Nhiều chư tăng ni, Phật tử, nam nữ xa gần cũng như bá tánh vạn dân đều nghĩ rằng sư là một ông thầy bùa,
sư là một ông thầy ngãi, tổ ngải tổ bùa luôn mới cứu dân độ thế làm được những việc mà người ta không thể làm được.
Nhưng mà trước những cái lời thị phi mai mịa đó, sư vẫn lặng thinh bởi vì chỉ mình mới biết mình thôi, còn người khác không thể nào biết mình được thì khỏi phải thanh minh thanh nga gì tất cả.
Nhưng mà hôm nay đến lúc phải nói lên sự thật để cho tất cả tăng ni Phật tử cùng nghe. Giờ này thì quý vị tất cả hãy ngồi xuống, ngồi xuống để tay tự nhiên để lắng nghe lời chân thật mà sư muốn nói lên những cái gì đó, cũng như trao lại cho tăng ni và Phật tử những cái sự công phu hành thiền à tu tập của sư và cái sự cứu đời như thế nào đó cho quý vị được tri tường để không còn hoài nghi nữa.
Mô Phật
Đúng ra thì sư phải nói không sách vở, nhưng mà nói không sách vở thì nó không có không có logic và nó không trình tự.
Cho nên từ chỗ đó mà sư nói bằng sách vở tức là đã soạn, hôm này soạn sẵn để cho nó logic có hệ thống, Phật tử dễ nghe dễ hiểu và nếu thực hành, thì cũng dễ hành nữa.
Giờ lễ khai sáng tâm pháp 52 năm lần thứ nhất.
Hôm nay là lần thứ nhất thôi chứ xưa nay chưa từng làm lễ này.
Đó ngày 15 tháng 11 năm Kỷ Dậu. Ngày 15 tháng 11 năm Khý 2020.
Thiền sư An Lạc Hạnh.
Điều mà hôm nay sư muốn nói á sự tu học hành thiền xuyên suốt 6 năm nghĩa là
hành thiền và phát nguyện nhập thất công phu 4 tháng khai mở tâm pháp các môn đồ tín
hữu xa gần nghe rồi hãy bình tâm tư duy cho tận tường đừng
vội phê phán đúng sai mà lạc lầm chánh lý đừng vội vàng phê phán.
Bởi vì à quý vị biết ở thế gian này á cái gì á trong thật nó có cái giả mà trong giả nó cũng có cái thật. Thật thật
giả giả khó phân biệt lắm. Cho nên bất cứ không phải lời nói này của nhà sư mà cuộc đời chúng ta sống á bất cứ nghe
thấy một cái gì chúng ta đừng vội phê phán. Bởi vì trong thật nó có giả, trong giả nó có thật. Thật thật giả giả khó mà phân biệt lắm.
Muốn phân biệt được chúng ta ta phải vận dụng trí tuệ.
Mà trí tuệ đó thì gồm có văn huệ, tư huệ và tu huệ. Chỉ có
trí tuệ vô ngại tự tại mới có thể phân định được về tâm pháp của một con người
tu như thế nào. Và tôi cũng xin thưa với tất cả à quý chư tôn đức xa gần các vị
cao tăng thạt đức ở đây à an lạc hạnh tôi không phải để khoe,
không phải để mà mà mình có một cái danh vọng gì đó. Xin thưa quý vị, danh vọng là ảo quyền,
không có gì thật hết.
Có người sống thế gian có lên cao tứ tới đỉnh tột đỉnh như là ngọn tre đi rồi cũng trở lại dưới đất mà thôi phải
không? Lên cao đến ngọn tre rồi trở lại dưới đất. Đó tôi muốn nói ngọn tre đó là bất cứ một
người nào mà cao danh vọng cỡ nào cũng là leo lên ngọn tre mà thôi. Leo chót vót rồi nó quằn trở lại xuống đất rồi
đó. Chứ chứ nó không phải mà ở trên cao mãi đâu. Cho nên do vậy á danh lọng vọng
là ảo quyền. Thì mong chí vị cũng hiểu cho hiểu cho an lạc hạnh tôi với cái cái
sự trần tình hôm nay phải không? Xin mong quý vị thông cảm và có những gì mà
quý vị thấy nghe nó phản cảm á thì mong quý vị cũng tha thứ cho tha thứ cho tôi.
Vì tôi là một cái người xuất thân từ nông dân, xuất thân từ trong một gia đình nông dân. Cho nên ăn thật, nói thật
những gì tôi nói á, tôi hình dung như tôi là một cái người ở trong rừng, ở trong núi chuyên môn á sống á nghĩa là
lộm lá cây, vỏ cây, thân cây, đọt cây,
hoa hoa cây và trái cây. Rồi phân biệt cái mùi vị, kể cả phân biệt là đất cát,
sạn sỏi từng phần như thế nào.
Cái hương vị nó là cay đắng mặn nồng chua chát ra làm sao để mà hôm nay trình bày lại cho
sờ cho các vị nghe nói chung mà đặc biệt là nói riêng cho đệ tử tôi nó hiểu.
Nhiều khi đệ tử tôi nó bên cạnh mà nó cũng không hiểu tôi là gì hết. Đúng. Làm sao hiểu được tôi.
Tôi như một cái người khùng. Một cái khùng ăn nói nó bất thường lắm.
ăn nói có những cái mà người ta không hiểu được cho nên tôi gọi là khùng nhưng mà thực tế không phải khùng phả không?
Thì hôm nay tôi xin trình bày với tất cả quý chư tôn đức cao vọng trọng trong các tôn giáo
cũng như là các cái giai cấp trong xã hội. Nói chung là thế giới mà nói riêng là Việt Nam.
Đó thì à xin thưa quý vị có bài kệ đầu tiên mà
tôi xin gửi đến
pháp mà vô pháp chẳng pháp chi.
Chẳng pháp vô pháp chẳng pháp gì.
Chẳng thiếu chẳng dư huờn vô pháp.
Pháp vô vô pháp pháp chân như.
Đó là bốn câu kệ đầu tiên của tôi.
[hắng giọng]
Vì à tiếp á là một bài kệ nói về
Phật tâm, tâm Phật.
Phật tâm vốn nó rỗng không
chẳng hề có tướng cầu mong nỗi gì.
Người ơi trở lại vô vi,
trong không vốn có đủ thì vạn môn.
Tạng thức muôn pháp tích tồn,
có không còn mất dạy khôn đủ đầy.
Chớ cầu Phật đạo trên mây,
cũng đừng tầm chỗ muôn cây lá rừng.
Chớ cầu đáy biển biền bưng,
cũng đừng kiếm đến nửa chừng hư không.
Chớ cầu Phật tánh bông long,
cũng đừng tầm chỗ bụi hồng trần ai.
Chớ cầu thấy Phật liên đài.
cũng đừng kiếm chỗ hiện bài phép linh.
Chớ cầu đại định xuất hình,
cũng đừng kiếm chỗ quang minh sáng lòa.
Chớ cầu thấy Phật liên tòa,
cũng đừng kiếm chỗ quanh co bận lòng.
Chớ cầu núi thẳm dòng sông,
cũng đừng khởi niệm có không sai lầm.
Người ơi Phật tại tịnh tâm,
tâm bình tịnh đặng nãy mầm Như Lai.
Càng cầu càng lạy càng sai,
dừng chơn sẽ thấy liên đài tự ta.
Càng cầu Phật đạo càng xa,
càng mong càng vọng, thành ma càng gần.
Bửu châu như ý sáng ngần,
tự tâm sẵn có chẳng cần tầm đâu.
Giữ giới chín chắn là cầu,
giữ định kiên cố, xây lầu pháp vương.
Giữ huệ soi sáng Phật đường.
Giữ giới định huệ chơn thường hiện ra.
An lạc tự tánh như là,
ngộ nhập tri kiến long hoa tỏ tường.
Đừng cầu thấy Phật Tây Phương,
nên cầu thấy Phật tại đường chân như.
Đừng cầu thấy Phật Tây Phương,
nên cầu thấy Phật tại đường Chơn Như.
Đó là nói về một cái bài kệ à mặc dầu nó cô động trong một phạm vi ngắn thôi nhưng mà hàm xúc.
Đây nói về cái chân linh của một con người. Mỗi chân linh là một nguồn điện tử tức là mỗi linh hồn con người á là
một phân tử của hệ thống từ trường vũ trụ thiên nhiên
Chân linh là điện tụ thành,
qua sự huân tập ngũ hành mà ra.
Khí thở tứ đại hiệp hòa,
tạo nên thần lực phóng ra muôn màu.
Vi trần hạt cát thâu vào,
hiện ra to lớn khác nào hư vô.
Siêu hình hữu tướng cơ đồ,
thần thông biến hóa, điểm tô vận hành.
Người tu tích tụ khí thanh,
đạt nên chánh giác trở thành Như Lai.
Người tu tích tụ khí thanh,
đạt nên chánh giác trở thành Như Lai.
Điện tử là nguồn sống của tất cả.
Đây cái bề kệ tiếp.
Điện năng vũ trụ bao la,
không gian rộng chứa nuôi mà chúng sanh.
Tất cả do điện mà thành,
tất cả do điện vận hành trước sau.
Tất cả do điện chiếu vào,
người người linh hoạt, lào lào sáng thông.
Duy vật tứ đại hợp thành,
trọng yếu khí thở vận hành lưu liên.
Khí thở là khí hậu thiên,
hợp nhất chánh khí, tiên thiên trần hoàng.
Khí thở hợp nhất an toàn,
sanh ra linh tánh thường còn nơi ta.
Thấy nghe hửi nếm như là,
biết hiểu rờ tưởng chánh tà bạch minh,
Khác nào khoa học kết tinh,
tạo nên dòng thác làm bình điện năng.
Điện cơ dồn chứa thường hằng,
có hơi có điện có thăng có trầm.
Hết hơi hết điện không lầm,
rõ ràng khí hóa là mầm tạo nhân.
Khí hóa hơi thở rất cần,
tồn tâm dưỡng khí, gìn thân tịnh bình.
Người tu muốn đặng pháp linh, thời nên định tánh hòa mình hư vô.
---
Thì đó là những người bệ kệ. Đây nói là về cái a liễu ngộ ý pháp vô sanh. Đây là
nói vấn đề hành thiền trực tiếp của của nhà sư các đệ tử tông đồ lắng nghe.
Một buổi chiều mùa đông nhằm ngày 13 tháng 12 năm Giáp Thìn 1964
trời quang mây tạnh sơ ngồi bên cạnh cây cổ thụ để tham thiền nhập định đi vào đại định. Mọi cảnh xung quanh vắn bặc như tờ.
Đang cơn tỉnh tọa, bỗng thấy quên mình sáng rực như ban ngày. Đang cơ tỉnh tọa,
bỗng thấy quanh mình sáng rực như ban ngày. Tưởng chừng như mặt trời đứng bóng.
Thấy cảnh lạ, sư định thần quán xét nhưng chẳng biết lý do, xét tại sao lại nhìn thấy như thế, lòng còn đang phân dân tư lự. Khoảng 10 phút sau,
sư tự nghĩ, chẳng lẽ mình ngồi thiền hồi 5:00 chiều đến giờ là 12:00 trưa mai rồi sao?
Bèn mở mắt ra xem lẽ nào thì ra mới vừa chật giật hơn 6 gi tối
như vậy. Chỉ mới thiền một tiếng ngoài một tiếng đồng hồ.
Bởi do đi vào đại định không còn khởi niệm phân biệt thời gian. sư mới nhắm mắt đi vào đại định tiếp thời lại thấy sáng rực như cũ.
sư mới dùng trí huệ quán chiếu về nội tâm một cách an nhiên tự nhiên liền phát hiện căn linh mình đã được khai thông huyệt bách hội.
Âm dương hợp nhất tam quy tụ đỉnh đã mở đạt lý tứ diệu đế trong đường hành đạo hiểu rõ ý pháp vô sanh.
Thế là kể từ nay, sư luôn an trụ ý pháp vào chỗ thanh tịnh tự tại, không sanh không diệt. Nên có viết ra bài kệ làm
chứng rằng:
"Gác tánh viên minh ẩn bấy lâu,
sự tình không bỏ uổng công cầu,
ngộ chơn diệu pháp lìa tham chấp,
đạo lý huyền thâm rất thậm sâu."
Hàng phán thủ, giác sự ngộ đạo.
Tịnh thất lần thứ nhất ngộ lý vô thường.
Sau khi sửa soạn xong, sư bắt đầu vô cốc tịnh tọ hành pháp hồi quang phản chiếu.
Ngày thứ bảy, ngân thần lắng động, bỗng thấy xuất ra đứng phía trước. Sư mới quán sao lạ kỳ mình ngồi đây mà mình lại hiện ra đứng phía trước đằng kia? Đang quán xét như vậy, sư trụ thần đằng kia nhìn ngược lại cũng thấy xác đang ngồi tọa thiền.
Trụ tánh thấy nơi xác đang ngồi thì thấy ngươn thần đứng phía trước đảo qua đảo lại ba lần đều nhìn thấy y như vậy. Sư mới suy gẫm, xác ngồi đây mà ngươn thần hiện ra kia, như vậy xác là giả tạo. Giả sử như xác chết, ngân thần xuất ra chứ ngân thần đâu có chết. Xác là vô thường giả tạo, không phải thật. Còn ngươn thần hiện ra kia có phải thật không?
Sư tư duy nếu nó là thật thì tại sao lại biến mất? Nhưng nếu nó là giả thì tại sao có hình?
Thế là sư đã nhận chân được thân trung ấm nó không phải có thật, nó cũng không phải thật không. Nó là phần duy linh ở khoảng giữa duy vật và duy tâm.
Phần này thiền định đi vào thanh tịnh, định tâm vào chỗ thanh tịnh đó, tự nhiên thần hồn xuất ra sẽ không hề có một vọng tưởng, không hề có một niệm vọng tưởng gì hết. Nghĩa là vật là sắc, là sắc thân
hữu hình, tâm là không, là vô hình. Do định luật của tạo hóa mà biến thành năm ấm là ngũ uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành,
thức. Nó là cái kết tin của tâm vô sắc và vật hữu sắc. Nó chính là giác linh,
là chân linh, là linh căn của mỗi người.
Nó chính là chân linh, là linh căn của mỗi người. Rồi sư suy nghĩ ý tưởng thất tình lục dục nó ẩn trong chân linh. Chân linh nương nơi thể xác. Nó có sanh có diệt. Nó càng diệt nó càng sanh. Sư hồi quan thấy rõ tâm mình nó vốn là chân không thanh tịnh, còn thất tình buồn vui, mừng giận thương, ghét muốn từ tâm không sanh ra có, có rồi hườn về không. Sự sanh diệt liên hồi của tư tưởng nó làm cho ý chí và tinh thần của con người bị quay cuồng, điên đảo.
Càng chấp vào ngũ uẩn là cần bị đọa lạc trầm luân.
Ta có thể sống bằng trí chân không thanh tịnh thì sẽ dứt được luân hồi lộn kiếp, vượt khỏi bánh xe thập nhị nhân duyên quay chuyển.
Thế là sư đã đạt được lý vô thường của tâm thức trí hủy biết xuyên qua ngũ uẩn, nhất tâm an trụ nơi bổn tâm thanh tịnh chân không. Sư hồi quan suy xét xong tự cảm thấy mình nhẹ nhàng phơi phới, như được vật báo lạ mà xưa nay chưa từng có.
Bảy ngày sau sư xả thiền. Thì đó là cái cái giai đoạn thứ thứ nhất. Có bài thơ làm chứng rằng
"Ta là bát nhã ở nơi không,
mẹ ta vốn thiệt giống dòng năng sanh.
Cha tên cư sĩ tịnh danh,
quê ta là xứ hiền lành không tâm."
Giác ngộ được chỗ này phù hợp trong Bát Nhã Tâm Kinh có câu "chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách".
Tịnh thất lần thứ hai đạt chánh pháp nhãn tạng.
Sau khi ngộ đặng lý vô thường của tâm thức đồng thời phân biệt được ý chơn ý vọng. Bến mê và bờ giác đã rẽ hai đường.
Một bên theo tư tưởng dục vọng là làm ma quỷ, một bên dụng trí giác an trụ nơi bổn thể chân tâm là làm Phật.
Sư quyết tâm dụng trí giác an trụ nơi bổn thể, nhưng vẫn còn bị các ma phiền não và quỷ dục vọng quấy nhiễu. Cách tháng sau, khi cúng rằm tháng ba xong, sư lại tỉnh thất lần thứ hai để dùng trí huệ hồi quan quán xét thêm. Trong mấy ngày đầu càng định tâm chân không, các món vi tế phiền não lại càng trào lộng lên dữ dội. Nó làm sao xuyến cả trí giác. Tình trạng này, nếu người bình thường thì khó mà kiên trì tiếp tục. Nhưng sư vẫn cố gắng miệt mài bền chí sắc son, quán xét lại các duyên nghiệp cấu tạo thành phiền não vọng loạn.
Sư tự nghĩ: như nấu đường, lửa càng đun, nước càng sôi thì cặn bả bọt bèo phải trào lên. Do vậy thợ nấu mới thấy rõ mà gạn lọc từng phần.
Nếu sợ sệt bọt bèo trào lộng mà hạ lửa tắt, ắt đường không tới và thợ cũng không gạn được bọt bèo. Do đó sư không hề sợ trước sức trào lộng của não phiền. Điều này nếu trừu tượng ra ngoài giả cảnh, ví như nhà công quyền đang cầm đèn pin để rọi bắt kẻ trộm trong đêm. Kẻ trộm luôn ẩn né vào bóng tối để chống chọi lại. Đến khi kẻ trộm đã mệt nhừ thì nhà công quyền cũng đuối sức. Cả hai cùng ngồi phệt xuống. Trong nhất thời đó, hốt nhiên nhà công nguyền nhận ra tên trộm kia là cái bóng của mình. Còn tên trộm thật đã biết mất dạng từ bao giờ. Cái cảnh chẳng khác người bắt bóng trong gương khi nhận ra bóng trong gương chính là mình.
Bát nhã phản chiếu hốt nhiên đại ngộ tánh thấy.
Thật vậy, trong lúc duyên nghiệp vi tế trào lộng sư dùng trí huệ hồi quan quán lại. Đoạn đầu tiên chơn thần xuất hiện. Chơn thần là mình hay thể xác là mình?
Mà khi trụ vào chơn thần thì thấy thể xác. Trụ vào thể xác lại thấy chơn thần.
Cái thấy đó ở trong thể xác hay là ở trong chơn thần. Cái thấy đó ở trong cái thể xác này hay là trong cái chơn thần của mình, tức là trong cái tâm linh của mình?
Bát nhã càng quán xét rọi sâu vào nội tạng thấy chân tâm vốn thanh tịnh.
Cảnh thanh tịnh bát nhã đứng ngừng nơi đó sư mới dùng bát nhã phản chiếu vào tánh thấy. Bây giờ dùng cái trí tuệ phản chiếu trở vào cái tánh thấy. Dùng cái thấy mà phân biệt được hữu hình và vô vi. Bây giờ cũng dùng cái thấy mà đảo ngược lại để nhìn cái thấy từ đâu mà có.
Cái pháp này rất là đặc biệt. Trong cái trong sách vở chư tăng ni học, chư tôn đức người ta dạy kêu bằng phản quan quan tự quán.
Phản chiếu vào tánh thấy, hốt nhiên đại ngộ tánh thấy, rỗng lặng trùm khắp không ngưng trệ. Không trên không dưới, không trước không sau, không có không không, không sanh không diệt, vốn thường còn bất biến.
Cái chỗ này như là đức Huệ Năng lục tổ ngộ chỗ "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", hoặc giả là như là Trần Thái Tổ Trần Cảnh ngộ chỗ "ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" trong kinh Kim Cang.
Tánh thấy vốn bình đẳng rỗng lặng trùng khắp. Tự tánh của thấy cũng bình đẳng rỗng lặng trùng khắp. Kể từ nay sư vui sống với tánh Bát Nhã, an trụ nơi tự tánh vô sanh của bổn tâm diệu giác, không còn lo ngại với phiền não nghiệp chướng gì cả. Nên có kệ rằng
"Tự tánh muôn đời chẳng diệt sanh,
không thêm không bớt bất thành danh.
Quang minh bát nhã soi chân tướng,
liễu pháp vô sanh đạt bất tranh."
Đại ngộ được tự tánh thấy vốn vô sanh, sư mới hồi tưởng như Đức Đạt Ma sư tổ đạp trên cây lau mà qua sông. Giả sử không có cộng lau Đức Đạt Ma có qua sông đặng (được) chăng? Chắc hẳn là không.
Giả sử như không có cộng lau Đức Đạt Ma sư tổ có qua đặng xong hay không? Không.
Chắc chắn là không. Nhờ cộng lau mà Đạt Ma sư tổ qua được cái bên kia xong. Tức là bên nay là bên mê, bên kia là bờ giác, bên đây là thử ngạn, bên kia là bỉ ngạn.
Đại ngộ tánh thấy là minh tâm kiến tánh. Thật vậy, thấy được tánh thấy của mình, tức là hoàn toàn minh tâm kiến tánh như đã bừng tĩnh. Sau một giấc mơ dài say ngủ, tự cảm thấy lòng vừa vui mừng vừa hổ thẹn.
Mừng là mừng đã phá được màn vô minh bao phủ từ lâu. Dòng sanh tử kể từ đây rõ ràng trên đường đi lối về nên có bề kệ rằng:
"Tự nhận bổn tâm vô sở đắc.
Tánh minh quan chiếu phá mê mù.
Vô pháp vô tu vô sắc tướng.
Sanh không tự tại gọi khỏe ru."
Còn hổ thẹn là sao? Hổ thẹn là hổ thẹn từ trước tới nay mình xem học kinh kệ trì giới luật tự cho là thông suốt đầy đủ.
Nào ngờ cái hiểu biết đó là giả. Chỉ học để nói ví như sân khấu thằng hề, ăn mày đóng vai trưởng giả, hay là như đầy tớ cày ruộng mà cứ ngỡ ruộng chủ là của mình. Quá ngu ngốc, quá xấu xa. Cho nên nói
"Chiêm bao một giấc mơ màng.
Mơ màng lúc thức rõ ràng chiêm bao.
Chiêm bao chẳng rõ chiêm bao.
Cuộc đời ắt phải lọt vào hố mê."
Thế gian thường tình người ta chỉ nghĩ ngủ mới là chiêm bao. Nhưng họ có hiểu đâu thức cũng là chiêm bao. Chính lúc thức cũng là chiêm bao mà nhiều người không rõ nên mãi quay cuồng trong vòng luân hồi lộn kiếp. Lúc sanh lên làm cha mẹ, lúc lộn lại làm con cháu, lúc thì làm trâu ngựa, thú cầm vân vân trong vòng luân hồi.
Lại nữa, mộng có nhiều giấc mộng. Chính người ngủ có khi trong giấc mộng lại thấy mình đang nằm mộng. Cũng tiếp xúc, cũng chuyện giảng, nói năng người này kẻ nọ hoặc thấy suốt cuộc đời năm bảy chục năm, khi bừng tỉnh mới biết là giấc mơ. Sự nói năng trong mộng như người mớ không khác. Cái mớ lúc thức chẳng ai hay. Cái mộng trong giấc ngủ thì có nhiều người biết.
Mộng lúc thức tỉnh gọi là mộng kiếp đời, mộng duyên số. Mộng khi ngủ là mộng tư tưởng, mộng thất tình.
Rốt cuộc sự sống của chúng sanh chưa giác ngộ chân lý thì dầu ngủ hay thức cũng đều là mộng.
Nếu biết giác ngộ chân lý rồi ắc biết tỉnh trong giấc mơ, mới nhìn nhận được giấc mơ nó hoàn toàn chứa một sự thật tuyệt vời của cuộc đời bên kia thế giới duy linh.
Tóm lại cái biết giác của con người rất quan trọng trong cuộc sống hằng giờ, hằng ngày, hàng tháng, hàng năm kiếp đời trong xã hội. Sở dĩ vì sao? Vì biết giác trong cõi mộng thì biết được đường đi lối dời trong cõi giả và thật, cõi phi thường và cõi chân thường ví như lòng bàn tay có bề trái bề mặt.
Vậy nên nói:
"Giấc mộng muôn ngàn giấc mộng mơ,
từ xưa ngẫm lại có ai ngờ,
mộng tình mộng tưởng là sai mộng.
Mơ kiếp mơ duyên ấy tỉnh mơ
Tri giác ngộ rồi giấc mộng mơ.
Dầu cho tái kiếp đến bao giờ,
cũng không lay chuyển lòng băng tuyết,
cứu thế độ sanh vượt khỏi bờ."
Tỉnh tọa bốn tháng lần thứ ba đại nhập chánh tri kiến.
Trong kinh sách thường dạy minh tâm kiến tánh thì thành Phật. Nhiều người hiểu lầm chỉ thấy bấy nhiêu đó là đủ rồi. Khi sư đi sâu vào rồi mới hay người đặng minh tâm kiến tánh chỉ gọi là ngộ đạo.
Nghĩa là ngộ nhận ra được sự thấy biết của Như Lai rồi còn phải nhập vào cái thấy biết của Như Lai mới hoàn toàn viên mãn.
Minh tâm kiến tánh chỉ là mới ngộ, mới thấy biết thôi chứ chưa phải nhập. Phải nhập nữa mới được. Bởi minh tâm là tâm sáng, kiến tánh là thấy tánh.
Nghĩa là tâm sáng thông suốt được chơn vọng. Thấy tánh là thấy, vốn bình đẳng rỗng lặng trùm khắp. Minh tâm kiến tánh giống như người chèo thuyền đã ra khỏi dòng sông được vào biển cả mênh man, nhưng chưa đủ.
Còn phải nhập vào rún biển, phải đi đến ngay rún biển và nhập vào rún biển xuống tận đáy biển lấy được viên ngọc bửu châu như ý mới xong. Tức là được minh tâm kiến tánh là còn phải trải qua ba giai đoạn nữa.
Chính có đa số người hiểu lầm ngay biết lời dạy chư tổ sư và Phật chút ít cho là mình đã minh tâm rồi. Thấy tánh thanh tịnh rỗng không lại cho là đã kiến tánh rồi. chấp chặt nơi đó hưởng quả nhị thừa hoặc chấp ngoan không lạc vào quỷ đạo, chấp thường sanh lạc vào thiên ma mà không hay. Đó lạc mà không hay. Hỏi sở dĩ vì sao lại có người làm chấp đáp? Vì kiến tánh có sáu cách từ cạn đến sâu như sau:
Một là thấy tánh của tư tưởng có sạch dơ.
Hai, thấy tánh tình có buồn vui mừng giận, thương ghét muốn.
Ba, thấy tánh thể rỗng không, không sắc không pháp.
Bốn, thấy tự tánh thanh tịnh không sanh không diệt.
Năm, thấy tánh thấy bình đẳng rỗng lặng trùm khắp.
Sáu, thấy tánh trí vốn tự nhiên.
Tức là phải sáu cái thấy tánh. Nhưng mà có nhiều người cũng tu thiền nhưng mà mới thấy một tánh, hai tánh, ba tánh thôi hoặc bốn tánh thì họ cho là đủ rồi. Nhưng mà chưa đủ, phải trải qua sáu lần thấy tánh mà mỗi lần thấy nó là càng ngày càng đi sâu hơn.
Cái này phải hành thiền, phải đi vào hành pháp mật hạnh của chư Bồ Tát mới được chứ không phải mà hành sơ xài mà được.
Tóm lại do chỗ thấy tánh có cạn sâu không đồng mà nhiều hành giả lầm chấp lạc vào tà kiến thành thiên ma ngoại đạo. Đặc biệt là chỗ thấy tánh thể rỗng không, không sắc không pháp, chấp chặt nơi đây, tự che bít lối đi của mình. Đó là không trời, không Phật, không thiên đường địa ngục, không tội, không phước đi vào thiên ma quỷ đạo cống cao ngã mạn, hiu hiu tự đắc coi các bậc tiền nhân chẳng ra gì, thật đáng thương thay.
Lại nữa, có người vọng tưởng mong cầu thành Phật quá độ, bị quỷ thiên hoặc thiên ma thấu biết, hiện ra những điềm lành cám dỗ như là thấy hào quang hoa nở, cỡ rồng cỡ voi trắng rồi ngồi trên dần mây, ngũ sắc vân vân. Hoặc chúng nói nhỏ bên lỗ tai, hoặc chúng xâm nhập vào cơ thể khiến cho tâm trí linh thông, nghi đâu có đó. Mách bảo số mạng nói tiền kiếp thiên cơ. Nhiều lần thấy linh ứng ngỡ lầm mình đắc đạo, tin theo chấp lầm, đa nghi, tà kiến, vọng ngoặc, sanh tâm đoạn kiến, thường kiến, thiên kiến, biên kiến, xa đọa vào ác đạo đời đời kiếp kiếp, mất chánh kiến, mất chánh niệm, xa rời chánh đạo, làm bạn với ma quỷ, gian tà, xảo mị. Phần này rất nhiều người chấp lầm bị ma Ba Tuần dụ dỗ dẫn dụ theo đàng tà mà không hay.
Các đệ tử phải cẩn thận điều này chớ sai lầm và phải hiểu rằng đạo cả cao dày sâu rộng sự giác ngộ có cao thấp từng bậc không giống nhau. Sự đại ngộ cuối cùng đúng theo như chữ minh tâm kiến tánh là tâm sáng thông suốt các mối phiền não phân biệt được trơn vọng rõ ràng, thấy tánh thấy sáng của sự thông suốt phù hợp với chánh tri kiến của Phật.
Và điều chú ý là ý niệm đầu tiên của người xuất gia tu học hoặc hành thiền đến cái đích cuối cùng của ý niệm đầu tiên đó vẫn nguyên vẹn thì mới mong khỏi lạc chánh pháp. Cũng như cây súng của một chiến sĩ ra trận, điểm nhắm đầu từ nòng súng đến nốt ruồi họng súng, chính điểm muốn nhắm bên ngoài thì khi lãi cò mới mong trúng đích. Bằng chẳng vậy chắc hẳn là phải sai lạc.
Sự nhắm ấy phải giữ tâm trạng tự nhiên bình thường, nhắm quá độ mất tự nhiên bình thường sẽ bị chóa mắt lạc ngay.
Giữ sự nhắm tự nhiên bình thường đó là trung đạo, đó cũng là tức là chánh đạo của người chiến sĩ tùng quân. Thì cái người tu xuất gia hành đạo, hành đạo tâm y như người chiến sĩ tùng quân bên ngoài như vậy.
Kết quả huyền diệu của lời phát nguyện.
Để nhắc lại vào năm Mậu Thân 1968 ngày 14 rằm trung thu tháng 8 hồi 12 giờ khuya, sư ra phía trước chánh điện đứng giữa trời nguyện rằng: "nguyện mười phương chư Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế thần thánh thiêng liêng chứng giám: nếu phải kiếp này con tu học kết quả để cứu chúng sanh thì sáng ra bầu trời trong sáng không có mây mù để làm tin." Thật vậy tháng tám là lúc mưa dầm mà sáng ra ánh trời rất quang đảng sáng suốt không hề gợn một chút mây mù nơi nào. Nên sư có kệ nói lên sự cương quyết thành đạo như vậy:
"Ta cương quyết không bao giờ chán nản,
dù tan xương thịt nát chẳng ngại ngùng.
Nguyện ban hành chân lý chúng sinh chung,
đem pháp nhãn soi cùng trong vũ trụ.
Ta quyết chắc một ngày kia thành tựu,
quả toàn năng toàn giác của Như Lai.
Lời chân thành thấu đến chốn liên đài,
xin Đức Phật ban ân cho đệ tử.
Ta cương quyết vượt qua đường thách thử,
dù phong ba, dù bảo táp trập trùng.
Nguyện phụng thờ chân lý, chúng sanh chung,
không bất mãn, không sờn tâm thối chuyển."
Kỷ Dậu niên ngày 15 tháng 1969, sau 4 tháng tham thiền nhập định đóng cốc tịnh tu. Tóm lại năm 1964 ngày 15 tháng 12 giáp thình tại tịnh xá Ngọc Thạnh quận Thịnh Trị tỉnh Sóc Trăng, khai thông tuệ nhãn tức khai mở thần nhãn. Nhắm mắt thấy coi cõi âm là sáng, mở mắt thấy cõi dương gian là tối. 12 giờ đêm ngày ấy được Đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nhắc nhở tu pháp hồi quang phản chiếu và thập lục hạnh cùng tự nguyện thọ giới Bồ Tát xuất gia 10 giới trọng 48 giới khinh phát lên 12 lời đại nguyện tu hành để cứu độ chúng sanh.
Năm 1965 ngày 16 tháng Giêng rời đoàn giáo hội đi tu tịnh hành pháp thiền nhĩ căn viên thông của Quan Thế Âm Bồ Tát trong kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Năm 1966 ngày 24 tháng 6 Bính Ngọ cất lên tịnh xá Liên Hoa đầu voi rừng cấm.
Năm 1967 ngày 16 tháng 2 sau 7 ngày nhập thất hành pháp hồi quang phản chiếu, ngộ lý Tứ Diệu Đế ý pháp vô sanh tự sẽ giáng sáng tác tiếng gọi từ bi giải mở hận thù và bức tâm thư linh hồn dân tộc.
Ngày 2 tháng 5 đinh mùi đi gửi bộ thông tin Sài Gòn để đánh thức con tiên cháu Phật cứu độ chúng sinh.
Ngày 9 tháng bị chất vấn để làm sáng tỏ mọi vấn đề.
Ngày 13 tháng 5 bị dội hai quả bom 250 cân. Bom rớt sai điểm nên sư đặng an toàn.
Cụ thể ông Huệ đội pháo binh trung đoàn 48 sư đoàn 18 đóng tại dốc bà Nghĩa Tân Uyên sau ngày giải phóng đã cải tạo đi diện HO định cư nước Đức về thăm quê năm 2018 nói lại. Bởi ông lúc đó làm tình báo cho Mỹ kể với người thân đúng là Mỹ bảo thả hai trái bom tại tịnh xá Liên Hoa. Nhưng một trái rơi tại trường học sơ cấp nhà chú Thuận chợ Tân Uyên làm chết liền tại chỗ 7 em học sinh, năm em trọng thương sau đó chết luôn. Cộng tất cả 12 em. Một trái rơi trúng nhà ông Bảy Tới xã Bình Long Nguyễn Vĩnh Cửu Biên Hòa chết ba người còn lại một người bị thương.
Năm 1973 xe nhà binh Mỹ đụng song thân phụ mẫu nhà sư là Lê Văn Đấu và Trần Thiện Khiếm tại ngã tư cầu Mới Biên Hòa, cầu Hóa An hai ông bà chết hết một lượt. Có bài thơ rằng:
"Yêu quốc thổ phụ mẫu hy sinh suốt cuộc đời trọn vẹn.
Mến dân lành trời đất cũng nhỏ giọt lệ khóc thương tâm."
Năm 1968 ngày 8 tháng 2 Mậu Thân, hành pháp hồi quan phản chiếu xét thập nhị nhân duyên ngộ lý vô thường của tâm pháp đạt lý chân không diệu hữu.
Ngày 8 tháng 3 hành pháp hồi quang phận chiếu đại ngộ tự tánh Bát Nhã của mười phương chư Như Lai.
Ngày 15 tháng sáng 5 giờ ra giữa trời phát nguyện:
"Nếu phải nhân duyên kiếp này con giáng thế độ đời khai sinh khai kinh Bát Nhã thì xin ân trên khiến cho sáng ra bầu trời tươi sáng trong trắng không có mây mù để làm tin", thế là đã được như nguyện.
Khoảng 8:00 sáng cũng ngày rằm trung thu tháng 8 ra trước đình thần Bình Hưng phát nguyện nếu đúng như kiếp này con thành tựu đạo nghiệp cứu độ chúng sanh xin chư Phật mười phương và hộ pháp chư thiên chứng giám con dồi bắt đất lên thả xuống không bể. Thật là kỳ diệu bát không bể.
Ngày 16 tháng 7 sau khi cúng lễ Vu Lan bồn của năm kỷ dậu 1969, sư phát nguyện đóng cốc hành pháp thập lục hạnh xuyên suốt hành thiền tự tánh ba la mật và nguyện nếu không viên mãn bồ đề nguyện quyết không ra thất xả tịnh hoặc đất nước hòa bình thời mới xả.
Thế là liên tục và liên tục thành thiền tự tánh tánh chuyển pháp bát chánh đạo nghịch chiều đi sâu vào tạng tánh Bát Nhã, nên ngày 15 tháng 11 năm Kỷ Dậu là trọn vẹn công phu hành thiền, đến ngày nay.
Ngày 10 tháng 2 năm Canh Tuất 1970, giờ tý 12:00 đêm Đức Phật Tổ Thích Ca Như Lai thọ ký là An Lạc Hạnh. Cho nên cái danh vă ngà hành của sư không phải sư tự đặt.
Sư có phát lên 42 lời đại nguyện. Năm lời đầu như:
Một, đại nguyện ban hành chánh pháp của tam thế phật.
Hai, đại nguyện nói dấu từ bi của Đức Bổn Sư Thích Ca Như Lai.
Ba, đại nguyện làm tròn sứ mạng ân trên giao phó.
Bốn, đại nguyện độ tận chúng sanh đồng siêu tịnh độ.
Năm, đại nguyện tùy duyên phổ hóa chúng sanh, thoát qua bờ giác.
v...v
Ngày 2 tháng 9 Canh Tuất 1970 đến nhà báo Tin Sáng nhờ đăng tải tiếng gọi hòa bình để để cứu chúng sanh.
Nói rõ bát chánh đạo hành theo hạnh ThThanh Văn chiều thuận của kim đồng hồ là:
chánh kiến, chánh tinh dư, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Nhưng mà khi hành bát chánh đạo chiều nghịch thì sao?
Từ chánh định chuyển ngược vào chiều sâu của lý tánh, luôn an trú trong thanh tịnh tâm dẫn đến chánh niệm.
Niệm niệm không lìa tự tánh sẽ sanh ra chánh tinh tấn không dừng dẫn đến sanh ra chánh mạng sống bằng pháp thân huệ mạng.
Sống bằng pháp thân huệ mạng mới đủ khả năng gánh giác sự nghiệp của Đức Như Lai và hành chánh nghiệp.
Có sống bằng chánh nghiệp chân chánh ngay thật mới hiển minh đặng chánh ngữ và nói lời chắc thật chắc quyết không hề dối trá đối với chúng sinh vạn loại.
Có nói lên lời chắc chánh ngữ mới sanh ra mới sanh ra chánh kiến tri của Như Lai.
Thời gian hành thiền tự tánh có những điềm lạ xuất hiện như sau:
Một con thỏ đồng chạy qua chạy lại trước mặt bắt lên xem thấy kiến lửa cắn bàn chân nó.
Cái thứ hai, hai trái bí rài xẻ ra chỉ có một hột chắc. Nghĩa là mình không có trồng mà bà Ngọc Hiền hộ Pháp nấu nướng này kia nọ rồi cái hột bí nó nó rớt rà thôi, nó mọc lên có hai cái trái bí rợ rất lớn một trái lớn và một trái vừa [hắng giọng] dừa thì tôi kêu bà hiền xẻ ra thì trong hai trái bí rợ này á bỏ vô thau nước cái hột của nó chỉ có một hột chắc duy nhất mà thôi chứ không có không có hai hột nữa.
Thứ ba là con rắn rồng chạy vô nằm khoanh dưới tháp thời Phật.
Thứ tư là cây thôm tây đứng phía trước chánh điện trổ 16 đầu. Có một có một cây trổ ba đầu.
Thứ năm á là ba nấm mối lớn mọc lên trong cốc chỗ sư ở và sau đó mọc thêm một nấm rất lớn.
Thứ sáu là cây đu đủ tây đứng trước cốc cao khoảng 1m6 trổ chỉ có một quả cho đến tàn.
Thứ bảy là hai nấm cây mọc lên trong cốc giống tựa đuôi rồng.
Năm 1974 lối 8:00 tối ngày 14 sáng rầm vào tháng 6 tự nhiên một tiếng sấm nổ vang trời, sánh sáng tua tủa khắp vùng chánh điện tỉnh xá Liên Hoa. Sáng ra tìm kiếm dấu vết không thấy biết gì cả. Ngoài một tháng sau mới phát hiện da góc cây bồ đề khô dọp, từ từ cây bồ đề héo lá chết dần đến khô. Khi cưa xuống còn lại gốc lên tược 108 đọt. Cưa rồi cưa góc rồi nó lên một đúng là 108 đọt.
Bữa nay thì cũng như để nói lên cái việc hành đạo của nhà sư cũng như có những hiện tượng lạ cho tăng ni và Phật tử mình nghe để rồi từ từ mình nghiên cứu tìm hiểu như thế nào đây. Không biết là sư khùng hay là thật. Thật hay là khùng? Sở dĩ hôm nay lần đầu tiên trong 52 năm hành đạo, có lẽ đây là cái duyên cũng đến lúc phải nói rồi đó phải nói để cho bà con mình biết.
Thì trước khi dứt lời một lần nữa cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ pháp chư thiên gia hộ cho tất cả chư tăng ni và Phật tử nam nữ gần cũng như xa à luôn luôn có tính tâm với tam bảo hay là tu nhân học Phật à đó là người cư sĩ tại gia còn chư tăng ni xuất gia thì cố gắng giữ gìn theo những cái quy điều mà Đức Bổn Sư Thế Tôn đã dạy để mong sao lời của Phật Thế Tôn Thích Ca Như Lai nói không sai.
Như Lai là Phật đã thành, tăng ni là Phật đang thành và chúng sanh là Phật sẽ thành.
Như vậy tất cả chúng sanh rồi cũng sẽ thành Phật. Có nghĩa riêng cá nhân nhà sư thấy rằng Phật là cái gì?
Đúng ra dùng cái từ Phật để tạm gọi nghe cho nó linh thiên nó hiển hích thôi. Chứ sự thật là một con người phàm nhân hiểu biết về cái nguyên lý sinh hóa của vũ trụ thiên nhiên, tức là hiểu được chân lý thôi chứ không có gì là Phật. Không có gì là Phật hết.
Nhưng mà cái người họ không hiểu chỗ này thì họ hiu hiu tự đắc. Họ nói ờ ta là ngon rồi vân vân và vân vân, sai lầm với cái đạo Phật. Đạo Phật tu không danh, không lợi, không tiền mà cũng không tình yêu cá nhân. Và khi nói tới đây tôi nhớ câu nói của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật giáo Hòa Hảo.
Lúc mà ngài ngài ra đời ở miền Tây á thì có một cô nữ đó cũng mến ngài bằng tình yêu theo ngài.
Thì ngài mới mới viết một bài thơ gửi cho cho cái cô nữ đó:
"Ta có tình yêu rất độn nồng,
yêu đời yêu đạo lẫn non sông.
Tình yêu bao quát trong hoàng vũ,
chớ chẳng yêu riêng khách má hồng.
Nếu khách má hồng muốn đặng yêu,
Thì trong tâm ý hãy xoay chiều.
Hướng về phụng sự cho nhân loại,
sẽ gặp tình ta trong khối yêu.
Ta đã đa mang một mối tình,
dường như thể hải giới sơn minh.
Tình yêu mà chẳng yêu ai cả.
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh."
Đó là lời thì đó là lời của Đức Thầy.
Còn riêng cá nhân của sư Giác Sự này hay là Thiền sư An Lạc cũng vậy thôi. Không có gì khác hơn. Thì đến đây cũng chúc tất cả chư tăng ni và Phật tử luôn thân tâm an lạc tu hiền được tinh tấn. Mô Phật.
Quay lại chuyên mục
Khai Sáng Tâm Pháp
Một bài giảng tự thuyết được giữ lại dưới dạng văn bản.
Bài giảngTự thuyết