🔗Liên Hoa Pháp Giới
🔗PHẨM THỨ 18
🔗BỐN - GIÁC
🔗BỔN là gốc muôn loài chẳng khác sai
GIÁC là hiểu sâu cạn biến thành hai
CHỈ do người khai sáng mê hoặc ngộ
MỘT lý tự nhiên kiến LIÊN ĐÀI.
🔗Một bữa nọ tại Ngôi đạo tràng tịnh xá, có vị Thiền sư đến viếng nhà sư và nói: “Bạch Đại sư, tôi là người ở phương xa được nghe tiếng Đại sư là người liễu thông tam giáo, thinh văn duyên giác Bồ Tát và ba đạo Phật Thánh Tiên, nên tìm đến đây để xin Đại sư từ bi mở lòng hà hải giải mở dùm chỗ nghi vấn cho kẻ nghèo hèn này được học hỏi thêm về đạo pháp”.
🔗Nhà sư nói: “Bần đạo cũng không thông gì cho lắm nhưng tuỳ khả năng nếu Thiền sư mong muốn, thời bần đạo sẽ phương tiện mà nói đôi điều để làm sáng tỏ Phật pháp vậy”.
🔗Thiền sư hỏi: “Bạch Đại sư, như trong Kinh thường nói, hằng hà sa số Phật là nghĩa như thế nào?”
🔗Nhà sư đáp: “Hằng hà sa số Phật là ý Đức Thế Tôn muốn nói rằng: hằng hà sa số chúng sanh, mà mỗi chúng sanh đều có Phật tánh và chúng sanh đã đắc được Phật tánh có hằng hà sa số người vậy.”
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như trong Kinh nói, người phát tâm dõng mãnh tu hạnh Bồ Đề, thời sẽ có hằng hà sa số Phật phóng quang tiếp độ là nghĩa như thế
🔗nào?
🔗Đáp: Trong đó có hai lẽ:
🔗 ● Một là tha lực của hằng hà sa số Phật bên ngoài gia hộ.
🔗 ● Hai là hằng hà sa số Phật nội tâm gia hộ.
🔗Bởi cớ sao? Vì một khi người mà phát tâm dõng mãnh tu hạnh Bồ Đề, thời cảm đến những người đắc đạo khắp cả mười phương, do đó các ngài mới dùng trí huệ hào quang, phóng chiếu điển lành đến nơi tiếp độ, và đồng thời nơi lương tâm người dõng mãnh ấy có vô số chư Phật ứng hiện phóng quang tỏa khắp mười phương thế giới của tự tánh để ủng hộ cho kẻ ấy thêm phần nghị lực đặng sớm vẹn tròn chí nguyện.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, sao trong tâm của mỗi người lại có vô số vị Phật như vậy?
🔗Đáp: Nếu nói Phật bổn thế thời chỉ có một, đó là chơn tâm thật tướng, bằng nói Phật hóa thân hay hóa thân của Phật thời lại có vô số. Thí dụ như: Tâm từ bi là Phật Di Đà. Tâm thanh tịnh là Phật Thích Ca. Tâm an vui tự nhiên là Phật Di Lặc. Tâm tự nhiên sáng suốt là Phật Nhiên Đăng. Tâm năng cứu khổ là Phật Quán Âm. Tâm năng hỷ xả là Phật Thế Chí....
🔗Tóm lại: Trong bổn thể chơn tâm của mỗi người có vô lượng, vô số vô biên cái tâm khác biệt, vì có vô số cái tâm khác biệt nên có vô số vị Phật khác nhau.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như nói trong bổn thể của mỗi người có vô số cái tâm khác biệt, như vậy thời mỗi chúng sanh đắc đạo lại khác nhau hết sao?
🔗Đáp: Đừng lầm. Vì phương tiện để nói cho người mê dễ hiểu, chớ nếu tất cả chúng sanh đều đắc quả Phật rồi, thời tự nơi tâm của những kẻ ấy có vô số hoá thân Phật y nhau không hề sai khác. Bởi bổn thể chơn tâm của chúng sanh chỉ có một mà người đắc được cái một đó, thời gọi là Đạo quả và tuy tạm gọi là đạo quả chớ chẳng có cái gì để luận bàn cả. Đây xin thí dụ: trong một cái hồ nước nọ, sanh ra vô số các loại chúng sanh, nào là cua, cá, tôm, tép, cung quăng..... và mỗi chúng sanh trong cái hồ đó đều ngộ nhận được rằng: nguyên nhân bổn thể của mình chính là nước. Thời tuy sự ngộ nhận được cái bổn thể ấy có kẻ trước người sau, chớ không hề sai khác về tánh nước chút nào!
🔗Thiền sư hỏi: Bạch Đại sư, như trong Kinh, Đức Phật nói Bổn thể chơn tâm rất mầu nhiệm vượt ngoài vòng ý thức, luận bàn suy nghĩ, và nếu càng nói lại càng sai.
🔗Còn Đức Lão Tử nói bổn thể của con người không có cái chỉ để nói được cả, mà chỉ cưỡng danh gọi là Đạo là vô cực. Như vậy sự nhận định của hai giáo chủ ấy đã giống nhau rồi, mà nếu giống nhau thời tại sao lại gọi đạo Phật cao hơn đạo Lão là nghĩa thế nào. Xin Đại sư giải mở giùm chỗ nghi vấn ấy?
🔗Nhà sự đáp: Lời nhận định của hai vị giáo chủ quả đã hợp nhau một chỗ. Tuy nhiên cái trình độ tu chứng thời còn sai biệt.
🔗Hỏi: Xin Đại sư nói rõ chỗ tu chứng còn sai biệt của hai vị giáo chủ?
🔗Đáp: Bởi Đức Lão Tử hiểu biết được cái bổn thể mà chỉ ngộ nhập được cái trí sáng của bổn thể, chớ không ngộ nhập được cái tạng tánh của bổn thể. Còn Đức Phật Thích Ca cũng hiểu được cái bổn thể mà ngộ nhập được cái tạng tánh của bổn thể. Do đó nên sự hành đạo giáo hoá của Đức Thích Ca thời thâm diệu hơn. Nên người chủ trương về tánh giác chơn như thời gọi là Phật. Còn người chủ trương về trí giác trường sanh thời gọi là Trời. Đức Lão chủ trương về trí giác ngang hành với chư Bồ tát mà chỗ ngộ nhập lại cũng khác chư Bồ tát hành cái hạnh Phật nữa. Vì chư Bồ tát thời cũng hiểu biết được cái bổn thể mà ngộ nhập, thời ngộ nhập cái pháp thân bình đẳng.
🔗Thí dụ như: Hư không là bổn thể cái tạng tánh của hư, không là tánh, mặt nhựt là trí, tánh sáng của mặt nhựt là pháp thân bình đẳng. Đức Thích Ca, Lão Tử và chư Bồ tát đều hiểu cái hư không như nhau. Còn ngộ nhập thời Đức Thích Ca ngộ nhập vào cái tạng tánh của hư không. Đức Lão Tử ngộ nhập vào cái mặt nhựt phát sáng của hư không, Chư Bồ Tát ngộ nhập vào cái tự tánh phát sáng của mặt nhựt.Thế nên cái giác ngộ của Đức Thích Ca thâm diệu rốt ráo hoàn toàn vô phương nghĩ nghị. Còn Đức Lão Tử và chư Bồ tát phải thực hành mới đền chỗ thâm diệu của Phật. Còn Đức Lão Tử muốn đến quả vị Phật, thời phải hành đến cái hạnh của chư Bồ Tát, rồi mới tiến thẳng đến quả toàn giác của Như Lại được.
🔗Vì Đức Lão Tử chỉ ngộ được mặt nhựt phát sáng mà cái mặt nhựt thời còn luân chuyển xuống lên. Nhưng tuy là xuống lên chớ không hư hoại nên gọi là trường sanh bất lão, và chư Bồ Tát thời ngộ được cái tự tánh phát sáng của mặt nhựt mà tự tánh thời không hề thay đổi nên gọi là vô sanh. Vậy thì chư Bồ Tát không ngộ đặng cái tạng tánh của hư không, mà chỉ ngộ đặng cái tánh sáng của mặt nhựt nên có pháp vô sanh. Đức Lão Tử không ngộ đặng cái tánh sáng của mặt nhựt, mà chỉ ngộ đặng cái thể sáng của mặt nhựt, nên chưa có phép vô sanh. Thế nên Đức Lão Tử muốn đắc quả Phật toàn giác thời phải đi sâu vào tự tánh của mặt nhựt mới có vô sanh, và hành pháp vô sanh mới chứng quả Bồ Đề đặng. Tóm lại: Sự giác ngộ bổn thể của Đức Thích Ca, Lão Tử cùng chư Bồ Tát thời y nhau, còn cái tu chứng thời có hơn kém do trình độ chẳng đồng.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như Tam giáo đạo quy nguyên thời Phật Tiên Thánh chỉ có một chớ đâu có đạo nào hơn đạo nào kém mà sư nói đạo Phật cao hơn Tiên, Tiên cao hơn Thánh là nghĩa làm sao?
🔗Nhà sư đáp: Tam giáo đạo quy nguyên, thời Phật Tiên Thánh chỉ có một. Một đây là một cái bổn thể chơn tâm phát sinh ra vạn pháp, còn hơn kém đây là hơn kém cái trình độ tu chứng. Cũng như con đường xa lộ từ Biên Hoà đến Sài Gòn có phân làm ba chặng. Chặng đầu là Biên Hoà, chặng giữa là Thủ Đức và chặng cuối là Sài Gòn. Nếu nói con đường xa lộ Biên Hoà, Sài Gòn thời chỉ có một, bằng phân tách trình độ của người lữ hành đang bước trên con đường dài thời lại sai khác, bởi do kẻ đi trước, người đi sau, kẻ đi mau, người đi chậm.
🔗Hay cũng thí dụ như: Có ba người làm bánh, bột thời chỉ có một thứ, mà người thứ nhất giỏi khéo hơn hai người kia nên nắn được hình con Long, còn người thứ hai giỏi khéo hơn người thứ ba nên nắn được hình con Lân, và người thứ ba chỉ nắn được hình con Quy. Sự nắn hình ba con vật, thời ba người bằng nhau. Tuy nhiên để nắn hình con Long thời hai người sau không thể nắn được. Ngược lại để nắn hình con Lân và quy thời người thứ nhất đều làm được cả. Vậy phải biết rằng bột thời chỉ có một vì trình độ của ba người có khác, nên sự nắn hình cũng do đó mà sai biệt. Đừng lầm tưởng rằng, khi ba con vật đã thành hình và có mỗi tác động riêng biệt, mà đem nhồi lại thành một cục bột như thuở ban sơ đâu, và nếu đem nhồi lại thành một cục bột như thuở ban sơ mà gọi là quy nguyên, thời còn chi là đạo pháp. Mà nếu đạo pháp không còn, thời chúng sanh đã bặt lối đi, mà nếu lối đi đã bặt, thời cõi đời này sẽ ra sao???
🔗Thế nên phải hiểu rằng: Tam giáo đạo quy nguyên là Phật Tiên Thánh quy về có một cội là chánh pháp bình đẳng chơn như thật tế của Tam thế Phật tùy duyên khai hoá, còn khả năng thời theo thứ lớp mà hành vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, về sự tu chứng của Đức Khổng Tử và chư A La Hán bên hạnh Phật có giống nhau không?
🔗Đáp: Về cái giác của Đức Khổng Tử và Chư A La Hán thời ngang nhau, tuy nhiên chỗ ngộ nhập thời phải sai khác.
🔗Hỏi: Xin Đại sư giải mở giùm chỗ sai khác đó?
🔗Đáp: Giác là hiểu biết về cái bổn thể vốn năng sanh vạn pháp, thời Đức Khổng và Chư A La Hán đồng nhau, nhưng sai khác là sai khác chỗ Đức Khổng Tử chỉ ngộ nhập được cái thể tướng năng sanh của ý tưởng. Ngược lại Chư A La Hán thời ngộ nhập được cái thể tánh năng sanh của ý tưởng. Thể tánh của ý vốn là vô sanh. Thể tướng của ý lại là sanh diệt. Do đó Chư A La Hán tu về hạnh Phật thời vô sanh dứt luân hồi. Còn Đức Khổng Tử vì chấp theo cái thể tướng năng sanh của ý, mà ý thường hay ẩn hiện nên bị luân hồi.
🔗Tóm lại: Đức Khổng và Chư A La Hán được có cái giác ngang hàng, còn nói sự tu chứng ngộ nhập thời A La Hán thâm diệu hơn.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, chư A La Hán và Đức Lão Tử và sự tu chứng có khác nhau không?
🔗Đáp: Lẽ dĩ nhiên phải sai khác vậy.
🔗Hỏi: Xin Đại sư từ bị giải mở giùm chỗ sai khác ấy?
🔗Đáp: Đức Lão Tử giác là hiểu biết đến cái bổn thể, còn ngộ nhập thời chỉ đến cái thể tướng của trí. Chư La Hán giác là hiểu biết đến cái bổn thể mà ngộ nhập, thời chỉ đến cái thể tánh của ý. Nên nếu đem so sánh về cái giác, thời Chư La Hán bằng Đức Lão Tử, còn nói về trí ý thời Chư La Hán soi cạn hơn Đức Lão Tử một bậc. Và ngộ nhập tu chứng thời Đức Lão Tử được cái thể tánh trường sanh của trí. Chư A La Hán được cái thể tánh vô sanh của ý. Nên đem so sánh về sự ngộ nhập tu chứng thời Chư A La Hán thâm diệu hơn Đức Lão Tử. Thế thì Chư A La Hán soi chiếu thấp hơn Đức Lão Tử mà ngộ nhập được pháp vô sanh ra ngoài bánh xe tạo hoá. Còn Đức Lão Tử tuy soi chiếu cao hơn mà còn ở trong vòng bánh xe của tạo hoá bởi chưa có pháp vô sanh.
🔗Tóm lại: Đức Khổng và Đức Lão chỉ ngộ nhập tu chứng được cái thể tướng của trí ý nên không có pháp vô sanh. Còn Chư Bồ Tát ngộ nhập được tự tánh của trí và A La Hán ngộ nhập được thể tánh của ý nên có pháp vô sanh.
🔗Hỏi: Xin Đại sư chứng minh?
🔗Đáp: Thí dụ như có năm người lữ hành đi trên con đường dài, đoạn thứ nhất thời chỉ có một người đi đã đến cuối đường. Đoạn thứ hai, hai người đi ngang hàng đã được nửa đoạn đường. Đoạn thứ ba hai người đi ngang hàng, gần mức sơ khởi của con đường. Người thứ nhất vì đi hết con đường, nên hiểu biết khắp cả con đường.
🔗Từ cái thể mênh mông rộng lớn sạch sẽ lẫn cái tánh chất của con đường làm bằng vật gì bền vững không ra sao....
🔗Hai người thứ hai đi ngang hàng chỉ biết phân nửa đoạn đường và trong hai người đó đồng hiểu biết cái thể mênh mang rộng lớn sạch sẽ của con đường. Tuy nhiên ngộ nhận được cái tánh chất của con đường làm bằng vật gì bền vững không ra sao, thời chỉ có một người biết. Và hai người đi ngang hàng ở đoạn thứ ba chỉ biết được có một phần ba đoạn đường, và cũng trong hai người đó đồng hiểu biết cái mênh mông rộng lớn sạch sẽ của con đường. Tuy nhiên ngộ nhận được cái tánh chất của con đường làm bằng vật gì ra sao chỉ có một người biết.
🔗Một người đi cuối con đường dụ cho Đức Phật Thích Ca. Hai người đang đi phân nửa đoạn đường dụ cho Bồ Tát và Đức Lão Tử và người mà nhận được cái thể chất của con đường thời đó là Bồ Tát. Còn hai người đi một phần ba đoạn đường dụ cho A La Hán và Đức Khổng Tử, và người mà nhận được cái tánh chất của con đường, thời đó là A La Hán. Tóm lại: Đức Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử, cùng Chư Bồ Tát, A La Hán, đều hiểu biết được cái bổn thể, nhưng do sự tu chứng ngộ nhập có cạn sâu, nên sự thấy thời có kẻ tỏ sáng, người lại lu mờ vì trình độ chẳng đồng vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, chư Bồ tát ngộ nhập đặng tự tánh vô sanh còn chư A La Hán ngộ nhập đặng thể tánh vô sanh, vậy hai cái khác nhau chỗ nào? Xin Đại sư chỉ dạy.
🔗Đáp: Tánh vốn là bình đẳng, thanh tịnh tự tại vô sanh mà chư Bồ tát ngộ đặng tự tánh là thấy biết đến nội dung của tánh. Còn chư A La Hán ngộ đặng thể tánh là chỉ thấy biết được cái hình dung bề ngoài của tánh. Nghĩa là: Chư La Hán chỉ thấy cái giả tướng của diệu quả Bồ Đề. Còn Chư Bồ Tát thấy đến cái thật tướng của Diệu quả Bồ Đề vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, xin Đại sư thí dụ so sánh chỗ tu chứng ngộ nhập của Đức Như Lai, cùng Chư Bồ Tát, Bích Chi và A La Hán?
🔗Đáp: Thí dụ cái ngôi Tịnh xá này đóng cửa, bên ngoài có hàng rào. Đức Như Lai cùng Bồ Tát, Bích Chi và A La Hán đều vô được bên trong hàng rào hết rồi. Tuy nhiên Đức Như Lai thời mở đặng cánh cửa Tịnh xá và vô an tọa trên tháp vàng xong, còn Bồ Tát cũng mở được cánh cửa Tịnh xá và ngó thấy đặng toà tháp vàng chớ chưa lên an toạ. Còn Bích Chi và A La Hán thời chưa khai được cánh cửa Tịnh xá, cũng như chưa thấy toà tháp vàng bên trong Tịnh xá. Tuy nhiên chư Bích Chi thời gần Tịnh xá hơn La Hán một chút.
🔗Tóm lại: Chư Bích Chi và A La Hán chỉ ngộ nhập được cái hình dung bề ngoài Tịnh xá, chớ chưa ngộ nhập được nội dung bên trong của Tịnh xá nên có cái chơn thật rồi. Thế thì toà tháp vàng dụ cho diệu quả Bồ Đề, bên trong Tịnh xá là cái xứ của diệu quả Bồ Đề, còn bên ngoài Tịnh xá mà bên trong cửa hàng rào thời đó là cảnh Tây phương cực lạc vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư: Ba mối đạo, đạo Phật, đạo Tiên, đạo Thánh, đạo nào viên dung thật tế hơn?
🔗Đáp: Đạo Phật là một giáo pháp viên dung thật tế hơn hết, vì sao? Bởi nếu tu theo cái sự của đạo Phật đó là cái hạnh Thánh nhân của Đức Khổng đã dạy. (Tức là giữ luật và sửa tâm ý cho trong sáng hiền hoà) bằng tu theo cái tướng của đạo Phật đó là cái hạnh của Thánh Tiên của đức Lão đã dạy, (tức là luyện tâm trí cho được tự nhiên sáng suốt thanh thiện) bằng tu theo cái tánh của đạo Phật đó là cái hạnh Thánh Tăng của đức Thích Ca đã dạy, (tức là an trụ trí ý trong cái Tạng Tánh bình đẳng thanh tịnh của bổ tâm diệu giác). Thế thì đạo Phật là một giáo pháp dung hòa cả sự lý có không, rộng chứa đầy đủ thứ lớp căn cơ cao thấp, cứu rỗi được tất cả các hạng bực chúng sanh đồng siêu tịnh độ Tây phương.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, người tu hành có cần học văn tự chữ nghĩa cho cao không?
🔗Đáp: Người tu hành chỉ cần biết đọc, biết viết để xem kinh học kệ, chớ chẳng cần gì phải cho giỏi chữ.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư: nếu không cần giỏi chữ, thời làm sao giải nghĩa những danh từ của kinh pháp mà độ chúng sanh tiến tu cho mau thành chánh quả?
🔗Đáp: Đạo quả là đạo quả, còn giải nghĩa là giải nghĩa, chớ giải nghĩa có dính dấp gì tới đạo quả đâu! Hơn nữa nếu những danh từ trong kinh pháp của Phật mà đem cái tài học giỏi ra để giải nghĩa thời chỉ có những kẻ mơ mộng mới làm như vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, nếu nói như thế thời sự giải nghĩa những danh từ trong kinh pháp của Phật là không nhằm sao?
🔗Đáp: Phải vậy. Vì Kinh pháp của Tam thế Phật chỉ dụng ý, lý, trí, tánh để độ người mê lầm giác ngộ chớ không dụng nghĩa, mà nếu đem ra giải nghĩa thời càng xa chánh pháp, và nếu còn bảo thủ rằng đúng hoặc sai, thời đó là người phỉ báng phật.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, xin Đại sư giảng về chữ trực giác và đạo quả?
🔗Đáp: Trực là trực chỉ đến bổn tâm tự nhiên. Giác là hiểu biết tự tánh vốn thanh tịnh.
🔗Đạo là đường lối thẳng ngay chơn như thực tế. Quả là thành tựu của sự tìm hiểu về đàng lối thẳng ngay chơn như thật tế.
🔗Vậy muốn đạt được đạo quả, cần phải dụng trí trực giác, mà muốn trực giác tức phải có ý thức nhận định rõ rệt, mà muốn nhận định rõ rệt, tức phải có trí huệ sáng suốt, muốn có trí huệ sáng suốt, thời phải gắng công học pháp để tu hành tham thiền nhập định, có tham thiền nhập định, thời sự hiểu biết về đạo pháp mới tránh khỏi sai lầm, không sai lầm mới mong đắc quả Phật vậy.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, khi con người thức có đủ giác quan để thấy nghe, hiểu biết, mà khi ngủ không có chiêm bao, cũng không hay biết gì tất cả, như vậy thời giác quan đi đâu? Xin sư giải mở giùm chỗ hoài nghi ấy?
🔗Đáp: Thời nó về chỗ đó chớ đi đâu!
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, nếu nói như vậy, thời cái thấy nghe hiểu biết tức là giác quan từ chỗ không biết là sanh ra biết, và từ chỗ biết lại trở về chỗ không biết, có phải như vậy chăng, bạch sư?
🔗Đáp: Phải thế. Bởi bổn thể của chúng sanh vốn là chơn không, mà chơn không lại là không hình, không dạng, không tướng, không tánh, không nghe, không biết, không thấy, không hiểu gì hết (cũng gọi là vô dư tịch diệt Niết Bàn của Duyên giáo) nên những cái giác quan từ chơn không sanh ra có, và khi hườn diệt thời lại ẩn vào chơn không, nên làm sao có cái thấy nghe hiểu biết được.
🔗Tuy nhiên bổn thể chơn không, không có thấy nghe hiểu biết, chớ cái tạng tánh của chơn không có đủ vạn pháp, nên cái thấy nghe hiểu biết cũng gọi là tạm thời có hoại diệt, chớ tự tánh của nó không bao giờ hoại diệt (và có thể nói là: giác quan nó ẩn hiện trong cái tạng tánh của bổn thể chơn không, chớ chẳng có hoại diệt) nên người đã giác ngộ lẽ thật của chơn lý thời đối trước mọi cảnh sanh diệt của sắc pháp hoặc bất sanh diệt của sắc pháp họ cũng vẫn an nhiên tự tại, không hề dính mắc một pháp vi tế nào.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, tại sao Đức Phật dạy phải nương tánh Bát nhã mà tu thời mới đắc đạo Bồ Đề đặng, xin sư chỉ dạy?
🔗Đáp: Vì Tánh là tự tánh bình đẳng thanh tịnh tự tại vô sanh. Còn Bát Nhã là Trí Huệ.
🔗Người có nhận được tự tánh của trí huệ vốn vô sanh mới hiểu được đầu dây mối nhợ của Diệu quả Bồ Đề, và có nắm được đầu dây mối nhợ của Diệu quả Bồ Đề mới phăng lần tới và thành công được. Vả lại người không nhận được tự tánh của trí huệ vốn vô sanh, tức là người chưa có trí huệ đảo bỉ ngạn, mà nếu chưa có trí huệ đáo bỉ ngạn, thời khó mà đắc đạo Bồ Đề đặng. Thế nên muốn có trí huệ đáo bỉ ngạn, thời phải hạ mình đi tìm minh sư hoặc Phật khai mở cho mới mong kết quả, bằng tự cao ngã mạn tu hành khổ hạnh ngàn đời cũng chỉ được quả nhị thừa, cùng thiên ma ngoại đạo mà thôi.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, nếu nói phải nhờ minh sư hoặc Phật khẩu truyền tâm thọ mới mong thành đạo Bồ Đề, sao thuở xưa Đức Phật Thích Ca tự chứng ngộ và tu đắc đó?
🔗Đáp: Đức Phật Thích Ca là một vị Đại Bồ Tát nhiều kiếp tu hành chánh kiến trải qua mới tự ngộ được, chứ như kẻ phàm phu thiếu tu chánh kiến thời làm sao tỏ ngộ nổi. Vả lại, kiếp Đức Thích Ca thành Phật đó tức là đã trải qua vô lượng kiếp hành đạo Bồ tát rồi, nên kiếp này mới đầy đủ công hạnh mà tự ngộ nhập làm Phật ra đời giáo hóa chúng sanh chớ chẳng phải khi không mà tự ngộ đâu.
🔗Hỏi: Bạch Đại sư, như trong Kinh, đức Phật thường nói với Chư đệ tử rằng đừng vội tin lời của ta và cũng đừng vội bỏ lời nói của ta như vậy là ý chi, xin sư từ bi chỉ dạy?
🔗Đáp: Vì Đức Phật muốn cho Chư đệ tử cùng tất cả chúng sanh đều tự khai thị mà ngộ nhập chánh tri kiến của mình, nên ngài mới nói như thế. Bởi cớ sao? Vì nếu vội tin hay vội bỏ, thời làm sao tâm trí sáng tỏ được, mà nếu tâm trí không sáng tỏ, thời làm sao có chánh tri kiến, mà nếu không có chánh tri kiến, thời Diệu quả Bồ Đề không thành. Nên sở dĩ Phật dạy “Chớ vội tin và đừng vội bỏ”, đó là lòng từ bi vô lượng của Đức Thế Tôn, muốn cho tất cả chúng sanh đều được khai thị và ngộ nhập chánh tri kiến thành đạo Bồ Đề vô thượng như mình vậy.
🔗Quý hoá thay! Công đức của đấng cha lành vạn loại mãi mãi tồn tại với núi sông.
🔗Sau khi vấn đáp đến đây ông Thiền sư nói thật là hữu duyên lắm, nên hôm nay kẻ hèn này mới được diện kiến với Đại sư và học hỏi diệu pháp của Tam Thế Phật mà từ lâu lòng vẫn mong cầu.
🔗Thiền sư kệ tiếp:
🔗Ngọc ẩn Lâm Sơn khó kẻ tìm
Công thầy khai hóa cửa trang nghiêm
Ân kia non thái khôn tài trả
Nghĩa nọ đáp đền mở huệ nghiêm.
🔗Nhà sư đối:
🔗Ngọc ẩn Lâm Sơn mấy kẻ tìm
Đạo lành rọi sáng nẻo trang nghiêm
Nghĩa ân lo trả mau tư tỉnh
Nhứt khiếu khai thông mới khỏi chìm.
🔗Thiền sư kệ:
🔗Xanh xanh biếc biếc thiệt rặt ròng
Đỏ đỏ vàng vàng rọi sắc long
Bạch Thuỷ huyền cơ cam lộ pháp
Thậm - thâm vi diệu giác chơn không
🔗Nhà sư đối:
🔗Thanh thanh lặng lặng dốc một lòng
Rõ mối chơn truyền diệu pháp tông
Bạch nhựt huyền quang âm phản chiếu
Tâm không rỗng lặng hiện chơn ông
🔗Thiền sư kệ:
🔗Đêm khuya chiếu sáng ánh huệ hồng
Giáo lý chơn truyền Tam thế tông
Cổ kim luân chuyển về nguyên bổn
Giác tánh đạo mầu mở lối thông.
🔗Nhà sư đối:
🔗Diệu minh chung thuỷ có một lòng
Vọng tưởng luân hồi ly hiệp không
Tánh kia nguyên bổn gồm kim cổ
Đạo nọ vô danh Tam thế tông
🔗Nhà sư tiếp:
🔗Khuyên ai tu học Tam thừa
Sớm mau thức tỉnh cải chừa mộng tâm
Pháp Phật diệu diệu thâm thâm
Đừng mong ảo ảnh chớ tầm sắc thịnh
Trí trực giác tâm huệ minh
Chơn nhơn ẩn hiện tự mình kiến tri
Phá ngã chấp dứt mê si
Đàng ngay lối thẳng bước đi vững vàng
Thân tâm cốt cách nghiêm trang
Dưới trên hoà hiệp đạo tràng vĩnh miên
Chánh pháp nhãn tạng hoa liên
Tăng ni tứ chúng thọ truyền ấn tâm
Ai ơi đại đạo gắng tầm
Đừng lòng lơ lãng đọa thêm cực hình
Đôi lời khuyên khách hữu tình
Linh sơn Bửu điện Đài linh bước vào.
🔗Nam Mô Thiên Bá Ức Hóa Thân Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.