu trong cảnh vắng lặng thanh tịnh ấy, vốn không một vật dù là sắc hay pháp, đồng thời phương tiện an trụ trong cảnh vắng lặng thanh tịnh đó thì gọi là sơ tâm bồ tát. Rồi vậy tiến đến hành đủ 16 muôn hạnh đầy đủ oai nghi tướng tốt ngộ nhập chơn tướng là Phật không sai. Vậy ai cũng nên thực hành phép gom thần định trí để được làm Phật hết. Nam mô vô ngại Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát. Nam mô Thiền Sư An Lạc Hạnh hết phẩm thứ 33.