Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 37

🔗Liên Hoa Pháp Giáo PHẨM THỨ 37 CHÁNH PHÁP BÌNH ĐẲNG THIẾT LUẬN
🔗Phật là bổn thể chơn tâm, Trời là trí huệ sáng suốt (tức Thượng đế). Một chúng sanh từ cõi phàm phu tu hành chứng Thánh quả, dầu là tiểu Thánh hay đại Thánh, cũng đều do trí khai sáng lần mà ngộ đạo, đạt đạo. Như vậy tiếng nói: nhờ Thượng đế mở đàng dẫn lối cho chúng sanh tu hành đắc Thánh quả để làm Tiên Phật có sai nào!...(đó là nói về mặt lý tánh).
🔗Còn nói về mặt sự tướng nếu chúng sanh tu hành mà không nhờ những bậc đại trí huệ khai sáng đàng chơn nẻo chánh cho, thì làm sao biết đâu là hư đâu là thật mà đi, hầu tránh khỏi sai đàng lạc ngõ? Lại nữa về mặt lý Bồ Tát cũng gọi là trí, mà Thiên Tiên cũng gọi là trí, vì người ngộ đặng tướng của trí gọi là thiên tiên trường sanh bất lão, người ngộ đặng tự tánh của trí gọi là Bồ Tát vô sanh. Bồ Tát là chúng sanh phàm phu tu hành nhờ trí (Trời) khai sáng mà ngộ đặng tự tánh của trí (tức tự tánh của Trời) nên làm Bồ Tát còn Thiên Tiên là chúng sanh phàm phu tu hành nhờ trí (Trời). Khai sáng mà ngộ đặng thể tướng của trí (tức thể tướng của Trời) nên làm Thiên Tiên và cũng chúng sanh phàm phu tu hành nhờ trí (Trời). Khai sáng mà ngộ đặng tạng tánh của bổn thể chơn tâm, nên làm Phật Như Lai.
🔗Tóm lại, tất cả chúng sanh tu hành muốn đắc quả Thần, Tiên, Thánh, Phật đều nhờ trí Trời khai sáng trong mỗi lúc “hoặc sự hoặc lý, hoặc hữu thể hoặc huyền vi”, mới có thể thành tựu theo ý muốn; hay nói, đều nhờ đại trí huệ của các bậc Trời, Bồ Tát, Thiên Tiên hướng dẫn đi trong mỗi giai đoạn, mới có thể chứng quả Thần Tiên Thánh Phật đặng.
🔗Thế thì đạo Phật, đạo Chúa, đạo Tiên, đạo Thánh, đạo Thần, đạo người đều là con chung của đức Thượng Đế. Chỉ có một Thượng Đế duy nhứt khai sáng tâm linh cho mỗi chúng sanh, và mỗi chúng sanh tu hành đắc quả người, Thần, Thánh, Tiên, Phật được đều do đức Thượng Đế mà ra chứ chẳng ai khi không mà có thể làm Tiên, Thánh, Phật đặng và cũng chẳng phải có nhiều đức Thượng Đế!...Còn trường hợp trong kinh Phật nói nhiều vị vua Trời, nhiều cõi nước của Trời, thì đó chỉ là vì thương chúng sanh nên phải chỉ ra lý tánh của bổn tâm, trong lý tánh mỗi niệm tưởng là một cảnh giới, mà cảnh giới có khác nhau là vì mỗi niệm tưởng có khác, nhưng dầu niệm tưởng có khác mà cảnh giới có khác chăng! Chứ cõi nào cũng có đất nước lửa gió, sơn hà đại địa, núi non, sông biển cả, dầu là cõi Tây phương thiên đường hay địa ngục ngạ quỷ...Nên nói: chúng sanh từ thuở ban sơ sanh ra đã do sự kết hợp của khí âm dương, của cơ tạo hoá mà nên sắc hình, rồi có tình, có tưởng, có hành, có biết, là ngũ uẩn, ngũ uẩn đã huân tập trong khí âm dương của cơ tạo hoá. Dầu hiện tại một chúng sanh tu hành có đắc đạo cao siêu thế mấy đi nữa...thì sắc hình, tình, tưởng, hành, biết cũng không ngoài Trời đặng (tức Thượng Đế) nếu có thể ngoài là ngoài cái hiểu (tức giác) mà thôi. Nghĩa là cái hiểu có thể vượt ngoài không gian và thời gian để ngộ nhập vào tạng tánh của bổn thể để làm đại thánh (tức đức Phật Như Lai toàn giác).
🔗Nhưng dầu cái hiểu có vượt ngoài không gian và thời gian (tức cơ tạo hoá lý âm dương) thì song song cái hiểu đó còn có cái biết, hành, tưởng, tình, hình, sắc, vẫn tương ứng nơi người đắc quả Phật, chứ không thể ly hẳn hoàn toàn đặng, mà nếu không ly hẳn hoàn toàn đặng, thì lẽ đương nhiên người đắc quả Phật gọi là con của Trời hay Thầy của Trời cũng đều đúng cả...Con đây là vì ngũ uẩn trong tạo hoá, thầy đây là vì cái hiểu đã vượt ngoài luật tạo hoá lý âm dương, để nhập vào tạng tánh chơn thường của bổn thể, và đồng thời trở lại làm căn bản cho trí nương tựa trong mỗi lúc.
🔗Tạng tánh chơn thường của bổn thể là thầy của trí (tức Thượng Đế) mà cũng là thầy của các hàng Bồ Tát, Thiên Tiên, Thánh, Thần, người, · tinh kỳ, ma my, thú cầm.Người hiểu được tạng tánh chọn thường là thầy của tất cả, mà cũng là con của tất cả, bởi cớ sao? Vì có học nơi tất cả mới có hiểu biết tất cả. Thế là chúng sanh là cha mẹ của chư Phật, vì ba đời chư Phật đều từ đó mà ra, chư Phật là cha mẹ của chúng sanh, vì chúng sanh đều từ nơi bổn thể mà đến...
🔗Chúng sanh bất diệt, chư Phật bất diệt. Chúng sanh thường còn, chư Phật thường còn. Các pháp thế gian, là Phật pháp. Tất cả chúng sanh đều là chư Phật.
🔗Tất cả chư Phật đều là con của đức Thượng Đế. Vì trí sanh ra cái giác (hiểu) là Phật. Bằng trí sanh ra cái mê (lầm) là chúng sanh. Cái sanh là cha, cái được sanh là con. Lý đã như thế, sự cũng như thế..... Tướng thật vậy, tánh cũng thật y như vậy. Sự lý viên dung, tướng tánh đồng hoà.
🔗Đừng ngỡ lầm chư thiên là Thượng Đế, Thượng Đế là chư thiên, vì Thượng Đế là vua Trời, còn chư thiên là dân Trời, chư thiên thì hay hộ trì người tu hành chơn chánh, người tu hành chơn chánh là con của vua Trời, thay Trời hành luật tại thế gian.
🔗Đức Thích Ca là một chúng sanh tu hành đắc quả đại Thánh.
🔗Đức Lão Tử là một chúng sanh tu hành đắc quả đại Tiên. Đức Khổng Tử là một chúng sanh tu hành đắc quả tiểu Thánh. Đức Giêsu là một vị chúa Thánh chuyển luân. Chư Thánh Tiên đều là hiện thân của Phật Trời tại thế để giáo hóa chúng sanh trên đường đạo hạnh, cũng như cải sửa cho chúng sanh với một cuộc sống hợp thiên tùng ý xả kỷ lợi tha, hầu không còn các khổ nạn, được an lạc đời đời.Nên dầu đức Thích Ca đắc quả Phật, hay đức Lão Tử đắc quả Tiên, hay đức Khổng Tử đắc quả Thánh và đức Giêsu là Thánh chưa chuyển luân chăng thì tất cả cũng thảy là con chung của đức Thượng Đế mà thôi. Ví dầu giữa đức Thích Ca, Lão tử, Khổng Tử, Giêsu về đức độ cũng như trí huệ có hơn kém nhau thì cũng chẳng vì lý do đó mà các Ngài không phải là Thánh Tiên... mà đã là Thánh Tiên tức các Ngài là chúa, là cha mẹ người gương mẫu cho chúng sanh chung, là thầy của người mê muội và là đàn anh của đoàn hậu tấn. Vậy là đoàn hậu tấn, là người mê muội, là một chúng sanh, chẳng nên vì một lý do gì mà phỉ báng đàn anh là thầy, là cha mẹ, là chúa của mình. Nếu cố phỉ báng đó là người phạm trọng tội.
🔗Trực Kiến hỏi: Bạch Đại sư, như trong thời mạt pháp, phần nhiều thì là đạo thạnh hành, như vậy chúng sanh làm sao để biết đâu là người hiền sĩ, đâu là người chơn tu để mà theo, hầu tránh khỏi sai đàng lạc nẻo? Xin sư chỉ day.
🔗Đại sư đáp: Này Trực Kiến ông hỏi như vậy đúng lắm! Đúng lắm! Sở dĩ vì sao? Vì nhân duyên ông hỏi đây mà chúng sanh hậu thế có được con mắt trí huệ, do nghe hiểu lời giải đáp của tôi để khỏi lạc vào tà kiến lầm chấp sâu nặng. Ông phải biết nếu thật là người hiền sĩ, thì dầu thời nào cũng vậy họ không hay mầu mè và rất mực thương dân mến nước, lòng thiết tha nghĩ đến sự đói khổ của sanh linh trên thì rõ biết thiên thời, dưới thì thông tri địa lợi, giữa thì am tường nhơn hoà, tuỳ cơ ứng biến, lúc ẩn lúc hiện, hoặc có hoặc không. Còn người tu hành chơn chánh là kẻ không xài phí vô độ và hủy hoại công của đàn na, sống đúng với hạnh xá kỷ lợi tha, từ bi ái chủng, thường hay bố thí phóng sanh mãi vật.
🔗Trực Kiến hỏi: Bạch Đại sư: cũng như có nhiều người tu hành nói: thiên cơ vận chuyển nên phải xây dựng chùa chiền hay nhà thờ, Thánh thất thế này thế kia, rồi trường hợp đang xây gần xong lại đập phá xây lại kiểu khác làm tốn hao tiền của bá tánh, mặc dù cái bị đập phá rất tốt đẹp... Kính bạch Đại sư: quả thật thiên cơ có vận chuyển như vậy không? Và người trụ trì hành động như vậy có phải là người thật biết thiên cơ không? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đại sư đáp: Nếu nói về thiên cơ tức là cơ Trời thì bất khả lậu mà đã là thiên cơ bất khả lậu thì cơ Trời là mật mà mật thì chỉ ngụ ý, chứ không thể chấp cái giả tướng đặng. Nói về thiên cơ thì người đắc được thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn mới rõ đặng mà thôi, còn nhục nhãn của phàm phu, thời không thể nào hiểu thấu, tuy nhiên người có thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn thời chỉ có Phật nhãn mới tận tường cơ Trời hơn hết. Nhưng đã là cơ Trời, tức Trời ra cơ, mà Trời là đấng cao siêu huyền diệu biết quá khứ, vị lai nếu có ra cơ để chỉ dạy cho người nào đó, thì cho trước một tháng hay ba tháng. Một năm hoặc cơ sẽ ứng hiện mỗi lúc trong khi đang hành đạo hoặc xây dựng Tam Bảo do người trụ trì điều khiển, chứ có đâu cơ Trời mà đợi làm xong rồi mới ra cơ sửa lại để đến nỗi đập phá huỷ hoại công của xương máu đàn na tín chủ và tứ chúng... Vả lại Trời thì rất mực vô tư nhưng chẳng vì lý do vô tư mà không đoái hoài đến kẻ đói khó cút côi bệnh tật, mà kẻ đói khó cút côi bệnh tật kia sao Trời không chuyển cho những vị tu hành có đủ khả năng tinh thần, vật chất giúp đỡ cứu vớt, lại vận chuyển lập lầu đài xa hoa lộng lẫy hữu hình giả tạm làm chi? ... Trời đã biết vật chất hữu hình là giả tạm kia mà... Vậy phải biết rằng nếu cơ Trời có hiện cho một vị tu hành nào đó thì chỉ hiểu bằng cách hư hư thật thật. Thật thật hư hư, để vị ấy ngụ ý mà biết lý tánh do thấy sự tướng ở trên mà chỉ dạy thực hành, chứ thiên cơ thời không phải thấy nghe như sự hiểu biết của phàm phu, ngược lại nếu người phàm phu không rõ lại chấp các sự tướng của âm thỉnh hình sắc thì đó là người bị cơ chuyển, chứ không phải người đó chuyển cơ... Người chuyển cơ Trời để hiểu lẽ thật của ơn trên chỉ dạy thì đó mới thật là người biết cơ Trời, có được con mắt Trời, tại Trời bằng người bị cơ chuyển thời người đó chưa biết lẽ thật của cơ Trời, mà chưa biết lẽ thật của cơ trời thì chính kẻ đó chưa trọn đủ hoặc chưa có thiên nhãn thiên nhĩ... Lại nữa, người tu hành cũng có lắm khi vì tâm móng tưởng hoặc ma tà ám ảnh thấy hiện cảnh rồi vì mê lầm cho là thiên cơ vận chuyển, thế này thế kia, rồi bày biện lẽ này lẽ nọ, làm mê hoặc lòng tin bá tánh ấy thôi.
🔗Tóm lại: Thiên cơ vận chuyển không bao giờ vận chuyển, xây dựng rồi đập phá, và người biết lẽ thật của thiên cơ thời không bao giờ bị cơ chuyển để đến đỗi huỷ hoại xài phí công của xương máu tứ chúng và kẻ đàn na tín chủ một cách vô lý.
🔗Trực Kiến hỏi: Bạch Đại sư, xin Đại sư minh định lại chỗ người bị cơ chuyển và người chuyển cơ cho con được rõ.
🔗Đại sư đáp: Thiên cơ là cái cơ mầu nhiệm, biến biến hoá hoá của Trời đất. Người chuyển cơ là kẻ đã đạt được sự thấy biết của Trời một cách chơn thật. Nghĩa là: người đó có được con mắt Trời, tai Trời nên thấy nghe được cái mật ý của cơ Trời biến chuyển trong mỗi lúc.
🔗Trực Kiến hỏi: Bạch Đại sư, như trong kinh Phật học Tinh Hoa có nói đoạn: “Sau khi đức Phật Thích Ca tịch diệt rồi, Đại đức Ca Diếp vấn tội ông A Nan về sự giặt y của Phật mà đạp dưới chân để vắt cho ráo ra chiều bất kính và Đại Đức Ca Diếp nói sao ông A Nan không liệng y lên hư không nhờ chư thiên nắm vắt phụ, và chư thiên thần thông quảng đại hộ Phật trùng trùng điệp điệp chỉ cần hô lên là họ đến tiếp chứ gì?“ Bạch Đại sư, điều đó có không lẽ nào? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đại sư đáp: Đại đức Ca Diếp mà còn vô minh như ý ông hỏi vậy sao?
🔗Trực Kiến hỏi: Bạch Đại sư, nếu nói như vậy thì Đại đức Ca Diếp không có vấn tội ông A Nan như trong kinh Phật học Tinh hoa sao?.
🔗Đại sự đáp: Tuy chư thiên hộ Phật trùng trùng điệp điệp vì đạo Phật là một giáo pháp rất chơn thật và trước mắt chúng sanh từ vô hình cho đến hữu hình, từ lý tánh cho đến sự tướng, từ có cho đến không, từ trần gian cho đến âm cảnh. Thuở Phật hành đạo đã có Đức Ca Diếp hiện tiền, và sau Phật tịch diệt, Đại đức Ca Diếp được thọ ký nối ngôi Tổ, vì Ngài đã đắc quả Đại A La Hán Thánh sự tự hiểu biết của mình đồng thời đã thấy nghe lời Phật dạy từ đầu chí đuôi, thì thử hỏi còn thiếu sót chỗ nào mà hỏi một cách vô lý như vậy!...
🔗Trực Kiến hỏi: Bạch Đại Sư chẳng lẽ người soạn quyển Phật học tinh hoa tự đặt điều mà nói dối chẳng?
🔗Đại sư đáp: Lý phải vậy; Người tu học phải hiểu rõ, cái gì âm là âm, cái gì dương là dương, âm dương không thể lẫn lộn được, kẻ vô minh không hiểu chánh pháp là gì? Mượn danh từ Phật Thánh và đặt điều nói nhảm, khiến cho chúng sanh mất chánh trị kiến thật là đau lòng Phật Thánh lắm vậy và ông phải biết thời này thiếu chi kẻ làm như thế để mưu cầu danh lợi vọng cuồng!!!
🔗Sau đây là lời đốn luận của quý Thượng tọa, Luật sư, Thiền sư, Pháp sư đối với Đại sư An Lạc Hạnh nhân buổi Đại hội Vu Lan.
🔗Pháp sư nói: Bạch Đại sư, lâu giờ chúng tôi nghe tiếng sư luận giải lý Đại thừa rất thông suốt, vậy sư ngồi đây cho tôi lấy lửa đốt, nếu sư còn biết nóng phỏng thì từ rày sắp lên sư đừng nói lý Đại thừa nữa, bằng không biết nóng phỏng thì tôi sẽ phục và tôn sư làm thầy, bởi lý Đại thừa là bậc Bồ tát, Phật đắc chơn như tự nhiên nói ra mà nay sư nói lý Đại thừa chắc sự được tự nhiên ắt không biết nóng phỏng, bằng biết nóng phỏng thời sự chỉ là kẻ phàm học nói lý Đại thừa như chim két học nói tiếng người, chớ chính chim két không phải là người?
🔗Đại sư nói: Đã là Pháp sư mà nói lời đó sao không biết thẹn, Pháp sư há chẳng xem trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật đã từng nói: chỉ có một món Niết bàn, một Phật thừa chớ không có thừa nào ngoài khác hay sao? Mà nay Pháp sư lại gọi rằng tôi thuyết lý Đại thừa, vậy chẳng hóa ra Pháp sư là kẻ phỉ báng Phật đó là điều thứ nhứt và Pháp sư cho rằng Phật Bồ Tát đắc chơn như tự nhiên là không còn biết nóng phỏng như thế chẳng hóa ra Pháp sư đồng hóa Phật Bồ Tát với các loại cây khô đá chết là loài vô tình, mà nếu như thế thì chính Pháp sư là kẻ tà kiến ngoại đạo rồi còn gì, đó là điều thứ hai, và sau rốt chưa chi mà Pháp sư vội vàng ví tối như chim két nói tiếng người cũng như kẻ phàm mà nói giọng thánh thì hình như Pháp sư chưa hiểu đạo lý là gì cả.
🔗Pháp sư nói: Chớ chẳng lẽ bậc đắc quả Bồ Tát hoặc Phật mà còn lay động?
🔗Đại sư nói: Nếu không lay động thì sao gọi là Phật hay Bồ Tát đặng.
🔗Pháp sư hỏi: Lời nói của Đại sư đó là lời nói của kẻ vô minh chớ nào phải người sáng sủa, không lẻ Đại sư không hiểu trong kinh Kim Cang, Phật đã dạy:” Như lai là như như chẳng lay động và Như Lai là chẳng từ đâu mà đến, mà chẳng từ đâu mà về”.
🔗Đại sư đáp: Phải. Tôi là kẻ vô minh, còn Pháp sư tự nhận là mình sáng sủa hiểu biết Phật pháp. Vậy, theo ý Pháp sư, trong kinh Kim Cang, Phật dạy “Như Lai là như như chẳng lay động và Như Lai là chẳng từ đâu mà đến và chằng từ đâu mà về. Nghĩa ấy thế nào, Pháp sư nói thử?
🔗Pháp sư: Thời trong kinh Phật đã nói như vậy thì y như vậy như tôi đã nói lúc nảy chớ còn nghĩa lý gì nữa!
🔗Đại sư: Thật tôi rất thương tiếc cho công trình của Pháp sư. Tu hành mấy chục năm nay đã từng lên diễn đàn thuyết giảng thao thao bất tuyệt mà hai chữ Như Lai cũng không hiểu lý nghĩa lời Phật dạy và còn cố chấp cho mình hay giỏi. Cái tà kiến ấy tự làm bít lối đi của mình mà chẳng hay. Thật đáng thương tiếc thay
🔗Pháp sư đáp: Đâu Đại sư giải thích hai chữ Như Lai là như như chẳng lay động và Như Lai là chẳng từ đâu mà đến và chẳng từ đâu mà về coi lý nghĩa ra sao?
🔗Đại sư: Chánh pháp nào phải dễ học quá vậy. Pháp sư há chẳng xem trong kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, Phật nói Đức Thiên đế và hàng chư Thiên muốn cầu học chánh pháp còn phải quỳ lạy Giả can và thành lập Tòa thỉnh Giả can lên ngồi để dạy chánh pháp ư? Pháp sư suy nghĩ giây lâu mới quỳ xuống chắp tay nói rằng: ”Thật lòng tôi rất mong cầu chánh pháp nhưng lâu nay, tự biết mình chưa thâm hiểu đạo mầu. Mong Đại sư mở lượng từ bi chỉ dạy cho.” Nói xong, Pháp sư quỳ lễ Đại sư 3 lể.
🔗Đại sư: Phật dạy trong kinh Kim Cang Như Lai là như như chẳng lay động và Như Lai là không từ đâu mà đến và chẳng từ đâu mà về là ý Phật chỉ ngay vào cái bản thể. Cái bản thể vốn không hình không dạng, không tướng không tánh, không có không không, từ vô thuỷ đến vô chung nó vốn tự nhiên, như nhiên bất động nên gọi chẳng có đến và về, còn một chúng sanh đắc quả Phật, hoặc Bồ Tát, tức là chúng sanh đó đã được thành tựu một pháp... Nhưng pháp xưa nay vốn không sanh, thì thử hỏi thành tựu cái gì...? Nếu không phải là thành tựu đặng cái hiểu, cái kiểu là hiểu, còn bản tính Như Lai là bản tính Như Lai, chứ cái hiểu nào phải bản tánh mà đồng hoá như một đặng!...Vả lại, cái hiểu thì năng biến hoá vạn môn vạn pháp, Pháp sư chưa từng nghe trong kinh Phật nói, người đắc chánh pháp là bậc có đầy đủ khả năng hiểu biết, chuyển hoá mọi cảnh, có thể chuyển kê hoá phụng, chuyển cù hóa long, chuyển tham sân si ra giới định huệ, chuyển thất tình thành thất bảo, chuyển thập ác thành thập thiện, chuyển trần gian thành cực lạc, chuyển địa ngục thành thiên đường sao?
🔗Pháp sư: Như theo lời Đại sư thì bậc đắc quả Bồ Tát hoặc Phật phải còn lay động?
🔗Đại sư: Cũng không phải vậy.
🔗Pháp sư: Vậy là như thế nào? Xin sư giải thích cho.
🔗Đại sư: Bậc đắc quả Phật hay Bồ Tát là bậc đã đạt được bản thể Như Lai bất động của mình, nhưng trong cái bản thể bất động ấy còn có cái trí thấy nghe hiểu biết năng sanh hoa vạn môn vạn pháp. Và tuy năng sanh hoá vạn môn vạn pháp, nhưng vẫn tùy thuận trong cái tánh không lay động của bản thể, nên nói bậc đắc quả Phật hoặc Bồ Tát là bậc lay động mà không lay động, không lay động mà lay động vậy.
🔗Pháp sư: Như thế thì chẳng hoá ra người tu hành không có quả vị gì để đắc cả?
🔗Đại sự: Có chứ, có đắc được một pháp vô pháp chứ sao không..
🔗Pháp sư: Có đắc được một pháp là tướng sanh, vô pháp là tướng diệt, sanh diệt là pháp của Thiên ma ngoại đạo chứ nào phải chánh pháp của chư Phật ba đời mà Đại sư luận?
🔗Đại sư: Pháp sư chỉ biết một mà chẳng biết hai. Có đắc được một pháp là tướng sanh, vô pháp là tướng diệt, nhưng trong tướng diệt còn có tướng sanh, trong tướng sanh còn có tướng diệt, tướng sanh nào phải tướng diệt, tướng diệt nào phải tướng sanh, sanh diệt cùng chung một thể tánh rỗng lặng trùm khắp. Nên tướng sanh cũng tức là diệt, tướng diệt cũng tức là sanh, sanh diệt, diệt sanh là pháp thế gian, mà pháp thế gian cũng chính là Phật pháp, lời nói của đức Thích Ca trong kinh rõ ràng sao Pháp sư lại phỉ báng đi vậy.
🔗Pháp sư: Như vậy thì người tu hành rõ ràng có quả vị để chứng đắc rồi?
🔗Đại sư: Không. Không có quả vị gì để người tu hành chứng đắc cả.
🔗Pháp sư: Uả! Sao Đại sư nói cái gì mà trái ngược quá vậy, khi thì nói có lúc lại nói không là nghĩa thế nào?
🔗Đại sư: Trời không căn bổn, đất chẳng có chân, vạn vật trần gian thảy chung hườn mộng, sao Pháp sư không tự hiểu lấy mà vội vàng trách kẻ khác đi vậy!
🔗Tôi từ khi khai ngộ chánh pháp cho đến nay chưa hề nói một lời nào ngoài chánh pháp huống hồ là sự trái ngược mà có hay sao?
🔗Pháp sư: Đại sư nói chưa hề thốt lời trái ngược, tức là đã có trái ngược rồi còn gì nữa.
🔗Đại sư: có trái ngược mà chính không phải trái ngược! Sở dĩ vì sao? Bởi chánh pháp không phải hư, không phải thật, cũng thật mà lại cũng hư, nên nói trái ngược tức là thuận theo đã không phải thật mà thật, bằng nói không trái ngược tức là tùy thuận theo đà không phải hư mà hư, hư thật cùng chung một gốc, gốc mà không phải gốc, không phải gốc mà gốc, đó là chánh pháp của chư Phật ba đời. Lại nữa chánh pháp mà không phải chánh pháp, vì là tự pháp vốn không sanh, chỉ do đối cảnh mà lập, chư Phật ba đời cũng không phải là chư Phật ba đời vì chúng sanh xưa nay vốn không tự tánh, quả vị mà không phải quả vị vì bổn tâm xưa nay vẫn thường trụ.
🔗Pháp sư: Bạch Đại sư, có phải người hiểu đạo là người biết tâm ý chúng sanh không?
🔗Đại sư: Phải. Người hiểu đạo là người biết tâm ý chúng sanh.
🔗Pháp sư: Vậy xin sư cho biết chứ tâm ý của tôi đang nghĩ cái gì?
🔗Đại sư: Pháp sư đừng hỏi như vậy. Sở dĩ vì sao? Nếu nói người hiểu đạo biết tâm niệm của chúng sanh trong mỗi lúc, thì chẳng hoá ra tất cả người vô hình kia thảy là Phật Thánh. Bởi người vô hình nếu ai có khởi một niệm tưởng gì mà liên quan đến họ là họ biết liền chứ khỏi cần nói ra, mặc dù họ chẳng hiểu chánh pháp là gì cả. Lại nữa nếu đáp đúng tâm ý của pháp sư đang nghĩ cái gì thì người có bùa ngãi hay luyện thiêng linh, họ vẫn nhờ người âm mách bảo đúng y, rồi trường hợp đó họ là người Phật Thánh hay sao?
🔗Pháp sư: Vậy người hiểu đạo biết tâm ý chúng sanh theo trong kinh Phật nói đó là nghĩa thế nào? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Người hiểu đạo là người hiểu biết hoàn toàn hai lẽ chơn và vọng, tuyệt đối và tương đối. Sanh và diệt, có và không, và trong tâm niệm của chúng sanh từ vô thuỷ đến vô chung, có bao nhiêu phiền não trần lao cùng sự biến hoá như thế nào... đó là lời Phật dạy trong kinh vậy.
🔗Pháp sư: Như có vị Thiền sư nọ nói với người kia: nhà anh có cái gì, anh để tại đâu chỉ đi, tôi về cốc tọa thiền xuất thần đến đó lấy về rồi đem ra anh xem.
🔗Người kia tin lời chỉ vật, kế vị Thiền sư nọ vào cốc một hồi, lấy vật mà người kia chỉ ra thật đúng y như vậy. Bạch Đại sư, lẽ đó thật hư thế nào? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Người nọ tuy gọi là Thiền sư, nhưng chính thật là kẻ tà kiến ngoại đạo, xài bùa ngãi, sai âm binh đến xem lấy về, hoặc hiện nguyên hình vật được chỉ để mê hoặc lòng tin bá tánh, chớ nào phải kẻ xuất thần mà bàn luận.
🔗Pháp sư: Vậy người tu thiền định xuất thần được như thế nào? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Người tu thiền định theo chánh pháp xuất thần mật mật trong cõi huyền vi, chứ chẳng có cái gì hiển hiện cả. Nghĩa là người thiền định theo chánh pháp có xuất thần mà không, không mà có vậy.
🔗Đại sư giải đáp đến đây, vị Pháp sư quỳ xuống đảnh lễ đại sư ba lễ và nói rằng: ”Thật đại sư là người trí huệ vô ngại biện tài, từ rày trở đi đệ tử xin kính Đại sư làm thầy, mong Đại sư nhận cho”.
🔗Đại sư: Tôi xưa nay vốn không chỗ chứa, nhận Pháp sư làm đệ tử thì phải để nơi nào? Bằng có chỗ để thì chẳng hoá ra tôi là kẻ ích kỷ hay sao? Vả lại Pháp sư còn nương nơi tôi, thì Pháp sư tự buộc lấy mình, ngược lại không nương thì vô phương cởi mở. Vậy thì tùy Pháp sư, cứ tự nương, tự không, tự buộc, tự mở lấy, hay là Pháp sư đừng dính mắc thì cũng chẳng cần cởi mở gì cả.
🔗Kế có vị Thiền sư bước đến đảnh lễ sư ba lễ và hỏi rằng: “Bạch Đại sư, người tầm đạo có cần hành pháp chi để được đạt đạo không?“
🔗Đại sư: Có chứ. Người tầm đạo cần hành một pháp mà không phải pháp mới có thể đạt được đạo.
🔗Thiền sư: Có một pháp mà không phải pháp là nghĩa thế nào? Xin Đại sứ chỉ dạy.
🔗Đại sư: Có một pháp là tướng sanh, không phải pháp là tướng chẳng diệt, bởi có mà chẳng diệt, nên pháp ấy chẳng phải là sanh, tướng sanh tướng diệt đồng không mới gọi là một pháp mà không phải pháp.
🔗Thiền sư: Pháp ấy tên chi? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Pháp ấy vốn thật tự nó không có danh, nhưng vì đối cảnh mà phương tiện lập thành, nên gọi là vô sanh pháp. Vô sanh pháp đây ba đời chư Phật đều hành qua để đến quả vị chánh giác, và chư Bồ Tát cũng nhờ nó mà đạt được chỗ vô học.
🔗Thiền sư: Một pháp vô sanh có phải là nhứt hạnh tam muội không? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Phải vậy. Một pháp vô sanh cũng tức là nhứt hạnh tam muội, mà cũng là mật pháp ba la mật, nhưng vì văn tự có khác chứ lý pháp vẫn đồng.
🔗Thiền sư: Hành một pháp vô sanh có đủ các hạnh trang nghiêm không? Xin sự chỉ dạy?
🔗Đại sư: Người đạt được một tâm pháp chánh định (tức vô sanh) rồi, thì lẽ đương nhiên có đủ các
🔗hạnh bình đẳng (tức trang nghiêm) vậy..
🔗Thiền sư: Như thế người hành một pháp vô sanh cũng tức hành cả muôn pháp sao?
🔗Đại sư: Một tâm pháp vô sanh bao gồm vạn pháp vạn hạnh. Do đó người thực hành một pháp vô sanh cũng tức hành vạn pháp vậy.
🔗Thiền sư: Xin Đại sư chỉ dạy pháp Thiền định vô sanh cho.
🔗Đại sư: Bổn tâm trước sau thường lặng, đó là Thiền. Tự tánh năng tịnh đó là định. An nhiên thanh tịnh đó là Thiền. Nội ngoại không vọng chấp đó là định. Tự tâm thường trống vắng đó là Thiền. Có không đều chẳng ngại đó là định.
🔗Thiền sư: Bạch Đại sư, Ngài thường thiền định như thế nào?
🔗Đại sư: Tôi mùa xuân thì hái hoa cúng Phật. Mùa hạ thì cuốc đất trồng khoai. Mùa thu thì chèo ghe vớt củi. Mùa đông thì xách nước tưới cây. Hễ đói thì ăn, khát thì uống. Mê mệt thì đi ngủ nghỉ, giật mình thì tỉnh dậy. Có thì làm không thì thôi, phải quấy chẳng chấp, hư nên biết hay, ai cầu thì cứu, ai cứu thì cầu, trâu thường cưỡi, ngựa không kềm. Ngày cũng như đêm, biết mình biết vật. Thiền định của tôi như vậy đó.
🔗Thiền sư: Thiền định của Đại sư chỉ là thiền định thường tình. Sao lại gọi là người có diệu pháp?
🔗Đại sư: Phải. Thường tình mới có thiền định, chớ Thánh tâm nào có tên chi. Vả lại, tình không thường thiền định thì sao gọi là người biết học hành chánh pháp. Thiền sư há chẳng xem trong kinh Pháp Bảo Đàn, ngài Lục Tổ đã nói:
🔗Khi sống ngồi chẳng nằm. Khi chết nằm chẳng ngồi. Thiệt đồ xương thịt thúi. Sao dám nói công phu.
🔗Thiền sư: Người trong giờ thiền định nghe tâm hồn nhẹ nhàng, thoạt nhiên xuất thần bay bổng lên không trung, được thấy xem các cảnh trang nghiêm của cõi cực lạc, cùng nghe được lời huyền diệu của chư Phật thuyết giảng từ xa vọng lại, người đó thiền định đến cảnh giới nào? Xin Đại sư chỉ dạy
🔗Đại sư: Người đó bịnh thiền rồi.
🔗Thiền sư: Sao lại được các cảnh quý báu như vậy mà gọi là bệnh?
🔗Đại sư: Chính đã bị ngũ ấm ma ám nhập thì sao lại gọi là không bệnh đặng.
🔗Thiền sư: Nếu như vậy thời người tu thiền định không xuất thần được hay sao?
🔗Đại sư: Người tu thiền định có xuất thần chứ sao không.
🔗Thiền sư: Vậy người tu thiền định có xuất thần được mà không bệnh là như thế nào?
🔗Đại sư: Người tu chánh pháp và đạt được chánh pháp là thiền định bằng một cách chơn thường, bởi thiền định bằng cách chơn thường nên sự xuất thần cũng chơn thường, chứ chẳng có cái gì bất thường cả, và bởi không có cái bất thường nên gọi là không bệnh vậy.
🔗Thiền sư: Bất thường và chơn thường khác nhau chỗ nào? Xin sự chỉ dạy
🔗Đại sư: Bất thường là hiển, chơn thường là mật, lại cũng ví như bà mẹ nuôi dưỡng thai nhi đúng tháng đủ ngày sanh ra. Nếu đứa con được sanh mà trái tim nằm bên ngoài lồng ngực thì gọi là bất thường “bệnh”. Bằng đứa con được sanh ra mà trái tim nằm tự nhiên trong lồng ngực thì gọi là chơn thường “không bệnh”. Không bệnh thì thuận lý tự nhiên, còn bệnh thì nghịch lý tự nhiên.
🔗Thiền sư: Tu hạnh trí huệ vô sanh là như thế nào? Xin đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Trí thường năng quán xét các pháp để được thông suốt mọi lẽ, mà không lìa tự tánh thanh tịnh, đó là tu hạnh trí huệ vô sanh.
🔗Thiền sư: Tu hạnh bố thí vô sanh là như thế nào? Xin Đại sư chỉ day.
🔗Đại sư: Năng làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, mà không khởi tâm chấp trước các tướng, đó là tu hạnh bố thí vô sanh.
🔗Thiền sư: Tu hạnh nhẫn nhục vô sanh là như thế nào? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Mặc dù hiểu biết sự nhục nhã là vô cớ nhưng vẫn an tâm mà lãnh chịu không cho cái sân vọng khởi ra ngoài tự tánh thanh tịnh, đó là tu hạnh nhẫn nhục vô sanh.
🔗Thiền sư: Có sân mới tu hạnh nhẫn nhục vô sanh, hay không sân mà tu hạnh nhẫn nhục vô sanh xin đại sư chỉ dạy?
🔗Đại sư: Nay nói có đó tức là không, vì sao? Bởi có sân mà cái sân ấy vẫn an trụ không vọng khởi ra ngoài tự tánh thanh tịnh nên gọi là không, vì chưa có hình dạng, và chưa có hình dạng mà có. Có cái không hình không dạng, do đó nên gọi là vô sanh nhẫn nhục vậy.
🔗Thiền sư: Tu pháp tinh tấn vô sanh là như thế nào? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Vẫn tinh chuyên thường hành các pháp lành mà ý chẳng sanh khởi vọng chấp các tướng đó gọi là tinh tấn vô sanh.
🔗Thiền sư: Tu hạnh trì giới vô sanh là như thế nào? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Nay nói trì giới mà không phải trì giới đó mới gọi là trì giới vô sanh, sở dĩ vì sao? Lòng bình đẳng đó là trì, tánh không một vật đó là giới, năng làm lợi ích chúng sanh đó là trì, hạnh ác không mê đó là giới.
🔗Khi Đại sư vừa đáp đến đây thì có một vị Luật sư bước đến vái chào Đại sư và hỏi rằng “Bạch Đại
🔗sư, như vị Thiền sư nọ hỏi về hạnh trì giới vô sanh mà sao sư giải đáp dài dòng chẳng thực tế xác đáng chỗ nào cả vậy xin sư minh thị cho “
🔗Đại sư đáp: “Luật sư nói tôi đáp dài dòng, vậy thì Luật sư giải thực tế xác đáng nghe thử? ”
🔗Luật sư: Trì giới vô sanh tức là giữ các điều ngăn cấm của Phật chế ra để dạy tứ chúng thực hành, hầu tiến bước trên đường đạo hạnh, giữ mà coi như mình không giữ, đó là trì giới vô sanh.
🔗Đại sư: Giữ giới là có pháp sanh, mà coi như mình không giữ là có tâm sanh, có tâm sanh có pháp sanh mà gọi là trì giới vô sanh chỗ nào, Luật sư chỉ coi?...
🔗Luật sư: Nếu nói như Đại sư thì vô tâm sanh, vô pháp sanh mới gọi là trì giới vô sanh sao?
🔗Đại sư: Làm Luật sư mà luận như vậy thì chẳng thông hiểu chánh pháp gì cả. Luật sư vốn chưa hiểu lý vô sanh thì càng trì giới lại càng phạm giới thêm hơn mà thôi, cũng như càng ham thức đêm thì lại càng ham ngủ ngày chứ ích chi.Luật sư há chẳng nghe Ngài Lục Tổ nói câu: Lòng bình đẳng không cần giữ giới, làm việc ngay há đợi tu thiền?
🔗Luật sư: Như vậy thì luật của Phật chế ra không cần trì giữ?
🔗Đại sư: Luật của Phật mà không cần thì làm sao đạt được chánh pháp. Cũng ví như chiếc xe thiếu bánh thì không thể mong đưa khách về bến được.
🔗Luật sư: Như vậy là giới luật cần trì giữ, sao hồi nãy Đại sự cho rằng càng giữ giới lại càng phạm giới, cũng như càng ham thức đêm thì càng ham ngủ ngày?
🔗Đại sư: Phải vậy, giới luật là khuôn mẫu, là hàng rào phong hoá ngăn cản tánh xấu ác của người tu hành và đưa người đến cõi bất diệt. Tuy nhiên giới luật cũng tức là bức tường ngăn cản sự thành công của người đi tìm sự bất diệt. Do đó những cái gì thái quá nó sẽ bị bất cập, cũng như tức nước thì vỡ bờ, giới luật của Phật người trì giữ có bốn cách:
🔗1. Là khai
🔗2. Là vá
🔗3. Là trì
🔗4. Là phạm
🔗Lại cũng ví như một cái thành có bốn cửa, người không biết cách trì giữ khi vào thành rồi bế hoàn toàn bốn cửa tất sẽ bị chết ngộp vì thiếu không khí để thở, hay khi bị ngộp quá độ sẽ phá tung hoàn toàn các y cửa thành để chạy ra ngoài và không dám trở vào nữa. Bằng người biết được thì tuỳ duyên hay mở cửa này, hoặc mở cửa khác để đi vào hầu có đủ thoáng khí để thở. Hoặc đồng thời biết ở trong thành là chỗ ngủ cần phải ngủ cho yên giấc điệp và đi ra ngoài là chỗ thức cần phải thức cho khỏi mê lầm, mà chạy theo lục trần chuyển hoá, phải chỗ ngủ đồng khép bốn cửa để ngủ, phải chỗ thức đồng mở bốn cửa để thức, không ham ngủ để rồi ngủ bậy ngoài thành, biết thức biết ngủ, ngủ thức chẳng ngại nội ngoại tuỳ duyên, không chấp để ở mãi trong thành, không bỏ để ở mãi ngoài thành, không thoái hoá bất cập. Không phải có, không phải không, cũng có mà lại cũng không thì đó là hạnh trì giới vô sanh vậy. Lại nữa luật sư thật là người trì giới hữu lậu học nói lý Phật thừa rõ ràng, thảo nào không lầm rằng: tôi giải trì giới vô sanh lúc đầu là dài dòng chẳng thực tế chính xác, nhưng luật sư có biết đâu giãi những lời nói đầu mới là đại khái thực tế chính xác với hạnh trì giới vô sanh. Hơn nữa đối với lý Phật thừa lời đốn ngộ hoặc nói có nói không, hay cũng có cũng không, không tức có, tức không... Đó thảy đều là phương tiện hiển lý bày chơn, chứ chẳng phải chấp có chấp không. Chấp cũng có cũng không. Chấp tức có, có tức không... Vì nếu có chấp vào một pháp nào dầu là hữu vi hay vô vi, tức là còn ràng buộc. Bởi nên kẻ đại sĩ luận đạo ví như gió đi trong hư không đi trong qua rồi chẳng để lại dấu vết gì... Còn người thiểu trí luận đạo ví như nước mưa nhiễu trên mặt đất, mưa qua rồi mà đất ướt vẫn còn hiện nguyên hình.
🔗Luật sư: Như nói pháp mà không phải pháp. Chỉ tạm gọi là pháp là ý như thế nào? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Pháp sở dĩ có là do đối cảnh mà lập chứ tự nó vốn không sanh, cũng như có chúng sanh khổ, Phật mới phương tiện nói ra pháp diệt khổ, chứ chúng sanh không khổ thì pháp diệt khổ cũng chẳng có công dụng vào đâu. Ngược lại nó càng thêm tai hại là khác, ví như người kia đang vui mà đem pháp diệt khổ lại kêu họ tu tập thì người kia xem pháp diệt khổ có khác nào là con sâu mà mình biểu họ phải đeo trong mình để mất cả sự vui. Hay như thuốc sản giục là để cho các bà mang thai khó sanh uống vào để sanh dễ và mau, thì thuốc rất ích lợi. Bằng mà thuốc sản giục lại cho kẻ đau ruột đau gan uống thì khác nào lại hại cho họ chết luôn. Bệnh thì có trăm ngàn chứng bệnh, thuốc cũng có trăm ngàn thứ thuốc, mỗi thứ thuốc cần dùng cho mỗi chứng bệnh, uống thuốc đúng chứng bệnh thì rất ích lợi, uống thuốc sai chứng bệnh thì rất tai hại. Pháp môn của chư Phật cũng vậy nên câu nói: pháp mà không phải pháp chỉ tạm gọi là pháp là ý nói: pháp này chỉ ứng dụng cho hạng chúng sanh này chứ pháp này chẳng phải ứng dụng cho hạng chúng sanh kia, và tuy có pháp ứng dụng cho mỗi trình độ hạng bậc của chúng sanh, chứ tự pháp vốn không sanh, chỉ có đối cảnh mà lập thành nếu cảnh qua rồi thì pháp cũng không thành. Nên nói: “ chỉ tạm là pháp vậy thôi”.
🔗Luật sư: Như trong kinh Phạm Võng, Phật nói: Ngài nửa tháng một kỳ tụng giới chánh pháp của tất cả chư Phật, và Ngài kêu gọi toàn thể Phật tử đồng tụng giới.
🔗Bạch Đại sư, như bậc Phật mà còn cần phải tụng giới nữa sao? Xin sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Như nay nói Phật đó mà không phải Phật, mới gọi rằng: Phật và nói tụng giới đó cũng không phải là tụng giới mới gọi là Phật tụng giới.
🔗Luật sư: Phật mà không phải Phật mới gọi rằng Phật, tụng giới mà không phải tụng giới mới gọi là Phật tụng giới là nghĩa thế nào? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Tánh giới xưa nay vốn không sanh, đồng một bổn thể trống vắng với chư Phật ba đời, nên Phật tụng giới mà không phải Phật tụng giới, và chúng sanh xưa nay vẫn không có tự tánh đồng một lý với tánh giới, nhưng do đối cảnh chư Phật ba đời mà lập do đó nên không phải Phật tụng giới vậy.
🔗Luật sư: Đại sư trả lời cái gì mà tôi chẳng hiểu?
🔗Đại sư: Rồng lộn trong hư không biến dạng. Cá lặn ra biển thẳm thật khó tìm, Chứ lý pháp vi diệu thậm thâm ngàn muôn năm khó gặp, mà nay tôi đã diễn đạt ra trước mặt, tại luật sư không biết hiểu đó thôi.
🔗Luật sư: Như vậy Phật thật có tụng giới không? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Không, Phật chẳng bao giờ tụng giới. Sở dĩ vì sao? Vì Phật chẳng có giới gì để tụng cả.
🔗Luật sư: Sao trong kinh Phật lại nói chính Ngài còn tụng giới?
🔗Đại sư: Phải. Chính Phật Ngài còn tụng giới. Sở dĩ vì sao? Vì Phật Ngài đã đủ đầy các giới.
🔗Luật sư: Thật tôi chẳng hiểu ý của Đại sư như thế nào cả?
🔗Đại sư: Ý của tôi là như thế nào đó! Hay là Luật sư nghe đây.
🔗Không có rồi chung hương mộng Có không nào phải không lòng Suy ra hai chữ đại đồng Có không chẳng nghĩa một lòng cũng không.
🔗Luật sư: Như trong kinh Tổ có câu: Tầm ngưu tu phỏng tích Học đạo quý vô tâm Tích tại ngưu hườn tại Vô tâm đạo dị tầm
🔗Luật sư: Nghĩa lý thế nào? Xin Đại sư chỉ dạy. Đại sư: Nghĩa là:
🔗Tầm trâu thì nên tầm dấu chân.
🔗Cũng như học đạo thì phải rốt ráo vô tâm.
🔗Thấy dấu hiện tại thì chắc trâu phải kiếm về được tại tiền.
🔗Cũng như vô tâm thì đạo sẽ dễ tầm.
🔗Luật sư: Vô tâm thì có cái gì tầm đạo mà gọi là dễ tầm? Xin Đại Sư chỉ dạy
🔗Đại sư: Bởi người tầm đạo xưa nay vì dụng chỗ có tâm đó, mới lạc vào tà kiến thành thiên ma ngoại đạo, chứ như người dụng chỗ vô tâm mà tầm đạo, thì đạo hiện tiền chứ nào phải kiếm đâu xa. Vả lại thể đạo trống vắng ba đời chư Phật đều dụng chỗ vô tâm mà thành vô thượng chánh biến tri giác. Như tôi nay cũng do chỗ vô tâm mà khai đặng đạo mầu hiểu biết tận tường cái lý chơn thường bất diệt. Thế chẳng phải vô tâm là mầm sanh đạo hay sao? Hơn nữa vô tâm là vô tâm vọng sanh, chứ nào phải vô tri giác (tịch diệt) mà gọi là không có cái chi để tầm, và Luật sư phải biết theo vô tâm mà ý Luật sư nghĩ tức là pháp đoạn diệt, mà pháp đoạn diệt thì chư Tổ và Phật chẳng hề dạy chúng sanh như vậy.
🔗Luật sư: Dụng chỗ vô tâm là vô tâm vọng sanh mà tầm đạo như vậy có phải là dụng chỗ tâm vô sanh mà tầm đạo chăng?
🔗Đại sư: Phải vậy, phải vậy. Bởi cớ sao? Đạo cả vốn không hình, không dạng, không sắc, không pháp, không tướng không tâm, mật mật nhiên nhiên, biến biến hoá hoá, huyền diệu không cùng không tận, nên tạm gọi là đạo chơn thường. Do đó nếu dụng chỗ có tâm tầm đạo, thì cái có tâm đó tức là tâm vọng khởi sanh diệt, tâm sanh diệt tầm đạo chơn thường thì có khác nào lấy thùng không đáy mà múc nước!...Thế nên đạo chơn thường chỉ dụng tâm vô sanh truy tầm thì mới có thể đạt được. Lại cũng ví như thùng có đáy thì chắc múc nước được. Kế, có một vị Thượng tọa bước đến đảnh lễ và hỏi Đại sư rằng: “Đại sư nay thuyết lý Phật thừa, vậy xin cho biết Phật thừa có hình bóng không?”
🔗Đại sư: “Phật thừa có hình bóng”
🔗Thượng tọa: Phật thừa là hạnh của chư Phật, hạnh của chư Phật là bình đẳng chơn không mà sao gọi là có hình bóng được?
🔗Đại sư: Vậy theo Thượng tọa Phật thừa không có hình bóng chăng?
🔗Thượng tọa: Phải. Phật thừa chẳng bao giờ có hình bóng Đại sư: Quả thật sao?
🔗Thượng tọa: Quả thật vậy.
🔗Đại sư: Quả thật vậy. Tức Thượng tọa chỉ biết có Trời cao mà chẳng hay có đất dày, Phật thừa là một danh từ tạm gọi để chỉ dạy cho hạnh quả của chư Phật, mà hạnh của chư Phật có hai trạng thái riêng biệt đó là: tương đối và tuyệt đối. Tương đối là thuộc hạnh lý tưởng đối với chúng sanh của một đấng toàn giác. Tuyệt đối là thuộc hạnh lý tánh của chư Phật ba đời. Hạnh lý tánh là cái hạnh không hình không dạng, còn hạnh lý tưởng đối với chúng sanh là phải có thật hình thật dạng. Phật dạy không hề lấy không mà bỏ có hay lấy có mà bỏ không, và Phật cũng chẳng bao giờ dạy dụng lý tánh mà bỏ lý tướng hay dụng lý tướng mà bỏ lý tánh. Nay Thượng tọa nói Phật thừa chẳng bao giờ có hình bóng tức là Thượng tọa chấp sai lời Phật dạy rồi.
🔗Thượng tọa: Đại sư nói tôi chấp sai lời Phật dạy vì cho rằng: Phật thừa chẳng bao giớ có hình bóng, còn Đại sư nói Phật thừa có hình bóng là đúng hay sai?
🔗Đại sư: Phải vậy. Vì tôi đáp theo lý tướng của Phật thừa kia mà.
🔗Thượng tọa: Như thế thì tôi cũng đúng, vì tôi đáp theo lý tánh của Phật thừa.
🔗Đại sư: Thượng tọa xét lại coi. Thượng tọa đã nói Phật thừa chẳng bao giờ có hình bóng hay là Thượng tọa đã nói: lý tánh chẳng bao giờ có hình bóng?
🔗Thượng tọa: Tôi đã nói Phật thừa chẳng bao giờ có hình bóng.
🔗Đại sứ: Thì còn chối cãi gì nữa, như tôi đã nói Phật thừa là danh từ tạm gọi bao gồm cả hai trạng thái riêng biệt đó là tuyệt đối và tương đối. Tương đối là lý tưởng, tuyệt đối là lý tánh. Phải chi Thượng tọa nói: “ Lý tánh chẳng bao giờ có hình bóng” thì tôi không gọi Thượng tọa chấp sai. Đằng này Thượng tọa nói:” Phật thừa chẳng bao giờ có hình bóng” Tiếng Phật thừa gồm cả hai trạng thái kia mà...chứ phải chi Thượng tọa bỏ hai chữ “bao giờ” ra, thì “Phật thừa chẳng có hình bóng”, thì tôi nào gọi Thượng tọa là người chấp sai lời Phật dạy. Nơi đây chỉ có hai chữ “bao giờ” mà Thượng tọa phạm phải một lỗi lầm rất to lớn vậy.
🔗Nghe đến đây Thượng tọa lắc đầu chắp tay xá dài và nói: ”Thật tôi không dám sánh với Đại sư. Mong
🔗Đại sư hỉ xả cho.”
🔗Đại sư: Cái gì Thượng tọa không dám sánh với tôi?
🔗Thượng tọa: Cái trí hiểu biết không dám sánh.
🔗Đại sư: Thượng tọa coi cái trí hiểu biết nó có hình bóng như thế nào mà có hơn kém vậy.
🔗Thượng tọa suy nghĩ giây lát mới nói rằng: “Thật tôi chẳng thấy nó có hình bóng gì cả.”
🔗Đại sư: “Nó không có hình bóng thì sao gọi có hơn kém được?”.
🔗Thượng tọa bít lối lúng túng không biết phải nói sao cho đúng.
🔗Thấy vậy, Đại sư liền đáp rằng: ”Thể của trí tuệ nó vốn không hình không bóng vẫn bình đẳng y nhau nên gọi là người này đối với kẻ kia chẳng hề hơn kém. Tuy nhiên vì kẻ tiến hoá trước, người tiến hóa sau, kẻ ngộ mau, người ngộ chậm, mà thành ra sự hiểu biết có hơn kém vậy.”
🔗Thượng tọa: “Như thuở Phật Thích Ca ra đời nơi xứ Ấn Độ, Ngài lại bác một số lý thuyết tin tưởng thần quyền thái quá và mờ ảo, là cơ sao? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đại sư: Nói chi đâu ở xứ Ấn Độ thuở xa xưa, hiện tại đây nơi xứ Việt Nam mình cũng có một số người thiếu hiểu quá đặt nặng vấn đề Phật Thánh mà thành ra mê tín luồng tuông. Chẳng hạn như họ bảo rằng: Sự sanh hoá cây cối đất đai thảo mộc ngũ cốc cho chúng sanh hưởng là do Trời làm, có mưa nắng gió sương cho trăm họ đủ sức sống cũng do Trời đất Phật Thánh làm, và hễ họ thấy cây cối hư hao cũng cho Trời đất làm, nhà cửa đổ hay gió máy bất hoà sanh ra hạn hán, lụt lội mùa màng thất bát cũng gọi Trời đất Phật Thánh Thần làm. Đến đỗi cất nhà cũng nói trời đất biểu, đi tiêu đi đại cũng nói Phật Thánh sai...Mỗi cái gì họ cũng nói Trời đất Phật Thánh cả, rồi họ cúng vái li bì, chuyện đáng củng vái đã đành, chuyện không đáng cúng vái không có cớ sự gì, họ cũng cúng vái cầu khẩn một cách ngông cuồng chẳng cần biết phải quấy trắng đen thật giả. Họ có biết đâu rằng ba cõi thiên nhơn địa đều phải chung chịu dưới luật tiến hóa sanh diệt của vũ trụ. Bao giờ cũng y như thế và tự nhiên bình đẳng như thế... Chớ chẳng có một đấng nào làm ra cả và nếu trường hợp có một đấng nào làm ra cái gì thì đấng đó cũng là một chúng sanh tiến hóa cao trên thôi mà dầu cho cao trên đến đâu cũng phải tùy thuận theo luật thường còn của vũ trụ và cũng phải chung chịu số phận trong luật vũ trụ từ vô thủy chớ không phải từ đâu mà vào. Còn những gì mà đấng cao trên ấy làm ra thì cái đó cũng chỉ là những cái bất thường trong định luật thường còn biến hóa của vũ trụ chớ chẳng phải từ đầu mà đến. Cái lý thuyết của một số người tin tưởng thần quyền thái quá tại đây có khác nào nơi xứ Ấn Độ thuở xa xưa. Bởi thế nếu Đức Thích Ca, Ngài có bác là bác lý thuyết mê tín tuồng luông, một đường lối tà kiến vọng hoặc không đúng sự thật của chơn lý và ví dầu Ngài không bác chăng nữa mà những lời chánh pháp, những sự thật được Ngài thốt ra cũng như bác rồi. Thảo nào, câu tục ngữ của cổ nhân lại sai là ” Lời thẳng trái tai”, “Thuốc hay đắng miệng” hoặc câu ”Thẳng mực tàu đau lòng gỗ”.
🔗Thượng tọa: Bạch Đại sư, người tu hành theo chánh pháp mà tụng kinh gõ mõ, có nên không? Xin sự chỉ dạy.
🔗Đại sư: Tụng kinh cốt để giữ tâm hồn thanh tịnh. Cũng như để tự mình lắng nghe đồng thời chư vị Trời, Thần, Người cùng nghe lời Phật dạy mà tu sửa thân tâm. Đó Là một điều tốt. Tuy nhiên, sự gõ mỏ tụng kinh mà kéo dài ê a ề hà, chữ chẳng ra chữ, câu không ra câu, chẳng có ai nghe hiểu được gì cả và chính mình cũng bị âm thỉnh lôi cuốn mà quên đi lời Phật dạy thì đó là một điều chẳng nên làm vì sai chánh pháp. Hơn nữa, Phật dạy trì tụng là đọc xem cho biết mà phụng hành theo mật ý của lời dạy thì sẽ được phước đức vô lượng chớ đừng hiểu lầm Phật biểu đọc ra tiếng om sòm mà mất đi cái vẻ trang nghiêm thanh tịnh nơi cõi Già lam Phật độ và quá âm thinh sắc tướng mà biến thành tà ma ngoại đạo lạc mất đàng chơn đây?
🔗Thượng tọa: Bạch Đại sư, như Ngài có thường tụng kinh không? Đại sư: Có chứ! Như tôi nay rất thường tụng kinh.
🔗Thượng tọa: Như Đại sư thường tụng kinh như thế nào, xin chỉ dạy
🔗Đại sư: Ý năng sanh đó là kinh. Trí thường quán đó là tụng. Tôi nay thường tụng như thế đó.
🔗Thượng tọa: Các vị Tổ thường nói câu sựng sựng để làm chỗ chứng đạo của mình, như nay Đại sư có được sựng sựng không?
🔗Đại sư: Như tôi nay biết sựng sựng vậy.
🔗Thượng tọa: Đại sư biết sựng để có sựng hay là biết sựng để không sựng?
🔗Đại sư: Có không đều sựng vậy
🔗Thượng tọa: Có không đều sựng, như thế có phải là lý tự nhiên không?
🔗Đại sư: Sự lý đều tự nhiên, có không đều như nhiên. Tướng tánh thảy thảy y nhiên vậy.
🔗Thượng tọa: Bạch Đại sư: Như trong kinh thường nói Minh Tâm kiến tánh thì thành Phật. Vậy xin sư giải thích chỗ minh tâm kiến tánh và cho biết minh tâm kiến tánh có phải là toàn giác chưa?
🔗Đại sư: Vô tâm mà nhận thấy thể tánh thường trống vắng năng tịnh, thì đó là minh tâm kiến tánh thành Phật. Tuy nhiên được minh tâm kiến tánh chưa hẳn là toàn giác, mà là còn phải trải qua giai đoạn thực nghiệm mới đủ đầy hiểu biết vậy.
🔗Thượng tọa: Thật lòng tôi rất mê muội, nay nghe đặng lời vàng ngọc của Đại sư chỉ giáo, chẳng khác nào cờ bị vây được mở, tướng bị bao mà có người cứu, lại như đêm tăm tối mà có ánh trăng vàng chói rọi, thật quý báu chẳng có chi bằng.
🔗Nam Mô Vô Thượng Pháp Giáo Hoàng Khai Đại Đạo Bồ Tát Ma Ha Tát
🔗Hết phẩm thứ 37
🔗Nam Mô Thiền Sư An Lạc Hạnh
Phẩm trước Liên Hoa Pháp Giáo phẩm thứ 36