Quay lại chuyên mục

Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 19

Một bài giảng chép lại thuộc mạch Liên Hoa Pháp Giáo.

Pháp giáoLiên Hoa
Liên Hoa pháp Giáo phẩm thứ 19 - Thiền Sư An Lạc Hạnh Chánh pháp Phật pháp thậm thâm tam tàng diệu vợi. Đường tu hành nhiều nổi gốc gai hầm hố. Xét lại thuở thuận trung ngươn, chư Phật Tổ đã vì lòng từ bi bát ái bày khai lối đạo dẫn dắt muôn sinh đang lạc lỏng giữa chốn bùn nhơ tội lỗi, quay về quê xưa kiển cũ hưởng cảnh thanh nhàn. Nhìn đương nay trong thời hạ ngươn Mạt Pháp ai là kẻ hoằng dương chánh pháp mở lối soi đường hầu tiếp dắt người lạc bước noi theo đường chánh đạo thoát vòng tăm tối si mê. Đây tùy phương tiện tôi xin giải bài đại khái về hai nẻo chánh tà để giúp duyên cho những ai mong tìm chân lý. Vẫn biết rằng đời đạo là một giấc mơ, nhưng giấc mơ kia chưa hẳn là hoàn toàn ảo mộng. Nên có lắm kẻ mong đi tìm lại giấc mơ để mổ xẻ sự thật hoàn toàn ẩn tàng trong hai cái tỉnh say, hầu nói lên một tiếng lòng đanh thép vang động như sấm trời tung nổ, để đánh thức bao người đã và đang đau khổ vì bởi vô minh. Đời đạo luôn luôn tương đối. Chánh tà mãi mãi phân ranh. Đó là luật tuần hoàn từ cổ chí kim vẫn y như thế và như thế. Đời là vật chất, đạo là tinh thần. Chánh hỗ trợ cho đạo. Đạo tinh thần là vô hình duy tâm, đời vật chất là hữu hình duy vật. Duy tâm là nhân, duy vật là quả. Duy vật là cái thể hiện của duy tâm. Duy tâm là cái phát sanh ra duy vật. Duy vật và duy tâm là pháp tương đối của chân lý. Người muốn tầm chân lý thời không thể tách rời hai lẽ ấy. Đời vật chất thạnh lẽ tà hưng, đạo tinh thần lý chánh phải suy. Ngược lại đạo tinh thần thạnh lý chánh hưng, thời đời vật chất lẽ tà phải bại. Đời đạo không hưng không hoại thời chánh tà cũng do đó mà được quân bình. Đời đạo chánh tà có tương đối thời cán cân công lý mới có thể hiện rõ rệt. Cốt của cán cân công lý vẫn y nguyên đứng vững, còn đời đạo chánh tà lắm khi phải thiên lệch ít lúc được quân bình. Đời thạnh lẽ tà hưng, tâm chúng sanh trược. Đạo thạnh lý chánh hưng, tâm chúng sanh thanh. Tâm trược hay thanh mỗi người tự tạo lấy, lòng chánh hay tà tùy mỗi người theo. Đời hay đạo không thể tách rời hai lẽ ấy. Đời không phải là đạo, đạo không phải là đời. Tà không phải là chánh, chánh không phải là tà. Trược không phải là thanh, thanh không phải là trược. Cũng ví như ngọc ẩn trong đá, người muốn tìm ngọc thời không thể rời đá. Nhưng đá không phải ngọc. Còn bằng nếu cho rằng đá là ngọc thời đó chỉ là lời mớ trong giấc mộng chiêm bao. Đừng chấp đá mà bỏ ngọc, nhưng cũng đừng bỏ đá mà mất ngọc. Trong bùn nhơ còn có hoa sen báu, nhưng sen không phải là bùn. Nếu không đến chỗ hôi thúi của bùn nhơ thời làm sao nhận được hoa sen báu. Trong ma có Phật, trong Phật có ma nhưng ma không phải là Phật, mà Phật cũng không phải là ma. Phật ma tà chánh đạo đời trược thanh, đó là pháp tương đối của chân lý thể hiện qua sự phản chiếu mà tìm ra cái tuyệt đỉnh của con người, cái nguồn cội của vạn pháp, cái căn bản của muôn sinh. Thế nên những ai tu hành mà đạt được cái bổn nguyên của pháp tương đối cũng như trở về với cái nguyên lai của nó thời người ấy sẽ có cái ta chắc thật và không bao giờ hoại. Kẻ chấp sự thời cho rằng có tỉnh say. Người chấp lý thời cho rằng không tỉnh không say. Sự tỉnh hay say đối với người trí giả giờ cũng thế, nếu luận bàn cho nhiều càng xa sự thật. Hỏi: không chấp phải quấy, tỉnh say thì làm sao tìm ra chân lý? Đáp: cái thấy đó chẳng khác gì một kẻ kia cho rằng đá là ngọc. Hỏi: nếu không chấp gì hết thời việc quấy cứ làm, cứ sát sanh trộm cấp hay sao? Đáp: lời nói ấy còn mơ mộng lắm, bởi cớ sao? Vì kẻ không chấp gì hết tức là họ đã trở về sống với cái sự thật của chân lý rồi. Mà trong cái sự thật của chân lý bao giờ cũng vẫn có chánh kiến tri. Và nếu có chánh kiến tri thời làm sao gây chuyện quấy được. Thế nên phải biết rằng kẻ có chánh kiến tri thời thông suốt nguồn gốc của vạn pháp và định luật của tạo hóa rồi, nên đối trước mọi cảnh vô ngại lòng không rối loạn. Còn bằng người vô minh mà cho rằng không chấp xuông, rồi cứ làm việc quấy thời càng sa đọa vào nơi hắc ám muôn kiếp trầm kha. Hỏi: nếu nói như vậy thời người mới tu tập cần phải chấp chớ? Đáp: đúng như thế ban đầu chấp sự, rồi tiến đến bỏ sự chấp lý. Rồi sau đó bỏ lý trở về sự lý viên dung. Bỏ luôn xử lý viên dung mới an trụ trong bổn tánh như nhiên thực tế. Bỏ được bổn tánh như nhiên thực tế mới hòa mình trong tất cả vậy. Hỏi: người còn vô minh mà nói kinh Phật thừa có tội không? Đáp: tâm sanh ra tội phước. Nếu tâm có sanh thời có tội, còn bằng không sanh thời không tội. Hỏi: tu như thế nào mà gọ là thiên tiên, địa tiên? Đáp: luyện tâm trí cho được thanh cao quảng đại là Thiên Tiên. Luyện bùa ngãi phép phù chú thuật là địa tiên. Hỏi: sao lại luyện tâm trí mà gọi là thiên tiên, còn luyện bùa ngãi phù phép chú thuật là địa tiên? Đáp: bởi vì tâm trí là vô vi, mà luyện tâm trí cho được trường sanh bất lão tức là lành mạnh hóa tinh thần đạo đức của con người nên gọi là thiên tiên. Còn bùa ngãi, phép phù, chú thuật là hữu hình, mà luyện cái hữu hình cho được linh thiên hiển hiện trước mắt tức là vì lòng tham ác, muốn đấu sức, khoe tài thi đua phép thuật nên gọi là địa tiên vậy. Tuy nhiên về địa tiên cũng được phân ra hai hạng chánh tà rõ rệt. Nghĩa là luyện các thần linh chánh khí theo gia hộ cứu đời là chánh. Còn bằng luyện ma quỷ, yêu tinh, rắn rết, cọp beo theo gia hộ hại đời thì đó là tà. Hỏi: đạo có trước đời hay đời có trước đạo? Đáp: Nếu nói về bổn thể thời đạo có trước. Còn bằng nói về nhân duyên thời đời đạo có một lượt. Và nói về sự thể hiện của đạo ở trong đời thì đời có trước. Hỏi: sự thờ phượng, như người xuất gia thờ tại chùa cách nào đúng, và người tại gia thờ ở nhà làm sao cho khỏi sai? Đáp: sự thờ phượng là để tượng trưng lòng thành kính của mình đối với Phật trời thánh thần, cùng ông bà tổ phụ nơi quá khứ, hay cũng để làm kiểu mẫu cho người đời sau noi gương hiếu hiền của mình. Như ở chùa, thời nơi chánh điện chỉ thờ một đức Phật Thích Ca thôi. Phía hậu đặt một cái bàn thờ vô vi, chư lịch đại tổ sư thánh hiền Bồ Tát Ma Ha Tát. Nơi phía trước sân đặt một cái đảnh hương thờ tức là vô vi. Trời thần thánh thiêng liêng và nên cất một cái nhà riêng để thờ cửu huyền thất tổ chung. Còn ở nhà nơi chính giữa chỉ thờ một tượng Phật Thích Ca mà thôi. Và phải cao hơn hết, đặt bàn thờ cử huyền nép một bên, hoặc ngay chính giữa mà phải thấp dưới, và phía ngoài sân đặt một cái bàn thông thiên thờ thánh thần thiêng liêng chung. Đừng bày ra thờ quá nhiều mà sai lạc chánh pháp, hơn nữa săn sóc không kỹ mà thêm tội. Hỏi: sự cúng kiến trong các bàn phải như thế nào mới đúng? Đáp: như ở bàn Phật, bàn tổ và bàn thông thiên thời chỉ cúng hương đăng hoa quả nước mát là đủ rồi. Mỗi tháng phải hai kỳ là ngày rằm và 30. Nếu tháng thiếu thì mùng Một. Và bàn cửa huyền thời cúng đồ chính được. Nhưng mà nên cúng chay đặng tốt, dầu là tại chùa hay tại nhà cũng vậy. Bởi cúng chay nhiều điều lợi ích. Điều thứ nhất là để nhắc nhở ông bà cửu huyền thất tổ của mình nên ăn ở hiền hòa và hướng về sự tu hành cho được siêu sanh liễu tử. Điều thứ hai là cho mình dứt đi bớt cái nghiệp quả sát sanh hại mạng vì hễ giết một mạng thì phải đền một mạng. Điều thứ ba là vong linh của người quá cố cũng khỏi trả cái quả báo sát hại do mình làm ra để cúng kiến. Điều thứ tư là mình cũng trưởng dưỡng được đức tánh từ bi và chóng dứt nghiệp mà thành tựu đạo quả nữa. Hỏi: khi người thế gian sát sanh để cúng kiến thời người thế gian lãnh thôi chứ sao người chết cũng phải lãnh nữa? Đáp: âm dương nhất lý. Thí dụ như ông A đánh ông B và nói là đánh thế ông D, như vậy ông B thù ai? Chắc chắn là ông B phải thù hết cả hai ông A và D. Và nếu thù thời tất nhiên chờ một dịp nào đó ông B cũng sẽ đánh lại ông A và D, hoặc con cháu của hai ông đó để rửa hận. Thế nên phải biết rằng sự oan tương báo không cùng nếu ta chỉ nghĩ đến sự hiếu nghĩa mà không nghĩ đến nhân quả thời vô tình mà ta gây tội ác đối với chúng sanh, và bất hiếu bất nghĩa với người quá cố và con cháu mai sau nữa. Hỏi: như sự tích có nói 18 vị La Hán Xưa kia lúc đương đời gây lắm tội ác, sau khi thức tỉnh đi tu và được đắc đạo. Như vậy những vị ấy sau khi đã được đắc đạo rồi có hết tội không? Đáp: tu nhất kiếp ngộ nhất thời. Như khi đương làm ác mà giác ngộ, lại tu được đắc đạo thời hết tội. Tuy nhiên cái nhân đã gây ra lúc còn làm ác thì cái quả đó vẫn còn trả chứ chưa hết được. Hỏi: sao lại hết tội mà quả lại còn? Đáp: vì tâm sanh ra tội phước nên khi làm ác thời tâm sanh tội tức có tội còn bằng khi thức tỉnh đi tu lại đắc đạo thời tâm sanh phước tức có phước hết tội. Bởi tội sanh thì phước diệt, tội diệt thì phước sanh. Do đó mà 18 Vị La Hán hết tội và quả còn là vì tâm sanh ra tội ác. Cái tội ác ấy nó chuyển qua sự hành động, việc làm của thân khẩu. Mà thân khẩu đã gây nhân, thời nhân khẩu phải trả quả chứ chạy trốn đâu cho khỏi. Không trả sớm thời cũng phải trả muộn, trước sau vậy thôi. Vả lại đắc đạo hay không đắc đạo là do tâm. Mà tâm là chủ vô hình, còn thân khẩu là khách như sản vật hữu hình. Nên hễ sản vật đập ai thời bị người đó đập lại, giết ai là bị kẻ ấy giết lại. Giết một mạng trả một kiếp, nhẫn đến 100 mạng phải trả 100 kiếp, 1000 mạng phải trả 1000 kiếp. Cái định luật của tạo hóa từ vô thủy cho đến vô chung vẫn y như vậy, nên gọi lưới trời lòng lộng khó lọt mảy lông là thế đó. Bởi lẽ nhân quả báo ứng không ngừng mà quá khứ cũng như hiện tại có lắm người ăn ở rất hiền lương chân thật, và có người tu hành chứng quả thánh nữa, lại gặp những chuyện đau khổ. Có khi phải chết một cách thê thảm. Rồi trường hợp đó chúng phàm phu không biết lại bất mãn cho rằng Phật Trời không linh không tiếp hộ, thôi Không tu. Vì tu cũng chết khổ mà không tu cũng chết khổ. Nhưng họ có biết đâu cái luật trời báo ứng vay trả trong ba đời chứ nào phải một kiếp rồi thôi. Vả lại cái chết êm ái hay chết thê thảm không thành vấn đề, mà cần tìm hiểu là chết được siêu sanh nhẹ nhàng hay bị đọa lạc khổ đau. Đó mới là mục đích chánh của người đời lẫn người đạo. Hỏi: nếu nói như vậy thời Khi đắc đạo và bỏ xác rồi thời đừng sanh trở lại nữa thì khỏi trả quả chứ gì? Đáp: đã vay nợ thì phải trả nợ. Nên những người đã đắc đạo rồi thời họ sống với cái tâm chân thật không màng đến cái giả dối nữa, và rất sợ gây nhân ác mà phải trả quả khổ đau. Vả lại họ cũng nhận được rằng sanh tử là lẽ thường của định luật tạo hóa, nếu cố trốn tránh món nợ từ xưa thời bao giờ mới dứt đặng. Hơn nữa những kiếp trải qua mình tu được cũng nhờ lòng dũng mãnh phát nguyện rộng lớn và sự ủng hộ thành tín của kẻ đàn na. Mà giờ phút viên mãn hạnh nguyện không đi giáo hóa để đền ơn khó nhọc cho tất cả trong muôn một hay sao? Vì suy xét như vậy nên các ngài tái kiếp trả quả và phổ độ quần sanh đang chơi vơi giữa biển ái hà thoát lên bờ giác ngạn để hưởng nhàn lạc muôn đời. Hỏi: đạo Phật dạy đời chú trọng về cái gì hơn hết? Đáp: chú trọng về cái luật nhân quả hơn hết. Hỏi: tại sao đạo Phật lại chú trọng về cái luật nhân quả hơn hết vậy? Đáp: vì luật nhân quả là nguồn gốc của sự khổ não triền phược. Là căn cội của sự sanh tử luân hồi. Do đó nên Tam Thế Phật lấy đó làm căn bản để dạy cho chúng sanh sớm thoát vòng oan trái khổ đau. Cũng như ra ngoài bánh xe nhân duyên quay chuyển để được an lạc đời đời. Hỏi: xin nó rõ luật nhân quả như thế nào mà còn gọi là nguồn cội của sự khổ sanh tử luân hồi? Đáp: bởi từ vô thủy tất cả chúng sanh đã an trụ trong cái Bổn Tâm Diệu Giác, nhưng thuở ban sơ vì bất giác khởi niệm vô minh mới có hành động biến hóa ra vạn vật chúng sanh và các pháp. Và vì chúng sanh bị màn vô minh che án thuở ban đầu mới chấp đủ điều sanh ra khổ não, luân hồi, triền phược. (Xin xem lại phẩm ba Thập Nhị Nhân Duyên). Nên vô minh và hành gọi là cái nhân, mà vạn vật chúng sanh cùng các pháp là quả. Có nhân chúng sanh mới si mê, có quả chúng sanh mới điên đảo. Si mê điên đảo là nguồn gốc của sự sanh tử luân hồi vậy. Tóm lại luật nhân quả là cái cán cân bình quân của tạo hóa mà người ở thế gian và các vị thần tiên ở cõi xuất thế gian không thể ra khỏi được. Còn Phật thời ngoài cái định luật ấy rồi nên không còn khổ não phiền trược vậy. Thế thì sở dĩ phẩm kinh chánh pháp này có ra đời là vì lòng từ bi bát ái của người tu học Phật trong giai đoạn tri tầm chân lý, khai mở chỗ nghi ngờ cho tất cả muôn sinh vậy. Kệ rằng: Vâng lời từ phụ Thích Ca, ban truyền chánh pháp Liên Hoa độ đời. Trí màu soi sáng khắp nơi, phá tan hắc ám kịp thời độ sanh. Lời phân minh, lý hiện rành. Ai ơi chớ bỏ lòng thành thiện lương Luật trời nhân quả phi thường, gây rồi phải trả khó đường đào vong. Gieo nhân tốt xấu tại lòng, quả vui hoặc khổ bởi dòng hiền hung. Khuyên trong nam nữ khắp vùng, đạo đời chạm vá hiếu trung lo tròn. Nam mô chánh pháp Hoằng Khai Long Hoa Hải Hội độ người thiện nghiệp. Nam mô thiền sư An Lạc Hạnh.