Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Long Hoa giáo chủ pháp
vương Di Lặc tôn Phật. Nam
mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha tát.
cùng chư tăng ni và quý Phật tử nam nữ rôn đồ pháp quyến thân mến.
Thì à cũng như tất cả quý vị được biết á chư Phật ba
đời à khi mà ra đời thì các ngài đều tùy thuận nhân
duyên mà khai mở một cái pháp môn đó để giáo hóa chúng sanh trên bước đường tu học giải thoát.
Và mục đích chính của ba đời chư Phật ra đời là vì khai thị cho chúng sanh ngộ
nhập Phật tri kiến. Có nghĩa là khai ra con mắt trí tuệ cho chúng sinh để cho
chúng sinh có được à cái sự thấy đồng với cái sự thấy của chư Phật.
Có nghĩa là chư Phật ba đời ra đời vì mục
đích đem lại an lạc cho tất cả chúng sinh cũng
như là trợ duyên giúp sức cho chúng sinh, cho những người đủ những cái duyên lành.
tu học để đạt quả chánh giác y như mình vậy. Cho nên ở đây thì hôm
nay à tôi xin nhắc đại khái về
à Tứ Diệu Đế mà xưa kia Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời đã chỉ dạy năm anh em ông Kiều Trần Như.
Và chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngài cũng nói sau này à Đức Di Lạc tôn Phật
ra đời thì cũng nói Tứ Diệu Đế như thế vân vân và vân
vân. Thì à tất cả quý vị lắng
nghe vì sao Đức Phật thiết thời kinh Tứ Diệu Đế.
Đó, đó là một cái cái câu hỏi rất là quan trọng để cho tất cả chúng ta phải
a à tập trung một cái tư tưởng à tập trung một cái tinh thần
đó để lắng nghe à những lời Phật dạy như thế nào đây thì quý vị
biết vì à sau khi à đắc quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác với cậu bồ đề sau
48 ngày tham thiền nhập định. Tức là Đức Phật ngồi tham thiền nhập định tại cội bồ đề 49
ngày đắc đạo có đủ tam minh, tứ
trí, ngũ nhãn, lục thông, toàn giác đó.
Thì à sau khi ngài đã đắc à đạo rồi thì ngài cũng chưa dội để
mà rời cái Bồ Đề đạo tràng. Có ý nghĩa là ngài chưa dội rời khỏi
cái tự tánh thanh tịnh của chính mình.
Thì Đức Thích Ca Mâu Ni với pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật cùng chư đại Bồ Tát chứng giải
thoát môn tuyên thiết kinh Hoa Nghiêm 21 ngày đó.
Thì ở đây có người à mới phân dân hỏi rằng tại sao mà Đức Phật ngài khi mà
ngài đã đắc quả rồi á thì ngài lại không dội rời cái bồ đề đảo
trang. Rồi lại có câu là Đức Thích Ca Mâu Ni với pháp thân Tỳ Lô Giá Na
Phật cùng chư đại Bồ Tát chứng giải thoát môn. tiên thiết kinh Hoa Nghiêm 21
ngày. Thì ở đây á tôi muốn nói về một cái lý pháp mà để tất cả tăng ni và Phật tử được tin tưởng.
[Vỗ tay]
Thì cũng như phần trước tôi đã nói á,
khi mà Đức Phật ngài đã à đắc được cái quả vị chánh đẳng chánh giác
đó thì bây giờ á ngài chưa r dợ rời cái tự tánh hăng thanh tịnh hằng còn của chính mình.
Đồng thời á song song ngài an trú nghĩa là cái
a cái ý trí á trong cái giác tánh thường còn bất biến đó.
mà cái giác tánh á thường còn bất biến á thì nó lại
á nghĩa là à trong đó
đó thì phải tạm gọi cái cái cái tạng tánh hiểu biết của Đức Thích Ca Mâu Ni.
Đó chính là chính là pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật đó chứ không phải có một vị Phật nào ngoài khác hết.
Ở đây nói rõ Đức Thích Ca Mâu Ni ngài đã à đạt được cái cái tánh giác thanh tịnh
bất sanh bất diệt của chính mình thì chính ngài thấy
rõ cái giác tức là cái hiểu. Cái hiểu của ngài an trú trong cái tánh thanh tịnh hằng còn bất
biến mà cái cái tánh thanh tịnh hằng còn bất biến này nó không phải
riêng riêng nơi cái cái
cái tâm thịnh tịnh cá nhân của chính mình mà
nó hòa đồng với pháp
giới đó. Và cái pháp giới
đó tức là pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật.
Song song bên cạnh đó thì tất cả những cái ý
niệm từ bi, hỷ xả, quảng đại, khoan hồng à nơi tâm thức của
ngài ví như là chư đại Bồ Tát đó chứng dạy thoát
môn tuyên thiết. Kinh Hoa Nghiêm 21 ngày tức là tuyên
á những cái tạng tánh bình đẳng rỗng lặng trùm khắp nó đầy đủ những cái
cái phước duyên trang nghiêm thanh tịnh ví như
là à hoa sen ngàn cánh đủ màu sắc trắng xanh vàng đỏ tím
hồng đó rất là trang nghiêm rất là thanh tịnh không thể nghĩ bàn được.
đó có nghĩa sau khi ngài đã đắt được cái quả vị bồ đề chánh đẳng chánh giác
rồi thì ngài vẫn còn tiếp tục quán
xét nghiên cứu tìm tòi, thuyết minh
đó cái thế giới quý báo mà ngài đã đạt được
đó. Và ngài nhận thấy rằng á một cái cái tánh
giác cũng gọi là cái kim cang thân của Đức Như Lai cũng gọi là 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp
của ba đời chư Phật. đã thành tựu do do ha là qua cái à dụng những cái cái công
năng thực hành mà đạt
được. Và chính với sự đạt được này thì chúng sanh phàm phu và hàng bồ tát sơ tâm không thể nào hiểu được.
đó thì chính không thể nào mà chúng sanh hiểu được. Cho nên hiểu biết như vậy
đó thì Đức Phật ngài muốn vào Niết bàn vô dư cho rồi. Đó có nghĩa là ngài muốn
muốn đi vào cái cái cái cảnh giới tịch diệt luôn.
đó. Thì à sau đó các vị á Thiên Vương, Long Dương,
Sơn Dương và các vị thiên thần đó vân vân và vân
vân thì biết cái tâm địa của ngài là muốn vào vô vô niết bàn.
Cho nên các ngài mới cung kính cầu xin ngài mở lòng từ bi đại lượng chuyển pháp luân mà hóa độ chúng sinh làm lợi ích
nhân thiên đang vướng dinh trong dòng lục
đạo có nghĩa là về mặt sự là như thế nhưng lý bên Trong
á khi mà ngài muốn vào cái cõi tịch diệt vô dư niết
bàn thì cái tâm hồn quảng đại thương yêu chúng
[Vỗ tay]
sinh. Nghĩa là những cái tâm hồn hiếu
kính đối với Tam Bảo cũng như đối với chúng sinh.
Thì tất cả những cái tâm hồn này đều phát khởi lên một cách mạnh
mẽ là nên tùy duyên hóa độ chứ không nên vào thiên đường, không nên vào niết bàn
tịch diệt thì có ý nghĩa như là thiên vương,
long vương và các cung các cõi đến cầu ngài để chuyển pháp luân.
Sau khi ngài quán xét nhân duyên đã phải lúc mở bài pháp môn phương tiện hóa độ chúng sinh đó thì ngài mới
nói pháp Tứ Diệu Đế. Như vậy thì Tứ Diệu Đế là gì? Tứ
Diệu Đế là cái môn tiệm giáo để cho chúng sanh dễ bề tu hành.
Đó như vậy thì tiệm giáo là sao? Tiệm giáo là tùy thuận nhân duyên, tùy thuận
theo tâm địa của chúng sinh, của mỗi người à mà giáo hóa à chứ không nên á là
chấp chặt một pháp môn, không nên chấp chặt rằng mình đắc cái quả vị chánh đẳng chánh giác này là
nói thẳng để mọi người cùng tu. Vì dầu có nói thẳng cũng không ai hiểu, cũng
không ai biết. Cho nên phải phương tiện mà tuần
tự chỉ dạy. Như thế là lần đầu tiên trong giường lộc quuyển tại thành Ba La Nại
đức bổn sư Thế Tôn ngài đã thiết thời kinh Tứ Diệu Đế để khai ngộ năm anh em ông Kiều Trần
Như là nhóm người cùng tu với ngài thổ trước.
[Vỗ tay]
Thì à sau khi nghe được lời giảng giải một cách chân tình và chính xác đối với cuộc sống hiện hữu quá chí
lý quá rõ ràng không còn chỗ nào mà có thể nói là bắt bẻ được.
Mặc dầu năm anh em ông Kiều Trần Như cũng là những cái bậc đại
trí tu tới cái phái Bà La Môn. Sau khi mà năm vị đã nghe được rồi
thì tất cả những thành kiến mê lầm của các ngài đều tan dợ. Trí huệ siêu thoát bừng khai. Ví như tỉnh cơn ác mộng.
năm vị đều đặt của A La Hán và xin làm đệ tử Phật.
Đó thì năm vị đó có tên là
gì? Năm vị đó có tên là một A Nhã Kiều Trần
Như, hai thập lực Ca Diếp, ba là bạc đề, bốn ma ha Cali.
năm a bệ thì đó là năm vị đệ tử đầu tiên của
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni tở xưa truyền đạo nơi xứ Ấn
Độ. Thì để cho nó rõ ràng hơn ở đây á là tôi xin phương tiện lý
giải về Tứ Diệu Đế. để tất cả tăng ni và Phật tử cùng
nghe hầu có một cái tư duy đó sáng suốt để có một lập trường,
một cái định hướng chắc chắn cho mình trên bước đường tu học theo giáo lý của ba đời chư Phật.
Phải nói thẳng ra thì trong đời không có ai thương mình hơn cha mẹ
mình thì bên đạo không có ai thương mình hơn thầy tổ của
mình tức là bổn sư Thích Ca. Cho nên từ ngày xưa đến hôm nay tất
cả à chư tăng ni và Phật tử đều gọi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu
Ni gọi là từ phụ, tức là một người cha hiền, một người cha có đủ đầy những cái
lòng từ bi bát ái. một người cha có đủ bi trí dũng đó
để cứu vớt và hướng dẫn mình qua đến bờ giải
thoát. Thì à đi vào đời à Tứ Diệu Đế là
gì? Thì quý vị biết tứ là bốn mà diệu là hai đẹp là quý báo hoàn toàn.
[âm nhạc]
đó có nghĩa là có bốn điều hay đẹp, quý báo hoàn toàn và cũng rất là chắc thật
mà không hề nghĩa là giải dối, không hề tà mị, cũng không hề gạt gẫm chúng sanh. Cho nên đế là rõ ràng chắc thật,
đúng đắng nhất.
Chữ phạn có nghĩa là aiva
sani a di va saki. Đó là chữ phạn. Tứ diệu đế là bốn
sự chắc thật chắc chắn quý báo hoàn toàn nhất không có một giáo lý ngoại đạo nào có thể sánh kịp.
hoặc nói không có một kẻ ngoại đạo nào có thể phủ nhận được. Đó thì bốn điều này là tại sao mà
không ai phủ nhận được? Vì đây là một cái hiện tượng biện chiến di vật trước mắt mà tất cả ai cũng đang sống với nó,
đang tiếp cận nó, đang gần gũi nó và đang nghĩ
là nghĩ là bị nó n là điều khiển mình đó ở trong cái
trong cuộc sanh và sở dĩ vì
sao mà không ai có thể là à phủ nhận được.
Vì dầu cho người theo đạo Phật hay theo một đạo nào ngoài khác. Hoặc nói cho cùng là
người không theo một đạo nào đi nữa với cuộc sống của họ cũng không vượt ngoài bốn điều mà Phật đã nói ra.
với bốn điều chắc thật.
Một người nào, một chúng sanh nào mà nghe có đủ lòng
tin, thực hành đúng như pháp, thời ví như nhà mình thiếu ánh sáng mà có ngọn đèn soi
rội, tức phá tan những nghi ngờ mê hoặc do vô minh gây ra, vừa đương nhiên sẽ thành một bậc thánh.
Đó lại nữa, một chúng sanh có đủ niềm tin vững chắc thực hành đúng như pháp sẽ trở
thành một bậc thánh ấy. Trong đó chẳng luận kẻ nam, người nữ, kẻ sang, người
hèn, kẻ nghèo, người giàu, kẻ nhục hay là người vinh thì à nói cho rõ.
Rồi nói về Tứ Diệu Đế á, nếu mà ai đó nghe qua những cái lời Đức Phật dạy đó
mà thật hành thì đều có kết quả, có thể sẽ trở thành thánh.
Trong đó không phân biệt, không phân biệt giai cấp sang hèn, bần phú, nhục vinh, không
phân biệt loài người hay là loài thú, cũng như không hề
phân biệt là thánh hay là phàm. Nó có một điều à rất là quan trọng như thế.
Do đó, Tứ Diệu Đế cũng còn gọi là gì? Cũng còn gọi là thánh, Tứ Thánh Đế. Đó,
gọi là Tứ Thánh Đế. Tứ Thánh Đế nói cách khác, Tứ là bốn diệu cũng còn gọi là nhiệm màu, quý báo sâu kính ẩn tàn nơi mọi loài mọi vật.
Diệu là hyền diệu thậm thâm thâm nhập tâm linh trí
não, làm cho con người tu hành dứt đi sự tham đắm tục
22:0022 minutestrành sắc, thinh hương vị mà trở thành bậc chánh biến tri giác.
Đế cũng còn gọi là vua cao trên tất cả quan dân là gốc rễ của cây cối, là khởi
nguồn của dòng sông suối rật là chắc chắn chân thật bất di bất dịch với thời
gian và không gian. Thật dạy Tứ Diệu Đế là bốn điều thậm thâm, vi diệu, hiển nhiên là hiện thực.
Trước thị giác của mọi người chứng biết Phật thiết ra để hóa độ năm anh em ông Kỳ Trần
Như. Những hiện thực trong quá khứ trước thị giác mọi người đều nhận nhìn nhận đúng
như thật. Chúng ta hiện tại trước thị giác đều nhìn nhận đúng như thật. Chúng sinh hậu lai trước thị giác sẽ nhìn nhận đúng như thật.
Ba đời chúng sanh đều nhìn nhận đúng như thật thì đó là chân lý bất di bất dịch
có ý nghĩa như tuyệt đối không ai có thể chối cãi được.
Nôm na mà nói cho rõ ràng trước mắt của mọi người quá khứ, hiện tại và vị lai đều
nhìn nhận đúng sự thật thì đó là tuyệt
[Vỗ tay]
đối. Về tả đề Tứ Diệu Đế là gì?
Tứ diệu đế là một khổ đế, hai tập đế, ba diệt đế và bốn là đạo
đế để phân tích từng phần cho tăng ni và Phật tử được nghe.
Thì ở đây á xưa kia Đức Phật ngài đã dạy tăng ni và Phật tử thì hôm nay chúng ta là cái người Hậu
Lai đó thì chúng ta cũng cần phải học những
điều này. Đừng nghĩ rằng á đời hôm nay quá văn minh, quá tiến bộ mà chúng ta
phủ nhận những cái lời của người xưa mà đặc biệt á là những lời mà của Đức Phật đã
dạy. Bởi vì những lời của Đức Phật đã dạy quá khứ, hiện tại và vị lai không hề thay đổi.
Dầu không có cạn,
[âm nhạc]
dầu đá có thể mòn, núi có thể lỡ, biển có thể khô nhưng lời dạy của Phật là tuyệt đối chắc chắn, không hề thay đổi.
Nên do đó chúng sanh đời nào cũng phải
học lời của của Phật dạy. Một về khổ đế có chia làm ba phần.
Ờ thứ nhất là nói về khổ khổ, thứ hai là nói về hoại khổ. Thứ ba đó là nói về hành khổ.
thì đại loại trong ba điều khổ tức là khổ, hoại hành sanh ra muôn ngàn chuyện
khổ khác. Nơi đây thì phương tiện có phân ra tám điều đại khái như
sau. Một là sanh khổ, hai là già khổ, ba là bệnh khổ, bốn là chết khổ.
Năm là thương yêu xa lìa khổ. Sáu thù oán gặp gỡ khổ.
Bả cầu muốn chẳng đặng khổ. Tám ngũ uẩn xí thạnh khổ. Đó nói về vấn đề cái khổ á
là có tám điều đại khái mà xét ra cho cùng thì trong tám
điều này không ai tránh khỏi hết. Không một gia đình nào mà khỏi hết. Thấy không? Mà nói riêng đó là nói riêng loài
người chứ các loài chúng sinh cũng đồng chung chịu trong cái cái quy luật, cái
định luật ở thiên nhiên mà thôi. Rồi thứ hai nói về tập đế. Tập đế
thì có 12 nhân duyên đó. 12 nhân duyên tập. Một á là vô minh tập, hai là hành tập,
ba là thức tập, bốn là danh sắc tập, năm là lục nhập tập, sáu là xúc tập, bảy thọ
tập, tám là ái tập chín là thủ tập, 10 là hữu tập, 11 là sanh tập, 12 là tử tập.
[Vỗ tay]
Đó. Và đồng thời nói về điều thứ ba tức là diệt đế khổ tập rồi mới tới diệt.
Diệt đế. Diệt đế thì có 12 nhân duyên.
Một vô minh diệt. Hai hành diệt. Ba thức diệt bốn danh sắc diệt. Năm lục nhập diệt. Sáu xúc diệt. Bảy thọ diệt. Tám ái
diệt. Chín thủ diệt. 10 hữu diệt. 11 sanh diệt. 12 là tử diệt. Đó. Thì à
à vấn đề à tập nhiễm cũng có 12 nhân duyên quân tập.
Rồi diệt đế á thì có 10 cũng có 12 cái nhân duyên để mà diệt. Điều thứ tư á nói về đạo đế. Đạo
đế thì có tám có tám đạo. Một là chánh kiến đạo. Hai là chánh tư duy đạo. Ba là chánh ngữ đạo. Bốn là chánh nghiệp đạo.
Năm là chánh mạng đạo. Sáu là chánh tinh tấn đạo. Bảy là chánh niệm đạo. Tám là chánh định đạo. Đó.
Thì tóm lại Tứ Diệu Đế là Kim Chỉ Nam là bức đồ hình để người lạc lối tìm hướng quay về là cơ bản là nguồn cội là mặn
mạch của người tu học Phật trên con đường chánh đẳng chánh giác của Đức Như Lai đó. Vậy ai cũng nên học hiểu và thực hành Tứ Diệu Đế hết.
Thì ở đây á tất cả tăng ni và Phật tử phải rõ cái người cái người bước chân
vào cái đạo Phật, đặc biệt là người xuất gia phải nắm bắt một cách chính xác và rõ
ràng, kể cả cần phải học thuộc lòng luôn để mà biết. Bởi vì đây là cái cốt lỗi của đạo Phật. Nếu mà con người vô tu đạo
Phật mà không hiểu được cái này thì coi như là con người đó chẳng khác nào như không có xương
sống. Đó. Đó là cái người xuất gia. Còn người tại gia cũng tới. Cần phải hiểu rõ chính xác lý do nào hôm nay mình bị gia
đình, bị vợ chồng con cái, anh em cha mẹ quyến thuộc thân bằng nó lôi
kéo. Tại sao? là mình cũng do từ cái chỗ mà
mà vô minh mà nó sanh ra tất cả những cái cái cái chướng duên, những cái
nghịch cảnh vân vân và vân vân. Đó.
Có người hỏi tại sao lần đầu tiên Đức Phật thiết thời kinh Tứ Diệu Đế mà không thiết thời
nào ngoài khác? Thì ở đây cũng có người á hỏi tại sao không tại sao mà Đức Phật
lại không thiết cái gì ngoài khác mà lại thuyết thời kinh Tứ Diệu Đế thì ở đây sinh đáp vì mục đích làm cho năm anh em
ông Kỳ Trần Như cũng như chúng sanh tự khai sanh trí tuệ của mình để dễ dàng tiến đến bờ giải
thoát. Nên Đức Thế Tôn hướng ý cho mọi người nhận chân được lẽ thật.
của cuộc đời hầu quyết định tương lai siêu đọ cho chính mình. Đó thì Đức Phật ngài
muốn cho tất cả mọi người phải nhận chân được sự thật cuộc đời thì từ chỗ đó tu mới dững vàng. Chứ nếu tu á mà không
nhận chân được sự thật của cuộc đời, chỉ tu bằng cách ham vui rồi nghe rồi chạy theo mà không cần hiểu gì hết thì tu như vậy không bền dững.
đó bởi vì á vui thì tu mà buồn thì thôi thì làm sao bền dững được phải không?
Cho nên á muốn bền dững là phải hiểu chính xác về cái cái
cái đường hướng của mình đang đi. Hiểu chính xác rồi thì mình mới có lập trương, mới có một ý chí quyết định.
đó lại nữa với lối tu khổ hạnh của năm anh em ông Kiều Trần Như
rất dài dặn song chỉ vọng cầu sự an lạc ở tận đâu đâu mà quên đi trước
mắt. Một chân lý tuyệt đời có một nguồn sáng rực rỡ ánh quang bất diệt hòa đồng
vũ trụ. Đó tại vì cái pháp tu của năm anh em ông Kiều Trần Như cũng rất là hay, rất là tuyệt
nhưng không thể đưa đến cái cái giải thoát hoàn toàn ra ngoài cái cái tam giới phàm phu được.
đó giả lại nỗi khổ phàm trần sanh già bệnh chết là điều mà chính bản thân của
Đức Bổn Sư Thế Tôn trước kia tự giác ngộ do à bốn cửa thành.
Từ chỗ đó ngài mới mạnh dạn xuất gia đi tu và thành
đạo. Do đó ngài mới nói thời pháp Tứ Diệu
Đế lần đầu tiên để cho mọi người dễ dàng nhận thức cũng như chính ngày đã nhận thức
được mà mới đi tu đắc đạo đó.
Và khi á ngài tùy duyên mà giảng cái lời kinh Tứ Diệu Đế
này cũng chính là đợi thức tỉnh mọi người ra khỏi cơn ác
mộng. Kệ rằng
giất mộng muôn đời tỉnh dậy chưa?
Hỡi người tri thức học tam thừa
vô minh dày giặt trùm bao kiếp
phản chiếu hồi quan đặng hay chưa
đó thì tất cả mọi người chúng ta đang sống trong cuộc đời này chẳng khác nào là chúng ta
đang sống trong một cái một cái cõi mộng cõi mộng và trong
giấc mộng đó tất cả đều sống trong cõi
[Vỗ tay]
mộng. Như thế thì Tứ Dệ Đế là một cái điều rất cần thiết mà mọi người khi bước chân vào đạo
phải hiểu á một cách chính xác để có lập trường cho đời mình.
Và tiếp theo á khi mà một con người mà hành Tứ Diệu Đế á thì cần phải có những phương
tiện trợ duyên thì đường tu hành mới dững vàng, mới chắc chắn đó mới không sợ
á lạc vào mê tín dị đoan hoặc bất tín ngang tàng.
Cho nên sau đó thì Đức Phật ngài lại tiếp tục ngài dạy á là 37 phẩm trợ đạo
bồ đề. Tức là con người á hiểu được Tứ Diệu Đế rồi quyết tâm hành cái đạo bồ đời để đạt cái quả vị chánh giác.
đó thì sự quyết tâm đó cũng phải có những cái những cái phương pháp như thế nào để trợ duyên cho cái
lối hành đạo của mỗi người. Cho nên con người tu á mà nếu hiểu được Tứ Diệu Đế rồi tu phải không mà không thực hành qua
37 phẩm trợ đạo Bồ Đề thì chẳng khác nào như là ai đó cất một cái nhà có bốn cây
cột. Tứ Diệu Đế thí dụ như là bốn cây cột. Rồi 37 phẩm trợ đạo bồ đề ví như là
kèo là xiên là trín là đoàn tay ruôi mè.
vân vân. Đó cái nhà chỉ có bốn cây cột mà không có kèo, không có trín, không có
xiên à không có rui mè, đòn tay vân vân thì không thể
nào thành cái nhà được. Đó như v như thế thì 30 phải phẩm trợ đạo bồ đề là gì?
à tất cả tăng ni à và Phật tử à lắng nghe.
Nói đến 37 phẩm trợ đạo bồ đề thì
à chúng ta phải hiểu người tu học Phật muốn đạt được quả vị chánh
giác thời phải tật hành qua 37 phẩm này.
Đồng thời phải có khái niệm chính xác về 37 phẩm có công năng bảo trì cho người tu học Phật vượt khỏi sông mê bể khổ.
Nói cho dễ hiểu, 37 phẩm tức là 37 bậc,
cũng ví như 37 nất than từ thấp lên cao. Người muốn lên đỉnh núi mà chẳng
bước lên từ nách thì tuyệt nhiên không thể đến chót núi. Đó thì quý vị biết một
người lên núi mà nếu không bước từ bậc thang thì không thể đến chót núi được.
Ngược lại, có người hiểu một cách cực đoan,
cho rằng tôi có thể nhảy một cái từ chân núi đến đỉnh núi an
toàn. Đó có thể có người họ sẽ hãy nói một cách cực đoan như thế. Nhưng mà tất cả quý vị phải biết
rằng á đây là lời nói nhảm nhí không xác thật. Tại sao vậy?
Vì lời nói ấy chỉ là một ảo tưởng của dọc thức, tức là sanh diệt luân hồi.
Đó. Nói như vậy để tăng ni và Phật tử phải hiểu rõ. Ngày hôm nay có nhiều pháp
môn gọi là dạy tu tắc đến Tây Phương luôn, khỏi cần phải hành cái gì nữa
hết. Thì ở đây phải xác định là lời nói mơ hồ.
Quyển vật tức là mê tín dị đoan, chỉ gạt gẫm được những con
người thiếu trí mà thôi chứ không thể gạt gẫm được những người trí. Đó.
Cho nên đức Thế Tôn ba đời chư Phật đều dạy tu hành theo đạo giác ngộ chắc thật,
trường tồn vĩnh cửu bất sanh bất diệt thì phải thì phải thực
hành trong 37 phẩm trợ đạo bằng ngược lại không hành 37 phẩm trợ đạo.
Tức là người đó hành cái pháp môn gọi là vọng giả đảo điên.
Dạy người muốn dứt đảo điên nên lìa là vọng thức trở vời với chánh
lý thật hành đi vào nội tâm sẽ thấy được
rằng 37 phẩm nó có công năng hỗ trợ đạo tâm của ta rất
là chặt chẽ, rất là khích khao và cũng do đây ta sẽ được khai thông trí tuệ.
siêu phàm nhập thánh. Thế thì người muốn siêu phàm nhập
thánh thời không thể thiếu học, thiếu hiểu, thiếu hành trì 37 phẩm trợ đạo. Sở
dĩ vì sao? Vì 37 phẩm là xương sống của con
người. Con người mà thiếu xương sống không thể ngồi hay đi đứng được.
40:0040 minuteslại ví như cốt tủy của cây cối. Cây cối mà thiếu cốt tủy, thời không thể đứng
dững lâu dài với thời gian và không gian.
37 phẩm gồm có một tứ niệm xứ có bốn, hai tứ chánh
cần có bốn ba tứ như ý túc có bốn bốn ngũ căn có năm.
Năm ngũ lực có năm. Sáu, thất bồ đề phần có
bảy. Bảy, bát chánh đạo phần có tám. Như vậy thì tổng cộng là 37 phẩm trợ đạo bồ đề.
Vậy tứ niệm xứ là gì?
Tứ niệm xứ là bốn phép niệm an trụ tâm của chúng sanh hành đạo bồ đề cũng còn
gọi là bốn khái niệm cần phải lưu ý không thể bỏ
qua. Như vậy thì tứ niệm xứ về phần định từ và giải nghĩa như sau.
Tứ là bốn niệm là quan niệm là tâm niệm là
niệm tưởng quán xét. Xứ là xứ sở là chỗ là nơi an
trụ. Tứ niệm xứ là bốn nơi an trụ tâm của người hành đạo bồ đề.
Người hành đạo bồ đời phải có quan niệm vững chắc như vậy, phải quán xét như vậy, không rời, mới có thể dứt lìa được
các vọng nghiệp tà kiến do vô minh gây ra.
Tứ niệm xứ là một quán thân bất tịnh, hai quán thọ
thủ khổ, ba quán tâm vô thường, bốn quán
pháp vô ngã. Đó là bốn cái cái cái phương pháp quán đó. Như vậy là con
người tu á ngoài ra định tánh giữ giới để năng sanh định và có định tánh rồi
thì phải có quán. Thì có quán á mới sanh ra trí tuệ và có trí tuệ thì mới có thể phá được vô minh nghiệp báo, dứt luân hồi thống khổ.
Đó cho nên người á tu mà không quán tức là tu mù đó rõ ràng như
thế. Tứ niệm xứ cũng còn gọi là một niệm tưởng đến thân sẽ dứt khổ vì
thân. Hai niệm tưởng đến bệnh sẽ dứt khổ vì bệnh. Ba niệm tưởng đến ý sẽ dứt khổ vì ý.
Bốn, niệm tưởng đến pháp sẽ dứt khổ vì pháp. Đó, đây là lời ở trong chân lý của
sư tổ minh quang. Hỏi tại sao quán thân bất tịnh mà gọi là niệm tưởng đến thân sẽ dứt khổ vì
thân? Đó thì trong cái kinh văn
á nói là quán thân bất tịnh. Nhưng mà là về bên cái chân lý của sư tổ Minh Đông Quang thì ngài gọi là niệm tưởng đến
thân sẽ dứt khổ vì thân. Như thế nào? Đáp rằng vì quán thân bất tịnh, tức
44:0044 minuteslà niệm tưởng đến thân là ô quế, không sạch là giả hợp nên không còn tham đắm cố
chấp. Đó, dĩ nhiên không còn khổ vì thân đó. lại xem thân như là một cái ổ di trùng ghê tởm.
Thân là một thùng phẫn sơn son chứ không có gì mà phải ham mê đắm đuối. Không có
gì mà mà phải tham ham những cái cái cái sắc đẹp đó cái tài hay của một con
người. Đa phần là chúng sanh á ham thích cái sắc đẹp và cái cái tài hai mà khi mà quán
tưởng đến thân là như thế rồi á là một ổ di trùng là một thùng phẫn sơn son thì
không còn gì mà phải để ham muốn nữa. Hỏi tại sao quán thọ thị khổ mà gọi
là niệm tưởng đến bệnh sẽ dứt khổ vì bệnh đáp.
Vì quán thọ thị khổ, tức là niệm tưởng đến sự thọ nhận các pháp thế gian hữu vi và pháp xuất thế gian vô vi.
Đó là cái bệnh tâm tham chấp của tất cả mọi người. Và vì tham chấp đó mới sinh
tình tình thọ, tình cảm. Thọ là một uẩn trong ngũ uẩn.
[Vỗ tay]
sắc, thọ, tưởng, hành, thức có thọ nhận các pháp mới sanh ra tình cảm. Rồi sanh ra tình cảm rồi mới ô nhiễm, mới khổ nạn.
Nay do thấy biết rõ ràng nên dứt trừ cái bệnh tâm tham chấp, nó gọi là dứt khổ vì bệnh đó.
hỏi vì sao quán tâm vô thường mà gọi là niệm tưởng đến ý sẽ dứt khổ vì
ý đạp vì quán tâm vô thường tức là niệm tưởng đến ý vọng
duyên lại cũng gọi là ý mã tức là tâm duyên tâm duyên tức là tâm sở tâm sở
sanh thời hai sanh diệt liên hồi nó là tâm khách chẳng phải tâm đủ tâm dương tâm chân của
ta. Do hiểu biết như thế nên không còn duyên theo ý giả, hẳn nhiên sẽ dứt khổ vì
ý. Hỏi: Vì sao quán pháp vô ngã mà gọi là niệm tưởng đến pháp sẽ dứt khổ? Vì pháp đó.
Vì quán pháp vô ngã tức là niệm tưởng vạn pháp vạn môn vốn không chủ thể.
Không thật có ta của ta. Do thế mà không còn mê lầm chấp pháp nên được dứt khổ vì
pháp. Thì ở đây nói thêm quán pháp vô ngã. Pháp là những phương pháp, những cách
thế hoặc giả, những ngôn ngôn từ vân vân
thì sở dĩ có là phương tiện người xưa đặt để ra để à
tạm gọi tạm dùng. Thí dụ như buổi đầu tiên người ta nắng ra một cái chén thì
nắng ra một cái cái cái chén như vậy nhưng mà nó đầu tiên nó không có cái tên. Cái kiểu này người ta đặt là cái
chén r cái kiểu kia người ta đặt cái tô cái kiểu nọ người ta đặt là cái thố ha.
Rồi người này á ta phương tiện ta đặt tên là là là A. Rồi người ngọ đặt tên là
BC hoặc mít xài ổi thì tất cả những cái từ ngữ những cái phương pháp những cái
cách thế đi đ nó vốn không có ta đó nhưng mà vậ sở dĩ phương tiện có là người xưa phương tiện đặt ra để mà từng
tự dễ gọi cho nó lớp lan thứ tự mà thôi chứ thật tới nó không tự có thấy nó vô ngã thấy không cho nên á cái người mà
hiểu là các pháp vốn là vô ngã rồi đó thì không thật Thật ta không thật có nghĩa là không thật có ta, không thật
của ta. Đó thì như vậy ta tham chấp để làm gì? Thí
dụ thí dụ như đồng tiền nó đồng tiền của ta nhưng mà sau đó là chúng ta mua đồ
thì nó về tay người khác rồi. Nó đâu còn của ta. Nếu nó của ta thì nó mới ở với ta mã mãi chứ. Nhưng cớ sao nó lại đi về tay người khác. Thí dụ vậy, chỉ đơn cử
một việc thì từ đó tăng ni sẽ thấy rõ các pháp là là vô ngã.
Đó, thí dụ như địa ngục, thiên đường đó,
siêu hoặc đọ thì cái phương tiện để để nói vậy thôi. Chứ đầu tiên nó cũng không có cái tên nó là thiên đường hay địa ngục hay siêu hay đỏ.
Nói như vậy không có nghĩa là không có thiên đường, không có địa ngục, không có siêu, không có đọ phải không? Mà mọi việc do cái
ý ý nghiệp của ta nó sanh khởi đó mà nó trở thành
có. Bởi vậy cho nên các vị tổ sư thường gọi vạn pháp di tâm tạo các pháp tỳ tăng sanh là chỗ này.
Đó. À tóm lại tứ niệm xứ phần trước là nói về nhân duyên.
Tức là nói tứ niệm xứ về phần trước là nói về nhân duyên đó. Như vậy thì phần trước là cái gì? Là quán thân bất tịnh
đó. Rồi quán thọ thị khổ rồi quán tâm vô thường rồi quán pháp vô
ngạ. Còn tứ niệm á xứ á phần sau tức là niệm tưởng đến thân sẽ dứt khổ vì thân.
Niệm tưởng đến bệnh dứt khổ vì bệnh. Niệm tưởng đến là ý sẽ dứt khổ vì ý. Niệm tưởng đến pháp sẽ dứt khổ vì pháp.
Đó phần sau này là nói về hạnh quả mà phần sau đây là do sư tổ minh đăng quang ngài đã đã diễn đã diễn ra diễn đạt ra.
Cho nên phải nói rằng sư Tổ Minh Quang là một cái người đã hành pháp, đã đắc pháp ngài mới diễn đạt được một cách rất là là là chính xác.
Thì à đi vào vấn đề á là một là quán thân bất tịnh cũng gọi là niệm tưởng đến thân.
Quán thân có nghĩa là quan sát soi xét về cái căn thân căn thân của của mỗi người.
À đó à căn thân là một căn trong lục
căn. Lục căn là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn.
[Vỗ tay]
Bất tịnh là không sạch. Tại sao mà phải quán xét đến thân là bất tịnh? Bởi thế gian thường tình hay tham đắm sắc thân lo cạo gọt, trau chuốt,
dung dưỡng đó, tho son, đánh phấn đủ điều hoặc vì dung dưỡng sắc thân của
mình, hoặc vì dung dưỡng sắc thân cho người ngoài khác mà có khi lắm.
gây điều tội ác, bị quả báo luân hồi khổ hãi mà chẳng hai. Do đó, vì lòng từ
bi, Đức Thế Tôn dạy phải quán xét tìm
tòi cho cặn kẻ xem cái thân này là thật hay
giả, sạch hay dơ để từ đó có khái niệm vững chắc trên đường tu học.
không bị các tà thiết làm lung lạc tinh thần. Quán thân bất tịnh hoặc niệm tưởng
đến thân là đã cụ thể vấn đề thân là không
sạch sở dĩ. Vì sao? Vì thân này là do tứ đại hợp thành. Tứ đại là đất, nước, lửa,
gió. Đất là xương thịt răng lông, nước là máu
mũ đàm giải. Lửa là nấm ống nóng ấm trong người, gió là hơi
thở. Nhìn sắc thân bên ngoài, ta thích sạch sẽ, trơn láng, mịnh mạn, nhưng bên
trong chứa đựng toàn là đồ bẩn thiểu tanh hôi khó chịu, ví như thùng phẫn sơn son. Chẳng
khác sắc thân con người có cửu khiếu là chính lỗ thường tiết ra chất nhơ
nhóp. Đó thì cụ thể điều này ai cũng có. Một là hai mắt có ghèn
cháo. Hai là hai lỗ tai có phẫn rái. Ba là hai lỗ mũi có nước
giải. Bốn là miệng có đàm nước miếng.
năm đường tiểu tiện phân quế lại càng ghê tổm đó thì phải cụ thể để biết rõ con
người nó có chín cái phiếu thường tiết ra những cái cái nhơ nhót tanh hôi
đó về dục tánh của chúng sinh, của mỗi người trên thế gian
này. Thấy kẻ nào bề ngoài đẹp đẽ, trang hoàng, thần khởi tâm ưa thích, đắm
nhiễm, say mê, có khi chẳng kể đến thân mạng mình, chết sống nữa là khác. Đó.
Thì đó là cái cái cái tánh ham muốn của chúng sinh ở cõi trần đó. Mà chính cái tính ham muốn này
nó nổi lên mà con người không kiềm chế được. cho nên gây ra nhiều cái cái
cái tội trọng về mặt trần gian có thể sẽ bị tù
đài giam nhốt về cảnh năm phủ có phải có thể bị đọa lạc đó nơi địa ngục âm u đó
hoặc giả là cũng do cái dục tánh ham muốn sái quấy mà có thể đầu thai lộn kiếp mất cả cái người
luôn. Cho nên ở đây á là phải quán xét đó hồi tưởng lại với tân hình đẹp
đẽ họ đang phóng Huế đó. Họ đang đi tiểu tiện từ bên
trong của lớp áo quần lụa là gấm nhiễu trăm cài lượt dắt tống ra phẫn tiểu tanh hôi. Liệu có trí mến được không?
Từ mũi miệng đàm giải trào ra, ta có thể gần gũi được không? Đó, nếu mỗi
người tu lập hạnh giải thoát, dùng pháp quán hồi tưởng lại các điều
này, chắc chắn ai cũng phải dừng lại lòng ham muốn.
phàm tình lòng ham muốn một cách sái quá.
[âm nhạc]
À thở xưa, những nhà thiền sư muốn có khái niệm dững chắc về sắc thân con người,
những vị ấy vào thi lâm, tức là rừng chứa tử thi quán xét sự diễn biến xát
phàm của một con người, chết qua chính giai đoạn như sau.
Ngày đầu ở cạnh thay chết quán xét thấy thay sình trướng to lên đó gọi là trướng
quán. Ngày thứ hai quán xét thấy thay bị nắng gió xanh xám gọi là thanh ứ quán.
Ngày thứ ba quán xét thấy thay bị rã nát gọi là hoại tướng
quán. Ngày thứ tư quán xét thấy thay máu thịt rơi rớt lai láng gọi là quyết độ
tướng quán. Ngày thứ năm quán xét thấy thay chết da thịt rục rã gọi là nồng lãng tướng quán.
Ngày thứ sáu quán xét thấy chim thú đến mổ ăn thay gọi là tướng
quán. Ngày thứ bảy, quán xét thấy thay sau khi bị chim thú ăn, gân xương đầu
mình, tay chân chia tan nát dở, gọi là tán tướng quán.
Ngày thứ tám quán xét thấy huyết nhục đã hết, chỉ còn bộ xương trắng bừa bãi gọi là cốt tướng
quán. Ngày thứ chín, quán xét thấy bộ xương trắng đốt chái thành tro than gọi
là thiêu tướng quán. Chính phép quán xét này để đối trị lòng ham muốn của chúng sinh thích ưa sắc dục.
Những vị thiền sư xưa vì quán xét nhàm chán cái thân quế trược của mình cũng
như của chúng sanh mà tự hủy hoại đời mình bằng cách mượn kẻ khác giết bỏ xác
phàm. Người thời nay lại tự kết liễu sát phàm bằng cách quyên sinh tự tử thấy này hay thấy khác vân vân.
Nhưng mà tất cả quý vị phải hiểu tự hại mình hay mượn kẻ khác hại, đây là việc làm sai lầm, rất thâm trọng.
Sở dĩ về sau vì Phật dạy quán xét đến thân bất tịnh để biết nó không sạch là giải dối,
là biến đổi vô chừng, không đứng mãi một trạng thái.
như khi mới sanh ra còn nhỏ bé, lớn lên bệnh hoạn rồi già chết tiêu mất, chỉ còn tồn lại một tâm linh, một thức nghiệp,
nó dẫn ta đi luân hồi chuyển kiếp, tùy theo tội phước ta gây mà được siêu đọ khổ
vui. Và trong chín pháp quán tưởng của người xưa như trướng tưởng, thanh ư tưởng, hoại tưởng, quyết đồ tưởng, nồng
lẫn tưởng, hám tưởng, tán tưởng, cốt tưởng, thiêu tưởng hoặc gọi là
[âm nhạc]
trong chính pháp tưởng này cũng gọi là quán, cũng gọi là quán đó.
Tuy nhiên nhìn bên ngoài thời rất đơn giản, hiểu nôm na quán là tưởng, tưởng
là quán không có gì đáng kể. Sông xét sâu sắc bên trong rất nguy hiểm. Sở dĩ vì sao?
Nếu ta phân từ và định nghĩa thời quán là chiếu soi, suy xét, phân biệt để biết
một việc có thật hay hay giả, vọng hoặc
chân. Bằng tưởng là hình dung nội tại nó có giống như thật hay không?
Nhưng đại đa số người chỉ làm nghĩ lầm rằng tưởng tức là tưởng tượng là trù
tượng một sự việc từ không thành có hoặc có thành không vân vân.
Chính chỗ hiểu sai lầm này mà có người tập tọ thiền niệm Phật cứ vọng quán
tưởng cho thấy cái thay ma hiện ra trước mắt từ không có tử thi, tưởng mãi miết
cho thấy tượng thành có tử thi. Rồi từng tự tưởng tượng thấy rõ ràng qua chính giai đoạn như trong cũ tưởng quán.
Thế là thần trí duyên vọng lìa bỏ tự tánh thanh tịnh của chính
mình. Bị ngũ ấm ma thị hiện dẫn dụ vào tà kiến thành thiên ma ngoại đạo hoặc bị
điên khùng vì loạn tâm thành.
Lại có người dùng pháp quán tưởng niệm Phật Vô Lượng Thọ tưởng tượng cho thấy
32 tướng tốt 80 vẻ đẹp của Đức Phật A Di Đà tưởng tượng quân tập lâu ngày thành
thấy tướng hảo quang minh của Phật ngỡ rằng mình đã đắc pháp quán tưởng nào dè
thiên ma ba tuần thị hiện dẫn dụ rồi Phật ấy cũng nói pháp báo cho biết quá
khứ vị lai sanh tâm cống cao ngã mạn chê bỏ giới luật Phật sa đọa vào ma đạo làm
tay sai đồ chúng của hắn đó như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm đã
dạy cái điều này thì đã qua cũng như hiện tại thì có nhiều người rất là lầm
lẫn lầm lẫn cái chỗ quán mà nghĩ là tưởng
đó cho nên nghĩa là Phật ở đâu không
thành mà đa phần lại thành ma là cái chỗ này đành rằng người tu pháp quán tưởng
tức là trong tưởng có quán trong quán có tưởng nhưng lấy tưởng để quán cho ra hư
thực tức là giữ được tự chủ tâm mình nên gọi là chơn quán đó.
có nghĩa là tu pháp quán tưởng, tức là trong tưởng có quán quán sét cho ra lẽ phải không?
Trong quán có tưởng nhưng mà lấy cái lấy tưởng á để quán cho ra hư thực tức là giữ được tự chủ tâm mình nên
gọi là chân quán. Bằng lấy quán để tưởng tượng thời đã duyên theo tiền trần. xa
lìa tự tánh thanh tịnh. Đây gọi là vọng quán. Vậy thì quán thân bất tịnh là phải
có khái niệm về thân là giả tạm. Là một ổ quy trùng là không trong sạch. Ví như
thùng phẫn sân son là vô thường huyển hóa để không còn tham đắm nó nữa. Dữn tâm tu học trau dồi trí huệ siêu phàm
nhập thánh. Chứ không phải tưởng tượng là từ không thành. Nếu ai đó tu mà tưởng
tượng từ không hình có tưởng tượng để thấy Phật, thấy hoa sen, tưởng tượng để thấy xuất hồn, thấy
hào quang, thấy hoa nở, tưởng tượng để thấy việc này việc nọ vân vân và vân vân
thì đã lạc về ma đạo. Cho nên kệ rằng
giả hợp thân này có sạch đâu,
động tâm dục nhiễm chớ mong cầu.
Quán cho rõ lẽ xa mê vọng
tưởng niệm đường chơn thoát bể dâu.
Đó là cái nói về quán thân bất tịnh. À tiếp đến là giải về quán thọ thị
khổ là điều thứ hai cũng gọi là niệm tưởng đến bệnh.
Tại sao phải quán thọ thị khổ? Và quán thọ thị khổ là như thế nào?
Có nghĩa là phải quán xét thấy rằng thọ nhận à tất cả những buồn vui
mừng giận, thương ghét muốn. Đó là nguyên nhân đưa đến vấn đề khổ. Vì chúng
sanh phàm tâm giấy động dễ sanh ra các điều ô nhiễm.
nhận chịu những gì mà mình ưa muốn cho thọ thích tâm hồn để rồi chịu khổ ngàn đời ức
kiếp. Quán thọ thị khổ là xét thấy, chịu nhận lãnh lấy các pháp thế gian là
nguyên nhân đưa đến sự khổ. Thọ là thọ nhận, chịu lãnh cũng còn gọi là thọ tình. Thọ là một uẩn trong ngũ uẩn. Thọ
là một uẩn trong ngũ uẩn. Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Trong thọ có bảy cái tình nên gọi là thọ tình hoặc gọi ngược lại là tình thọ. Bãi tình là một là hỷ tức là mừng.
Hai nộ là giận ba ái là thương. Bốn ố là ghét. Năm ai là buồn. Sáu lạc là vui bảy
dục là muốn. Lại nữa. Chúng sanh vì có thọ nhận mới sanh tình.
Có sanh tình mới có cảm nhiễm, luân hồi khổ não. Thọ nhận chịu lãnh các pháp là một cái bệnh của chúng sinh mà không ai
tránh khỏi. Bệnh có hai cách. Một là tâm bệnh, hai là thân bệnh.
Nói về tâm bệnh là thọ nhận sắc đẹp, tài ưa, chịu vọng thanh tiếng tốt, lời kèn
tiếng quyển. Thích ngọt bùi béo thơm ngon, ăn no ngủ ấm sanh tâm chấp trước
các tướng cống cao ngã mạn, ích kỷ hại
nhân, tham sân si tà kiến vân vân. Nói về thân bệnh là thân phàm, cảm
nắng gió sương, ngũ tạng lục phủ bất hòa, sanh ra đau tim gan tỳ phối thận.
Tâm bệnh và thân bệnh là do vô tình hoặc cố ý của mỗi chúng sinh gây ra. Hai biết thọ nhận chấp thủ như vậy
là khổ. Ta liền xả bỏ mê lầm chấp nhất các pháp. Dầu là bệnh tâm dầu là bệnh thân.
Bệnh thâm bệnh tâm là do chấp lầm. Nếu bệnh tâm mê lầm đã dứt thì bệnh thân cũng không có cơ sở đứng dũng.
Nên nói bệnh tâm đã dứt thời bệnh thân cũng không do đâu mà làm cho ta phải
khổ. Thân phàm là một khối vi trùng kết hợp có sanh ra, có lớn lên, có bệnh và phải chết.
Theo định lực vô thường chi phối, chính sác thân của Đức Bổn Sư Thế Tôn xưa kia
còn ảnh hưởng gió xương mang bệnh, hà huống vì nhục thể phàm tình của chúng sanh. Hỷ biết như vậy, ta phải sống bằng
trí huệ tâm linh, dứt bỏ ngã chấp, an tâm, sống trong cảnh bình đẳng giải
thoát, thể hiện lòng từ bi với tất cả chúng sanh.
Quán thọ thì khổ tức là niệm tưởng đến bệnh. Như vậy sẽ dứt khổ vì
bệnh. Đó thì ở đây à tôi xin trở lại vấn đề á thân phàm là một khối vi trùng kết hợp.
Quý vị nào không tin thì chỉ thử lấy một miếng nước miếng thôi hay là một giọt máu nhỏ thôi đưa vào kiến hiện vi thì
quý vị thấy toàn là vi trục rất là ghi tộm
đó. Kệ rằng
thọ tình linh tánh đầu tiên
vô minh huân tập trường miên mà thành.
Buồn vui, mừng giận ghét ganh
thương cấu nhiễm tử sanh luân trầm.
Huệ màu quán chiếu huyền thâm,
tỏ thông khổ bệnh ngàn năm dứt trừ.
Đó thì nói về vấn đề mà quán thọ thì khổ. Cái nữa là quán tâm vô thường cũng gọi là niệm tưởng đến ý. Đó niệm tưởng đến ý.
Đó là cái cái pháp quán thứ ba. thứ
[Vỗ tay]
ba về
[âm nhạc]
à tâm linh của chúng sinh có hai lẽ chơn và giọng.
Tâm chơn là tường còn bất sanh bất diệt.
Tâm vọng là hay biến đổi, chuyển say sanh diệt liên hồi. Quán tâm vô thường là suy xét đến
tâm vọng sanh không hằng còn, không đứng dững một trạng thái. Phật xưa gọi nó là tâm duên ý mã.
đó thật dạy tâm vọng sanh ví như khỉ dượng cứ
mãi leo trèo chền qua nhảy lại. Điều này để chứng minh cụ thể khi nào quý tăng ni
và Phật tử thính giả vào Thảo Cầm viên ở Sài Gòn thì sẽ thấy rõ sự thật.
lại như ý mã là tâm vọng sanh ấy như ngựa không cương rong chơ hồ hải nên nói
quán tâm vô thường đồng nghĩa với câu niệm tưởng đến ý ý vọng duyên ngoại cảnh năng sanh vạn
pháp thiện có ác có nên có hư có sạch có dơ có cái vọng duyên đó nó không phải
thật của ta đã dạy này tỳ kheo Các ngươi chớ nên tin ý các ngươi nếu các ngươi chưa đắc quả A La
Hán. Hiểu biết như vậy để ta có một khái niệm cụ thể về tâm phàm dục vọng của
chúng sanh. Nó chẳng dừng nơi một lứa tuổi, nơi một thời gian, không gian cố
định. Người thế gian hiểu sai lầm rằng tuổi trẻ chưa hiểu đường đời tu chưa được, tuổi già tu mới chắc.
Với ý nghĩ này ta hiểu ngược lại đạo Phật không phải là nơi dung thân của người già cả chán đời yếm thế mà đạo
Phật chính là giác ngộ. Đạo giác ngộ trong phương hướng từ bi trí tuệ.
Nó xuất hiện nơi lòng chân thật của con người do dụng công hành thiền, trong đó
không phân biệt già trẻ, sang hèn, bần phú, nhục vinh. Giả lại tuổi trẻ nếu học đạo nó sẽ dễ phát triển từ bi, trí tuệ và đạt đạo.
Còn tuổi già lục căn suy nhược, tinh thần mờ mệt, kém trí, khó mà đạt đạo,
cứu khổ chúng sinh. Hơn thế nữa, tuổi già là tuổi sống lại,
tâm phàm dục nhiễm của lúc thiếu thời nên chưa hẳn đã dễ tu. Bằng chứng cụ thể có những ông già
cả trên 60 tuổi vẫn còn tái lập gia đình. Trong tinh thần đó, người có ý
thức đạo lý đối trước người khác phái lúc nào cũng phải tự kiểm. sửa đổi lấy
mình chẳng trái với đạo lý làm người. Tu là sửa, tự
sửa mình sửa người
đó tự mỗi người phải sửa lấy mình, phải làm chủ lấy mình tự quyết định lấy tương
lai và giận mạng của mình, kể cả tinh thần cũng như vật chất.
Sự ý lại nhờ cậy nơi kẻ khác hoặc tin tưởng thần quyền một cách tuyệt đối theo thiển kiến của mình dễ đem lại sa ngã
khi lòng mong cầu chẳng đặng tội nguyện. Đường tu học dầu thầy ta, dầu
bạn ta hay chư Phật, Bồ Tát, Kim Cang Bát Bộ, chư thiên có trợ duyên cho ta chăng?
cũng phải do ta chủ động mới có kết quả tốt. Tu là phải tự lực, tự tạo sức mạnh,
tiềm năng, tinh thần và trí tuệ cho mình. Chứ đạo Phật xưa nay chưa có ai
không tu mà thành, không hành mà đắc. Song người tu hành cũng cần tha
lực. là sự hỗ trợ của Phật tiên thánh thần hiền để tránh khỏi quỷ ma tinh tà khuấy
động. Có nhờ tha lực ta mới yên ổn mà tu. Có tự lực ta mới hoàn thành đạo quả
hầu giác tha độ chúng. Tóm lại quán tâm vô thường tức gọi nô na là ý vô thường.
Nếu có quan niệm niệm tưởng đến ý vô thường một cách rõ rệt, ta sẽ dứt khổ vì
ý sanh diệt diệt sanh. Nên có kệ rằng
vô thường tâm vọng diệt sanh
luân hồi lục đạo ngọn ngành là đây.
Quán cho tường tận sâu dày
thẳng nhiên trực nhập đài mây an nhàn.
Đây. Đó là nói về cái quán quán tâm vô thường. Kế đến là điều thứ tư à
quán pháp vô ngã cũng gọi là niệm tưởng đến pháp. Quán pháp vô ngã là suy xét, là
quan niệm. Tánh pháp vốn không ta không có chủ thể sở với vì sao? Vì pháp là dạng
pháp vạn môn từ hữu vi cho đến vô vi trong cõi đời, trong bầu càn khôn vũ trụ.
Nói về pháp giáo nhà Phật, thời pháp là phương pháp cách thế, lý lẽ, phương tiện chỉ dạy cho ta thực hành các hạnh để đến
đạo quả bồ đề tối thượng. Pháp còn gọi là pháp môn, là cửa pháp đưa vào bến
giác vô ngã là không ta. Chánh pháp của Đức Bổn Sư Thế Tôn để lại gồm có ba tạng.
Một tạng kinh, hai tạng luật, ba là tạng luận. Tạng kinh là lời dạy chân chính
phân tích bài vẽ chỉ điểm hư nên chánh tà chân vọng để cho chúng sanh học tu giải
thoát. Tạng lực là các giới điều khinh có trọng có do Đức Bổn Sư Thế Tôn chế ra để cho các đệ tử tứ chúng làm khuôn mẫu,
gìn giữ, hầu dứt các điều ác, làm các điều lành. tránh gây nhân xấu, khỏi hưởng quả khổ ở tương
lai. Giới lực gồm có năm giới, tám giới hoặc sáu
giới trọng hay tám giới khinh của người tu cư sĩ tại gia. 10 giới sa di và tỳ kheo là 250
giới, 348 giới, 10 giới trọng, 48 giới khinh của người tu xuất gia giải thoát.
Tạng luận là những luận lý của tứ chúng đề tử vấn. Đức Phật đáp để làm sáng tỏ chánh
pháp của chư Phật ba đời, chỉ rõ lôi nào đúng, lôi nào sai, vân vân. Giáo pháp
của Đức Như Lai nói trong một đời được phân ra 12 bộ kinh sẽ ví về sau. Vì chúng sinh đa tâm bệnh nên thuốc của
Phật ra có nhiều phương. Thế nên trong kinh giáo phân ra từng bộ từng loại 12
phần để đối trị nghiệp tánh của chúng sanh.
12 loại
[Vỗ tay]
là khế kinh là nói ngay những văn trường hàng trong các kinh ấy. Trùng tụng là nói trùng tiên những
nghĩa trong văn trường hàng các kinh thọ ký là đức Như Lai vì các hàng đệ tử vân vân thọ ký làm
Phật và đà là lời kệ tụng trong các kinh tự thuyết là không ai dám hỏi Phật nhưng
Đức Như Lai xem cơ người đời mà tỏ nói. Nhân duyên là trong các kinh luật
vì nhân duyên thưa hỏi á có người hỏi Phật gì đó thuyết pháp cho
nghe. Bổn sanh là Đức Phật nói cội gốc tu hành của các Bồ Tát. Những cái việc từng làm như thế nào mới phải phận sự
của các ông Bồ Tát. Bổn sự là Đức Phật nói các đệ tử về thinh văn thuật những việc đời trước cho nghe tức là nói sự tích.
Phương đẳng cũng gọi là phương quản,
nghĩa là các kinh điển Đại thừa, nghĩa nó rộng lớn vô lượng tựa như hư không. Hy hữu là trong các kinh Phật dạy
các việc công đức rất ít có. Thí dụ là Đức Phật vì những người có
tốt, vì những người tối dốt mà thuyết pháp mượn lời nói thí dụ để bày tỏ chân lý.
Luận nghĩa là Đức Phật trả lời những câu người hỏi rộng giải các nghĩa. Vậy
thì pháp lý là phương tiện Phật thuyết minh để phá mê khai ngộ cho chúng sinh chứ pháp không phải thật
ta. Thật có của ta vạn pháp trong cõi đời này cũng thế, không có chủ
thể. Cho nên chi? Đức Phật ngài đã nói, ngài thuyết pháp trong 49 năm mà
thật ra không có thuyết pháp gì hết.
Đó, quán pháp vô ngã vốn không thật có để xa rời các vọng dẹp chấp, mê lầm
huyển hoặc an tâm trong nguồn đạo và sẽ dứt khổ vì pháp. Kinh có câu: "Páp lành
khởi vốn xưa là quyển, nghiệp giữ gây cũng quyển mà ra.
Mình bọt đậu gió lòng hoa không căn không thật pháp là quyển thôi. Câu pháp
là pháp vốn xưa không pháp. Không pháp mà cũng pháp đó đây soi ra không pháp buổi nay. Pháp nào pháp nấy nào hai pháp
nào. Tóm lại tứ niệm xứ là một pháp môn hỗ trợ cho người hành đạo bồ đề một cách
vững chắc. Là bốn tựa đời mà người tu học Phật phải nắm bắt để lần đến cảnh
niết bàn vô thượng. Vậy tứ niệm xứ là bốn xứ sở là nhân sanh tín hạnh nguyện của người hành đạo, chánh đẳng chánh giác.
Nên kệ rằng
tư niệm là xứ an lành,
người tu học Phật tâm thành chiếu soi.
Thân thọ tâm pháp hẳn hồi,
trụ nơi bốn cửa đặng soi sửa mình.
Vọng thường năng quán bạch minh,
đoạn trừ nghiệp chướng, hằng gìn lý chă.
đó. Đó là nói về Tứ à
[âm nhạc]
[Vỗ tay]
ờ đó là là nói về bốn pháp quán.
[Vỗ tay]
Ở đây tiếp tục nói về tứ chánh cần. Vậy thì tứ chánh cần là gì?
Tứ là bốn cần là cần mẫn, chuyên cần siêng năng, tinh tiến tứ danh cần là bốn điều
chân chính cần làm để được dứt hậu quả khổ đau, được an lạc giải thoát ra khỏi cảnh trầm luân đài đó.
Tứ chính cần là cần dứt đi những ý nghĩ ác trong tâm, dầu lớn hoặc nhỏ khi chưa
phát sanh ra ngoài thân tướng. Cần dứt đi những việc làm ác do thân tướng đang hành động dầu lớn hoặc
nhỏ. Cần phát triển những ý nghĩ thiện trong tâm dầu lớn hay nhỏ khi chưa phát sanh ra ngoài giả tướng. Cần phát triển
những việc thiện đang hành động trong dạ tướng.
dầu lớn hay nhỏ. Bốn điều cần được đút kết
lại thành hai câu thành hai cột chính như sau. Cột thứ nhất, dứt đi những ý
nghĩ ác trong tâm khi chưa phát sanh ra ngoài hành động. Tức là diệt ngay cái nhân ác dầu lớn hay nhỏ. Nếu gọi nô na
theo thế gian thường tình là diệt từ trong trứng nước, chẳng để hóa sanh lăn quăng và mũi. Trong nước sanh ra trứng như nhân,
lăn quăng và mũi là quả.
Cái ý con người nó sẽ sanh ra hành động ác và sẽ hưởng quả ác là đau khổ đọa đài.
Ý nghĩ ác dụ như nghĩ giết vật bằng cách đặt bẫy gầy chông, bắt thú rừng văng chài bủa lưới, bắt cá trạnh dưới sông,
bài mưu kế giết hại, phá hoại tài sản, sinh mạng của người vân vân.
Dứt ý nghĩ ác bằng cách phải phát triển ý nghĩ thiện trong tâm. Dầu lớn hay nhỏ
lại cũng ví như gieo đậu dày bón phân kịp thời, cây đậu tốt xe lá mịt cỏ, cây
cỏ chẳng mọc được. Nói đến cái ý là quan trọng là nhân sanh vạn pháp vạn hạnh.
Nơi đây xin dẫn chứng trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa về phẩm tựa có đoạn nói như
sau. Về đời quá khứ có Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai khi chưa xuất gia thành đạo có tám vị vương tử
là một hữu ý, hai thiện ý, ba vô lượng ý, bốn bũ ý, năm tăng ý, sáu trừ nghĩ ý,
bảy hướng ý, tám là pháp ý.
Tám vị vương tử nghe vua cha xuất gia chứng đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác đều bỏ ngôi vua cũng xuất gia theo.
Sau khi Đức Phật Nhật Nguyệt văn minh nhập Niết bàn, tám vị vương tử đều theo học nơi ngài Diệu Quang Bồ Tát đều được
thành Phật đạo, vị thành sao chót, hiệu là đăng. Phần này đại lược đức Thế Tôn dạy có ba yếu lý căn bản.
Đức Nhật Nguyệt Đăng Minh khi chưa xuất gia thành đạo làm vua có tám vị vương tử là chỉ cho tâm vương của mỗi chúng sanh
đều do sẵn tám cái ý này. Và phụ dương của tám vị vương tử đi tu thành Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh là sau khi
đắc đạo bồ đời đều có trí huệ sáng suốt như đèn trời là mặt nhật mặt nguyệt phá tan sự hôn ám nơi cõi thế gian khổ
lụy. Tám vị vương tử đều học nơi Bồ Tát Diệu Quang là ý rằng chỉ người muốn cầu đạo giải
thoát là phải nương nơi trí huệ vô ngại tự tại mà thành mới tránh khỏi sai
lầm. Sở dới vì sao? Vì Diệu Quan Bồ Tát là chỉ cho người có trí huệ rộng lớn,
sáng suốt, huyền diệu, thanh tịnh, tự tại. Tám vị dương tử xuất gia là chỉ đầu
tiên con người có cái ý muốn xuất gia là hữu ý. Xuất gia rồi là phải hình thiện là thiện ý. Hành thiện là phải mở lòng
rộng lớn, quảng đại vô biên là vô lượng ý. Tâm hồn có quảng đại vô lượng mới liễu ngộ được Phật tánh nhiệm màu quý
báo là bủ ý. Có thấy được Phật tánh quý báo mới tin tiếng hành trì mật pháp vô
vi tịnh diệu là tăng ý. Có tăng trưởng ý chí thành tựu công năng hành đạo mới dứt
hẳn lưới nghi phân dân lưỡng lự mà kiên cố trong nguồn đạo là trừ nghi ý.
Có dứt hẳn lưới nghi mới một lòng một dạ trực chỉ đến nẻo bồ đời là hướng ý. Có
nhất tâm trực chỉ đến nẻo bồ đời, đắc nhập tâm pháp vô sanh. Viên dung xử lý có không xa rờ bốn tướng. Hiểu biết
chính xác ý năng sanh vạn pháp vạn pháp đều từ ý mà ra. Là pháp ý. Lại
nữa. Pháp ý xuất gia thành đạo hiệu là nhiên đăng. Ý nghĩa như người hành đạo,
sau khi đã hiểu biết chính xác ý năng sanh vạn pháp, vạn pháp đều từ ý mà ra,
bèn an trụ thần trí trong bổn tâm diệu giác chân không, hiển minh được tánh giác sáng suốt như nhiên bất động làên
đăng. Tóm lại, cái ý con người rất quan trọng trong lẽ hành đạo bồ đề nên chi?
Phật dạy trong Diệu Pháp Liên Hoa tám vị vương tử là tượng trưng cái ý hướng thượng, phải trải qua tám giai đoạn mới
viên thành Phật quả và trở nên bậc toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ.
Nên kệ rằng
Con người cái ý vốn hai,
khi mừng khi giận, đổi thay không lường.
Vội vàng khi ghét khi thương,
khi vui vui ngất, khi buồn buồn hiu.
Ai ơi phải nhớ mấy điều,
năng sanh vạn pháp đọa siêu tại mình.
Hung hiền đôi lẽ phân minh,
quần chơn lìa vọng trường sinh muôn đời.
Cột thứ hai, cần dứt đi những việc làm ác do thân tướng đang hành động dầu lớn hay nhỏ.
Hành động ác như làm việc sát sanh, trộm cấp, tài dâm, nói láo, khoe khoan, đâm thập, đủa
chửi, cờ bạc, rượu chè, say xưa vân vân.
Muốn dứt đi những hành động ác, dầu lớn hay nhỏ, cần phát triển hành động thiện mãnh liệt như bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh thấn, thiền định, trí huệ.
Hành giả do dứ tâm an trụ nơi đây, cảm thấy thích thú, mừng dứt được các tà niệm, đồng thời phát triển được các chánh niệm.
Vậy thì tứ chánh cần là bốn điều căn bản mà Đức Bổn Sư Thế Tôn đã chỉ rõ cho tứ
chúng cần phải tật hành để được an lạc và dứt khỏi khổ đau. Tứ Chánh Cần này rút lại nội dung
đồng nghĩa với chư Phật ba đời là nhiếp luật nghi giới tránh các điều ác. Nhiếp
thiện pháp giới làm các điều lành nhiêu ích hữu tình giới làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Thế thì muốn tránh diệt ác thầ phải giữ giới luật oai nghi cho chỉnh túc. Muốn làm các điều lành phải gìn tâm chánh
thiện. Muốn làm lợi ích cho chúng sanh rồi phải từ bi hỷ xả. Thế thường đa số người chỉ cần nhắm
vào chỗ thiện lớn hoặc ác lớn, không cần quan tâm đến ác nhỏ hoặc thiện nhỏ.
Và chính vì chỗ không quan tâm đó nên không coi nó như là cái mầm, cái hạt giống. Nó là nhân tố sanh ra các nghiệp
duên siêu đoạn. Nhưng chúng ta thử nghĩ có bao giờ cây đại thọ không nhỏ mà tự hiện ra lớn
chăng? Chắc hẳn là không. Mà nếu ai đó cho rằng có thì đó là loại cây đại thọ vẽ
trên bảng, trên lụa hoặc trên giấy, trên tường mà thôi. Căn cứ vào quy luật quân tập của
ngũ uẩn trong thập nhị nhân duyên là việc ắc lớn nếu có là do nó đã tích tụ những việc nhỏ lâu ngày là việc thiện
lớn nếu có do nó đã tích tụ những việc thiệt nhỏ lâu ngày. người hình đạo. Nếu không cần dứt
những việc ác nhỏ cũng như không cần làm việc thiện nhỏ, ngược lại bảo rằng chỉ
cần hành pháp lớn tại đây là người thiếu kiến thức, thiếu tư duy nhiên hậu, không thể thành tựu đạo quả bồ đề tối thượng.
Sự dĩ vì sao?
Vì người cần hành pháp lớn mà bỏ pháp nhỏ, tức là chỉ làm việc ngọn, bỏ gốc
rất giả tạm, phí công vô ích. Lại cũng ví như cây độc, mé nhánh
chặt ngọn thì nó cứ tiếp tục đâm tược không ngừng. Hoặc như cây lành quả tốt mà chẳng săn sóc, dung phân tứ nước từ
bội đầu thì không thể phát triển thành đại thọ sanh qua kết quả sớm.
Điều này hiện tại thì cũng rất nhiều người lầm lẫn chỉ cần tu pháp lớn, không cần tu pháp nhỏ đó và chê chê pháp nhỏ,
chối bỏ pháp nhỏ đó. Đây là một điều rất là sai lầm đó.
Chỉ cần hành pháp lớn, tu pháp lớn, nó đi đến cống cao ngã mạn lớn rồi thành ma
lớn mà thôi. Tóm lại, nơi tâm có người hành đạo chưa phát sanh việc ác hoặc đã
sanh ra rồi và thân đang hành động việc ác thời nên ngưng dứt, chận đứng nó lại cả trong l ngoài để sau này không còn
tạo tác ác nghiệp đọa lạc trong tam đồ khổ.
Và việc thiện nơi tâm chưa sanh hoặc đã sanh ra rồi và thân đang hành động thì càng phát triển liên tục thêm lên. Vậy
ai cũng nên thực hành Tứ Chánh Cần để được tăng trưởng phúc huệ viên mãn bồ đề hạnh nguyện.
Kệ rằng
từ bi đạo Phật vốn xưa nay
tứ chánh cần năng quý hóa thai.
Thiền giác đưa người qua bể ải
gom linh diệt lậu kiến liên đài.
Tiếp tục là như ý
túc. Như vậy thì hành tứ như ý túc là gì?
Tứ như ý túc là tứ là bốn như ý là như lòng mong
cầu, túc là đủ. Nghĩa là bốn điều như lòng mong cầu được đầy
đủ. Như vậy thì bốn điều mong cầu được đầy đủ là sao? Nghĩa là bốn điều như lòng mong cầu
được đầy đủ. Nói cách khác, trong bốn điều ý biết đủ vừa đủ theo lối trung
1:34:001 hour, 34 minutesđạo, không thấy quá, không bất cập là sẽ được an nhiên tự tại như lòng mong cầu.
Đồng nghĩa với câu tri túc thủ thường của thánh hiền đã dạy. Tứ nhi ý túc
là dục, tấn, nhất tâm và quán đó.
[Vỗ tay]
Dục là muốn thế gian phàm tình là mong muốn giàu sang hyền
quý, ham muốn danh lợi, sắc tài, ham muốn tình yêu, ngũ nghỉ, ăn uống vân
vân. Ham muốn cho thọ thích tâm phàm dục vọng, đôi khi gây ra tội lỗi quấy ác.
xâm phạm đến quyền lợi sự sống còn của kẻ khác, của chúng sanh chung mà không hai. Có khi cũng hay biết là tội lỗi mà
vì nhu cầu tột độ. Lòng tham lam ích kỷ lòng lộn, che lấp sự sáng suốt của trí
tuệ thành ra làm càn, từ chỗ đó nó sẽ sanh ra muôn ngàn chuyện rối khổ. Cổ nhân có câu: "Ham vui một phút,
chịu sầu ngàn năm.
Thí dụ vì ham danh như vua Diệu Trang Vương, nghĩ đến quyền thế mà không nghĩ đến tình máu mẫu, thẳng tay ra lệnh đàn áp công chúa Diệu Thiện là con của mình,
đánh đổi phải chịu quả báo làm bò. Người Phật tử nghe kể qua mâu chuyện cần đến suy gẫm.
Trong sự mong muốn vật chất trần đời,
sai lầm đưa đến đọa khổ. Là người tăng ni, là Phật tử, là người biết tu niệm, ta đổi cái
mong muốn vật chất trở lại thành tinh thần.
Thay vì mong muốn vui thú sắc thịt, bây giờ phải đi ngược lại, mong muốn làm sao
cho tinh thần nhẹ nhàng giải thoát thanh cao. Và phải hiểu sự nhẹ nhàng giải thoát không thể có nơi ngôi cao lộc cả,
giàu sang hyền quý, tài cao học rộng. Kìa ta xem gương xưa các vị vua
chúa quan hyền phú quý vẫn phải đau khổ tinh thần.
Tinh thần là chủ động trên mọi hình thức sinh hoạt trong đạo lẫn ngoài đời. Do vậy, ta phải diệt lòng ham muốn ích kỷ,
tư lợi cá nhân, đổi lại ham muốn đạo lý thanh cao, nhẹ nhàng giải thoát vừa làm lợi
ích cho người và cho mình. Tinh thần ví như tài xế lái xe,
một chiếc xe kia máy đang nổ mà không có tài xế nhấn ga thì xe chẳng thể chạy được.
1:37:001 hour, 37 minutesChiếc xe dụ cho sắc phàm có đủ ngũ tạng lục phủ, phổi thở tim đập điều mà chẳng có hồn linh chủ động điều khiển. Thời cả
xác như ngủ như mê chẳng ai biết gì cả. Thế thì cái muốn đúng đắng, cái muốn
ngay thẳng chân thật, vừa đủ biết đủ là điều mà ta rất cần tiến đến quả vị tối
thượng. Thứ hai là tấn. Tấn là gì? tấn là tiến tới. Chúng sanh phàm phu trên
đường tu học nhìn lại trong thời quá khứ vô minh đã gieo tạo chẳng biết bao nhiêu
là ác nghiệp, trái duên, nghịch cảnh. Nay tu hành, quan gia trái chủ
liền đến đòi hỏi, gây sự khó khăn, bê trễ, hôn trầm, giải đãi, làm nghịch ý
lòng, khó mà tiến tới đạo quả giải thoát.
Sở dĩ vì sao người biết tu hành niệm Phật mà phải trả quả nghiệp như thế? Đáp rằng: "Bởi vì người biết niệm
Phật tụng kinh thì một mặt nhờ luận điện quang, nhờ luồng điện quang của chư Phật rội đến. Một mặt tâm linh tịnh định, hơi
thở điều hòa nhẹ nhàng, tích tụ khí dương, tăng thêm năng lượng nhiệt độ trong người, làm cho các hồn âm khó thở bực bội mới ứng lên quậy phá.
Dụ như nước sông khi trời chuyển mưa,
khí âm sông lên mạnh làm ảnh hưởng chất nước biến thể thành nóng ấm. Cá với đáy bị ngột hơi phải trường lên mặt để thở.
Nên thường thường người xưa nói trời chỉ mưa mà muốn biết mưa hay không xem dưới
hồ ao sông rạch mà cá lên góp nước nhiều là chắc chắn mưa. Điều này ai không tin theo dõi sẽ rõ.
Bao tử con người là đại nghĩa địa. Các hồn linh loài vật nổi lên sâm phá làm
cho người tu khó trì trí đắc đạo. Đó thì quý vị phải biết cái bao tử con người là một cái đại nghĩa địa.
nhiều đời nhiều kiếp ăn thịt chúng sinh biết bao nhiêu thịt chúng sinh đã ăn nằm trong cái bao tử của ta thì đương
nhiên hồn linh của chúng cũng sẽ nhập vào bao tử vào con người của ta mà chúng ở và khi chúng ta tu thì chúng nổi lên
xâm phá đó là như thế chứ chẳng có gì lạ cả vậy thì người đã giác ngộ chấp nhận
tu hành là phải chấp nhận sự khó khăn gian khổ phải năng cần mẫn tiến tới. Đừng vì nghiệp chướng quỷ ma tinh tà quấy phá.
Đừng vì ham mê ngũ dục sắc lợi danh tiền tài quyến rũ mà thối chí nản lòng trên
đường đạo nghiệp. Nhưng trong sự tiến tới phải
biết vừa đủ với khả năng của mình. Đừng thái hóa mà sanh ra bất cập. Phải từng bước thắng phục tâm phàm. từng ý niệm,
từng giờ, từng phút chống đối tà vọng tâm loạn, thời sẽ được tiến đạo và đắc đạo.
[Vỗ tay]
À tiến chỗ này là cũng phải bình thản trung dung, không nên thái hóa bất cập. Có nghĩa là không ép
xát nghĩa là thái hóa mà cũng không nuôi dưỡng cái xác cho mập phì. đó phải giữ
trung dung mà thôi. Điều thứ ba là nhất tâm là tâm
niệm vào một chỗ chẳng dời. Bởi chúng sanh phàm phu tâm dễ giấy động. Nào sắc
tốt nào vọng hai thanh tao im dịu điệu nhạc du dương bỗng trầm quyến rũ.
làm cho con người mất cả ý chí, tinh thần cương nghị, mất đi sự sáng suốt, phân biệt trắng đen, phải
quấy hư nên mà mãi mãi đắm chìm trong tội lỗi đọ
đài. Như thở xưa, ông Triệu Khô dẫn một buổi xem tuồng hát khúc đơn hùng tín quê
đao đâm đường thế dân, quốc trì cung chưa xuất hiện.
Cứ giá. Lúc khẩn cấp, Triệu Khung dẫn vội vàng dương cung, lấy tên nhắm ngay đơn
hùng tính buông ra, nhầm chết hầu, đơn hùng tính chết tốt, khuôn dẫn giật mình tỉnh lại mới
hai. Đây chỉ là tuồng hát đơn hùng tính giả.
Đó, quý vị phải biết Triệu Khung dẫn xưa là bậc chân mạng đế vương.
Tinh thần y lực rất đầy
[Vỗ tay]
đủ. Đứng trước cảnh ngộ nhất thời chẳng còn kịp suy nghĩ đến đổi, phải phạm tội
giết người vô cớ. Và trong tích Phật thở xưa 500 vị tiên nhơ đang đằn dâng trên mây ngang sang vua nghe các cung nga mỹ nữ hát,
bèn động tâm dứt mất thần thông. Rớt xuống sân đền. bị vua bắt tội, lén xem
nghe múa hát, phạm chặt tay chân răng chúng. Các vị tiên còn bị hư hoại tâm
đạo khi nghe những giọng kèn tiếng huyển sắc tốt lời im. Người tăng ni Phật tử, xuất gia hoặc
tại gia tu học, mong cầu đạo quả tối thượng, cần tránh những chỗ đờn ca hắt sướng giọng điệu tình tứ yêu đương.
Vì các lẽ ấy nó dễ làm lung lạc, tinh thần mà thối
đạo. Ngược lại phải nhất tâm hành trì giới luật tịnh hạnh trang nghiêm, kiểm
soát ý niệm từng giờ, từng phút từng giây. Chuyển mê khai ngộ, gạt bỏ diệt
đời, chí thành học đạo. Có như vậy mới mau đến nẻo bồ đề Phật quả.
Điều quan trọng nên lưu ý là nhất tâm trong lẽ an nhiên, tự nhiên thanh tịnh của trung đạo bình đẳng đầy đủ cái thấy
nghe hiểu biết thường còn chứ không có nghĩa là nhất
tâm mà dứt mất các cái thấy nghe. Điều thứ tư là
quán. Quán là gì? Quán là suy xét xem coi là quan sát. Phàm là một chúng sanh trong cõi đời,
trong xã hội có muôn ngàn việc đem đến trước mắt. Tốt có, xấu có, hư có, nên có, phải quấy đều
có. Vậy khi thấy nghe điều gì cần phải xem xét cho thật tận tường minh bạch,
chới vội làm càng mà tai hại về sau.
Cũng như khi nghe một vị tăng, một vị ni hoặc giả một người Phật tử nào à nói lên
một cái điều gì đó thì chúng ta cũng phải cần quán sát cho
chính chứ đừng dội tin lời. Nếu dội tin lời là sẽ bị lâm vào
những cái cảnh là à đôi chối vân
vân. Về quán khác có hai cách là phàm phu quán và thánh
quán. Phàm phu quán là suy xét nhân duyên theo cảnh sắc trần.
Cảnh thì có sanh có diệt. Do đó người quán sét mà chấp trụ vào cái hiểu biết
cũng sanh diệt. Bởi vậy do học kinh điển quán xét suy gẫm mà sáng suốt được gọi là Văn Huệ.
Và tư huệ này phải theo thời gian biến đổi của định lực vô thường chi phối. Nói
như ảo ảnh giải dối mà thôi. Phàm phu quán còn phân làm hai
loại là tà quán và chánh quán. Tà quán là suy xét theo lối tà
kiến, thiên kiến, biên kiến, đoạn kiến và bảo thủ theo lối tư duy, tà ngữ, tà nghiệp. Tà mạn, tà tinh tấn, tà niệm và
tà định. Chánh quán là suy xét theo bát chánh đạo, chánh tín, dứt trừ tam sân si vọng loạn, đi thẳng con đường trung đạo,
chánh đẳng chánh giác. Thánh quán. Nói về thánh quán, tức
là được bổn sư Thế Tôn lại cũng dạy phân thành hai bậc.
Bậc thanh văn viên giác dạy dày bốn pháp. Quán vềy pháp khổ, quán vềy pháp
không, quán về pháp vô thường, quán về pháp vô ngã. Bậc Bồ Tát dạy về bốn pháp.
Bốn pháp quán vềy pháp thường, quán về pháp lạc, quán về pháp ngã và quán về pháp tịnh.
Đó tứ thánh quán có nhị thừa một quán về pháp khổ cõi đời là một
bể khổ chúng sanh đang chìm đắm chơi dơi. Khổ được chia ra làm ba phần khổ khổ hoại khổ hành khổ.
Khổ hoại hành gồm có tám điều đại khái mà tất cả ai trong cõi đời này đều dắp phải chẳng tránh khỏi. Đó là một sanh
khổ, hai già khổ, ba bệnh khổ, bốn chết khổ, năm thương yêu sa lìa khổ, sáu thù quán gặp gỡ khổ, bảy cầu bất đắc khổ,
tám ngũ uẩn thành chúng sanh khổ.
Một sanh khổ có hai lẽ. A sanh là sanh ra khỏi lòng mẹ và
sống trong cõi đời gặp nhiều trai trái ngang đau khổ. B. Sanh tâm vọng chấp vật chất tiền tài, làm cho chân tánh phải đò khổ.
Hai già khổ là già nua lụm cụm mắt mờ tai điếc răng rụng lưng khồm da dùng gối mỏi chẳng còn mạnh dạng như thở trẻ
trung rất khổ ba bệnh khổ là có thân thì phải có bệnh bệnh thì đau nhức tức tối ăn uống chẳng được rất
khổ bốn chết khổ chết mất khắc phàm dư bá để lại người thân như vợ chồng con
cháu ông bà cha mẹ tài Ngọc ngà châu báo phải tiếc rẽ khổ tâm vì nếu nghiệp duyên làm ác phải đọ địa ngục ngạ quỷ súc sanh
rất khổ. Năm thương yêu xa lìa khổ sống trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Tình thương là lẽ sống của con người đối với vạn hữu. Tất cả dầu người hay vật,
động sản hay bất động sản đều nằm trong quy luật biến vi. Chẳng có một cuộc họp nào không tan, chẳng có một buổi tiệc
nào không tàn. Gần gũi rồi cách biệt thiệp rồi ly, hợp là vui là mừng. Ly là đau buồn khổ
sở. Thù quán gặp gỡ khổ là chúng sanh có thương yêu, mong gần gũi, thù hận lại cố
tránh xa. Nhưng tạo hóa lại trớ triêu thai, khéo sắp bài nghịch cảnh. Cần mong
xa lại gần, cần phân ly lại hiệp. Chẳng muốn gặp gỡ kẻ thù hận, lại gặp hoài nên
mỗi khi gặp nghe xốn sang tất dạ, mặt mài như sượng sùng khó chịu, hai chân bước lỏng thỏng chẳng được bình thường
nên thù quán gặp nhau rất khổ. Bãi cầu bất cầu chẳng được khổ, chúng sanh phàm tâm túi tham không đái,
đựng hoài chẳng đủ. Ham muốn một điều,
nhưng đôi khi lòng ham muốn quá lớn mà phước đức.
Phước đức sức chở lại nhỏ. Do vậy sự ham muốn có khi cách khoảng quá tầm tay mà không thể nào nắm
bắt toại nguyện được. Cầu muốn chẳng được phải buồn khổ. Tám ngũ uẩn thành chúng sanh khổ.
Khổ là sắc thân mập hoặc là con người đa sắc dục ham muốn sắc dục quá.
Thọ nhận nhiều quá, tưởng tượng dồi giào quá, hành là làm việc liên miên hoặc tâm phàm, luôn hành động rung chuyển theo
lục trần, thiếu định trụ. Thức là hiểu biết hóa độ, duên vọng lìa chơn. Nghĩa
là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thạnh hóa là chúng sanh phải khổ. Quán dạy pháp không. Không là
gì? Và cái gì gọi là không? Thế gian vặn hữu đều không. Nghĩa là trên cõi đời này
tất cả những gì mà chúng sanh mê chấp cái có nó thể đều là không. Như là gia đình, cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái,
của cải, tài sản vân vân. Khi sanh ra hai bàn tay trắng lúc chết trắng tay cõi thế gian là quán trọ qua đường. Nghĩ
trong đêm tối sáng đến phải bỏ mà đi của cải quán trọ để lại cho người khác hưởng
xài từ không đến rồi quần về không. Dụ như điện sáng trong bóng đèn rồi biến
dạng chẳng hề để lại một hình ảnh gì. Đó là nói về pháp không
quán. Quán về pháp vô thường. Vô là không. thường là hằng còn, vô thường là
không hằng còn trong một trạng thái, một sự việc, dụ như người từ tin cha quyết mẹ mà cấu tạo thành hình, sanh ra trẻ
nhỏ lớn lên già rồi chết mắt. Cây cối cọ có xanh lá rồi vàng úa rụng
rơi. Nước sông có rồng có lớn, thời tiết có mưa, có nắng có gió sương luôn thay
đổi. Bàn ghế mới đóng chắc chắn xài lâu rồi hư mục. Người làm dân tiến lên làm
quan rồi hồi hưu mất chức. Có người có lúc nghèo nàng sát sơ khi giàu có dư giả.
bằng nói về tâm ý con người cũng thay đổi liên hồi. Lúc vui lúc buồn khi mừng khi giận,
khi siêng năng lúc giải đãi, lúc tỉnh táo sáng suốt lúc mây muội hôn trầm vạn
vật chúng sanh và các pháp có hình có sắc. Tính tâm ý vô hình do sắc của chúng
sanh phàm phu đều theo định luật vô thường sanh trụ vị diệt sanh như là mới
tạo ra sự vật trụ như là đứng dững cứng chắc vị như là hư yếu băng hoại diệt như
là một nát tiêu mất đó là nói về pháp vô thường
quán quán về pháp vô ngã vô là không ngã là ta vô ngã tức là không ta. Thế gian
này từ vật chất đến hữu hình cho đến vạn sự vô vạn vô đều là không ta không có
ta. Sở dĩ vì sao? Vì nếu là có ta tức là ta phải làm chủ được nó. Dụ như sắc thân
phàm phu này nó già nó bệnh, ta muốn nó trẻ khỏe hoài. Bàn ghế tủ dáng cây cối,
ta muốn nó chắc chắn tốt đẹp mãi chẳng mục hư nát tiêu hoại. Tất cả các pháp thế gian vạn hữu và tất cả các pháp vạn vô.
Ta có làm chủ nó, bảo nó đứng dững vàng theo ý muốn được không? Không. Không bao giờ đứng dững.
không bao giờ bất sanh bất diệt. Và nếu đã như thế thì tất cả đều là vô ngã không ta, không phải của
ta. Chúng sinh mê làm trong vọng giả đảo điên cuồng loạn, nhận giặt làm con, nhận vọng làm chơn nên đời đời sanh tử luân
hồi khổ sở. Trong ngôn có câu vọng chấp mê lầm sanh rối khổ, lìa tham dứt nhiễm
hiển an nhàn. Đời sống vật chất thế gian là giả, kể cả tâm thức phàm phu của mỗi người cũng chẳng phải là thật.
Do vậy, vì lòng từ bi chơn thiệt, buổi đầu tiên thái tử đi dạo bốn cửa thành,
thấy nghe hiểu được cõi đời là giả tạo, chỉ có tu là con đường đi đến giật khổ.
Thế rồi ngài thoát ly gia đình, bỏ lại cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh,
giữa đêm khuya vào rừng cắt tóc tham thiền nhập định, tu hành mong đạt được chân lý. Lẽ thật của cuộc đời hầu tự
mình dứt khổ và độ chúng sanh thoát khổ. Nguyện vọng ấy của thái tử Tất Đạt Đa đã thành tựu viên mãn được Đức Phật
quá khứ là nhiên đăng cổ Phật ấn triền cho pháp hiệu là Thích Ca Như Lai. Đức
Thích Ca Như Lai khi còn là thái tử do chỗ đi dạo bốn cửa thành sự khổ và con đường đưa đến dứt khổ.
Pháp luân đầu tiên ngài dạy là Tứ Diệu Đế chỉ rõ cõi đời này là một bể khổ bến
mê vạn vật. Thảy điều quần không vô thường biến đổi, chuyển say không có ta,
không có chủ.
Sau khi chúng sanh phàm phu trong đại chúng hiểu rõ chắc thật rằng cõi đời này
là giả tạo, ngài mới dạy dần dần bỏ cõi đời ô trọc lìa chấp, dứt mê khai ngộ
phát tâm bồ tát khai thông chánh pháp nhãn tạng là có được cái thấy bao gồm vạn vật và các pháp. Với tánh thấy ấy
không thêm không bớt, không sanh không diệt đồng với hư không vũ trụ. Lúc bấy giờ ngài dạy thật hành bốn pháp quán của
Bồ Tát Đại thừa là thường lạc ngã tịnh. Quán pháp thường lạc như thế nào?
Pháp thường như thế nào? Thường là hằng hằng thường hằng còn thường thường bình thường thường còn đứng dững chẳng hề hư
hoại diệt sanh. Quán pháp lạc là như thế nào? Lạc là vui. Cái vui hằng vui mãi mãi, bất sanh bất diệt chẳng rời. Quán
pháp ngã là như thế nào? Ngã là ta, là chân tâm, thật tướng, vô hình, vô diệt.
Quán pháp tịnh là như thế nào? Tịnh là yên lặng, trong sáng, là trong sạch,
chẳng hề dính dơ hay thay đổi chuyển say.
Nghĩa là Đức Thế Tôn dạy hàng đại trí sau khi đã đắc chánh pháp nhãn tạng phải vận dụng trí huệ hồi quan phản chiếu
hành pháp nội tâm vô vi xên suốt bốn pháp. Tự tánh là tự tánh là chân không
chơn thường tự tánh là chơn lạc. Tự tánh là chơn ngã tự tánh là chơn tịnh.
Hàng Bồ Tát là an trụ tâm nơi tự tánh thể hiện qua bốn đức thường lạc, ngã tịnh để tùy duên hóa độ chúng sanh, tiến
đến quả vị vô thượng bồ đề. Thế thì đức thế tôn thích ca Như Lai dạy hằng tiểu căn khổ không, vô thường
vô ngã dạy hằng đại trí thường lạc ngã tịnh.
Người tu hành theo đạo Phật có hiểu rõ cõi đời này là khổ, là không, là vô thường, là vô ngã. Có dứt rời hẳn mới đắc được các pháp thiền như sơ thiền,
nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, ngũ thiền. Không vô biên xứ định, tức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ định, phi
tưởng phi phi tưởng xứ định. Có qua khỏi chính cảnh định này mới đắc an lạc định là hữu dư niết bàn của A La Hán. giải
đắc diệt tận định vô dư niết bàn của duên giác. Đồng thời ly hẳn các sở chấp mới ngộ đặng chánh pháp của Bồ Tát. Tiến
lên hành pháp thiền tự tánh xuyên suốt bốn pháp thường lạc ngã tịnh đắc tâm pháp chân thường chân lạc chân ngã chân
tịnh. Đó là vô thượng đại niết bàn của Như Lai.
Cái ranh giới chính pháp thiền và hữu dư niết bàn, vô dư niết bàn Phật gọi là thiền của cõi thiên và nhị thừa.
chưa duyên thành tự tánh nhưng Bồ Tát Đại thừa
tuy chưa duyên hành tự tánh như Bồ Tát Đại thừa song hàng nhị thừa theo lời Phật dạy cũng là hàng A La Hán thánh viên giác thánh đã hành qua tứ niệm xứ,
tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực thất bồ đề phần, bát chánh đạo Phật.
Có người hỏi, "Còn phàm phu mà phát tâm đại thừa để hóa độ chúng sinh là hạnh nguyện của Bồ Tát?" Câu nói này đúng,
song là đúng theo quan niệm phàm phu chứ cho đúng theo quan niệm thánh triết.
Bằng chứng cụ thể là trong kinh Thủ Lăng Nghiêm như sau. Khi Đức Bổn Sư cứu ông A
Nan về tịnh xá do bị nạn Ma Đăng Già nữ bắt. Phật hỏi do đâu ông dứt bỏ ngôi nhà
thế tục mà theo ta tu học? Đại đức A Nan trả lời: Do chỗ thấy kim thân của Phật
sáng chói quang minh có đủ 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp mà tu. Vì ông tự nghĩ rằng với
tướng tốt của Phật do xa rời ái dục mà có. Bởi ái dục là ô quế xấu xa, đê tiện,
chẳng thể sanh ra tướng ấy được. Và sau khi sai khai thị tâm pháp, Phật hiển minh tánh thấy bất sanh bất diệt cho đại
2:00:002 hourschúng và A Nan tự ngộ lấy. Tuy đại đức A Nan đã ngộ tánh thấy bất sanh bất diệt,
2:00:062 hours, 6 secondsngài cũng nhận rằng mình còn phàm phu vì chưa chứng quả chánh giác toàn hoàn toàn. Song vì lòng từ muốn cứu đời phải
2:00:152 hours, 15 secondshỏi Phật nguyên văn như sau. Ngài A Nan từ chấu đại chúng đứng dậy sửa y phục chỉnh tề rồi hiệp chưởng
2:00:232 hours, 23 secondslại Phật. Tâm địa sáng suốt vừa buồn vừa vui và muốn chánh pháp Như Lai lợi lạc cho tất cả chúng sanh ở đời sau.
2:00:352 hours, 35 secondsNhưng cúi đầu bạch Phật, bạch Đức Thế Tôn, đại bi tỏ ngộ pháp môn thành Phật
2:00:422 hours, 42 secondsđể tu hành không còn nghi chấp nữa. Tôi thường nghe đức thế tôn dạy tự mình chứa đắc đạo, nhưng biết quá độ người, đó là
2:00:512 hours, 51 secondschỗ phát tâm tu hạnh dạy Bồ Tát. Như phần tử giác đã vông tròn, hằng lấy lòng
2:00:572 hours, 57 secondstừ bi giác tha, đó là hoài bảo xuất thế độ sanh của chư Phật.
Hiện tại tôi còn là bậc hữu học, chưa viên mãn phần tự giác, nhưng tôi nguyện
bảo hộ tất cả chúng sanh chân thật tu hành trong đời mặt kiếp. Bạch Đức Thế Tôn, tôi thương xót
chúng sanh trong thời mạc kiếp xa Phật rất lâu, lại gặp rất đông tà sư ngoại đạo như số cát sông hằng. giảng nói toàn
ma giáo huyễn hoặc nhiễu hại nên các chúng sanh ấy dễ bị sa ngã và khó tu hành viên mãn. Nếu muốn nhiếp tâm vào
cảnh trí chánh định, tôi không biết phải làm thế nào an lập đạo tràng để cứu độ chúng sinh, xa lánh ma giáo và không
thối chuyển đạo bồ đề tâm. Ngưỡng cầu đức thế tôn dạy bảo. Đức Phật bảo A Nan ông thường nghe
ta tiên thiết xử lý tu hành ba diệu nghĩa quyết định ở trong luật tạng. Ba diệu nghĩa ấy như sau. Một nhiếp tâm
thành giới. Hai do giới sanh định. Ba do định phát huệ. Giới định huệ là tam vô
lạo học để cho nhữn. Ai phát tâm bồ đề tu hành trong
sạch cần cầu giải thoát. Tam giới luân hồi sinh tử thống
khổ. Kế Phật dạy đoạn tâm dâm dục, đoạn tâm sát sanh, đoạn tâm trộm cấp, đoạn tâm đại vọng ngữ để cầu giải thoát.
Căn cứ vào kinh Thủ Lăng Nghiêm qua lời A Nan trình bạch, chúng ta nhận thấy rằng ngài A Nan tu quả vị chánh giác
chưa viên mãn, song ngộ pháp tâm, pháp tánh bất sanh bất diệt, chứng quả Bồ Tát
sơ tâm thì ngài đã được mà ngài vẫn khiêm tốn cho rằng mình còn phàm phu.
Cầu Phật chỉ dạy phương pháp nhiếp tâm để vào cảnh trí chánh định.
Có một số ít người thời nay pháp tánh chưa ngộ mà tự nhận tu hạnh Bồ Tát Đại thừa diễn giải còn dâm dục sát sanh,
thực dục trộm cấp vọng ngôn vẫn tu hạnh Bồ Tát vẫn đắc đạo được vân vân. Các
điều này người có ý cần cầu giải thoát nên để tâm suy gẫm hầu xa lánh các lời tà giáo mê hoặc.
Tóm lại, Tứ Như Ý Túc là bốn điều mong muốn đầy đủ như ý nguyện. Có nghĩa muốn
được đầy đủ như lòng mong cầu thờ phải tật hành bốn điều dục, tấn nhất tâm quán một cách đúng đắng. Theo lối trung đạo
bình đẳng ắt có kết quả chẳng sai lại cũng di như muốn cho cái ghế ngồi vững vàng phải đủ bốn chân chắc chắn.
Lại nữa, người hành tứ như ý túc trọn vẹn sẽ hiển minh được tứ thần túc, tức bốn phép thần thông đầy đủ là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông,
túc mạn thông. Cho nên kệ rằng
tứ như ý túc rất oai linh,
hiển đạt thần thông chánh pháp sinh
nên phải nhất tâm và chiên quán
nhãn tạng huyền khai vạn lý minh.
Đó đó là nói về tứ như ý túc.
[Vỗ tay]
Tiếp tục nói về à ngũ căn. Thì ngũ căn là gì? Gồm có tín căn, tấn căn, niệm căn,
định căn và huệ căn. Ngũ căn, ngũ là năm. Căn là cội,
gốc là căn bản của sự việc.
Phàm sự tu thiền sau khi đã quán tứ niệm xứ, hiểu rõ thân là bất tịnh, thọ nhận
sinh tình mà phải khổ, vọng tâm vốn thật chẳng thường còn, các pháp lại không ta.
Không phải thật ta là hư huyển. Từ chỗ đó xét thấy điều tài vọng gian ác cần phải bỏ, lẽ chánh thiện chân như cần
phải làm. Do duên này tiến lên thành tứ trên cần và đạt được đầy đủ bốn điều như
ý. Hiển minh được tứ thần túc là do năm căn bổn, tức là tín, tấn niệm, định huệ.
Tại sao lại do năm căn mà đạt được kết quả các pháp như vậy? Một tính căn. Vì tín là tin, là đức tiny tín, tin tưởng,
tín ngưỡng. Căn là cội gốc. Tất cả vạn pháp trong cõi đời này chữ tính là quan trọng hơn
hết. Vì có tin tưởng ngưỡng mộ mới có thực hành được kết quả. Bằng chúng sanh làm một việc gì mà còn hoài nghi, còn
phân dân lưỡng lự thì thời khó mà đạt thành sự nghiệp.
Thí dụ một em sinh viên nọ muốn học làm bác sĩ mà còn hoài nghi về khả năng của mình và khả năng giáo sư dạy thì khó mà trì trí học hành thành nghiệp bác sĩ.
Vạn môn vạn pháp cũng chính thế. Nên nói trước nhất là đức tín nơi mình phải có
trên việc cần cầu giải thoát. Thứ đến mình phải giữ niềm tin nơi Phật tiên thánh thần, cụ thể là người hướng đạo,
là thầy tổ bằng cách ăn ngay nói thật,
chính xác hành động đúng đắng trong lời nói việc làm, không nói năng bốc xước,
xảo mị, làm việc cẩu thả, thiếu độ lượng nhân từ và cuối cùng phải trung tín.
Nghĩa là trung thành tin tưởng tuyệt đối vào lời Phật dạy là chắc thật, không hề giải dối tà mị.
Hai tấn căn. Tấn là tiến tới, căn là cội. Gốc là căn bản. Nói đến tín là cội gốc của người hành đạo. Giải thoát thời
tấn cũng không thua gì tín. Sở dĩ vì sao?
Vì giải đãi buông lung là nguyên nhân đạo nên cần phải siêng năng, cần mẫn thật hành các pháp lành, xa tránh các
pháp ác, dũng mãnh lướt qua mọi khó khăn chướng ngại, ngăn đường đón ngõ mới đạt được thành công theo lòng nguyện cầu.
Dụ như người kéo xe đừng gì thấy trung hiểm dũng sình mà ngán sợ quay lại chí
công mài sắc có ngày nên kim. Đó là lời người xưa để nhắc nhở. Ba niệm căn. Niệm
là quan niệm là tâm niệm. Niệm tưởng một sự việc đúng đắng. Căn là cội gốc là căn bản.
[Vỗ tay]
Niệm căn là lấy chánh niệm làm căn bản tiến tới đạo quả. Thường niệm Phật pháp tăng, niệm một câu danh ngôn, câu thần
chú hay một danh hiệu của Phật. Niệm số tức là niệm số tức quang điều hòa quan sát theo hơi thở để điều
phục tà niệm, vọng tâm, tạp loạn, tham sân si vân vân.
Người cần cầu giải thoát, thiếu niệm tưởng quán xét cũng khó mà đạt đạo vô thượng. Do vậy, niệm cũng là cõi gốc của
sự thành tựu diệu quả bồ đề. Nhưng có điều là phải tâm niệm, niệm niệm quan
sát nội tâm để đến chỗ vô biệt niệm chứ chẳng phải niệm gian ra tiếng bên ngoài
mà được. Giả lại càng không phải niệm là tưởng tượng vọng tưởng. Kinh có câu dứt
cứu Di Đà vô biệt niệm bất lao đàn dĩ đáo Tây Phương. Bốn định căn. Định là
đứng ngừng an nghĩ. Căn là cội gốc là căn bản. Định căn là lắng ý định thần làm căn bản cho sự tu hành. Khai sanh trí huệ siêu phàm nhập thánh.
Định là định trụ ngưng dứt vọng tưởng,
an tâm trong sự học đạo, cần cầu giải thoát không rời. Dầu cho danh lợi, sắc tài tình cám dỗ, cũng cương quyết một
dạ, một lòng không lùi bước trước thử thách của thiên ma phá hoại. Định cũng còn gọi là quyết định, ấn định, một sự việc mà mình phải thực hiện cho kỳ được.
Định ví như là một giấc ngủ để ổn định tinh thần, lấy lại sức mạnh và tăng thêm sáng suốt. Loạn như là thức suốt đêm dài, thân tâm mỏi mệt, trí huệ lưu mờ.
Vậy nên định căn cũng là rất quan trọng.
Năm là huệ căn, huệ là sáng suốt. Căn là cội gốc, là căn bản, đường tu học vào người xuất gia hoặc tại gia đều cũng
phải nương nơi sự sáng suốt của trí tuệ mà đạt đạo. Dầu đạt được quả vị hiền,
thần thánh tiên Phật cũng đều phải nương nơi trí huệ mà thành. Dầu là quả vị hữu dư niết bàn của A La Hán thánh, vô dư
niết bàn của viên giác thánh, đại niết bàn của Bồ Tát, vô thượng đại niết bàn của Như Lai. Đó đến huệ được phân định
ra ba hạng bậc. Một là văn huệ, hai là tư huệ, ba là tu huệ. Văn Huệ là sự sáng
suốt do học vấn trên văn nghĩa giấy trắng mực đen. Tư huệ là sự sáng suốt do tư duy, suy nghĩ mà hiểu. Tu huệ là sự
sáng suốt do thật tu. thật hành, thật ngộ, thật chứng mà hiểu. Sự sáng suốt
của văn huệ chỉ hiểu biết đến gia thịt của Phật pháp với như y tá chuyên nghiệp. Sự sáng suốt của tư huệ chỉ hủy
biết đến gân xương của Phật pháp với như y sĩ chuyên nghiệp. Sự sáng suốt của tư tu huệ đã đến chỗ tận
[Vỗ tay]
cùng của tỷ não của Phật pháp. Chí như bác sĩ chuyên nghiệp, văn tư tu, chỉ có
tu huệ là xác thực hiểu biết tận nguồn cội của vạn pháp cũng như rõ ràng đâu là tâm chơn, đâu là tâm vọng. Cái gì nội
ma, cái gì ngoại ma, cái gì Phật, cái gì chúng sanh, cái gì tướng, cái gì tánh vân vân.
Người đắc được huệ nhãn tức là tu huệ mới dứt được vô minh thoát lực khỏi dùng luân hồi sanh tử khổ
não. Vậy thì huệ căn như là chìa khóa để khai mở cánh cửa bồ đời rất quan trọng.
Tóm lại, ngũ căn là năm cái gốc tiến đến nẻo bồ đời mà người tu hành không thể bỏ qua. Kể rằng ngũ căn là gốc đạo màu,
tính tấn niệm định, huệ hầu mở khai. Ai ơi học đạo Như Lai chiên tâm trì chí có
ngày nên công. Ngũ lực. Ngũ lực là gì? Ngũ lực là tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực.
Ngũ lực là năm, ngũ là năm, lực là sức mạnh,
là thần lực. Ngũ lực là năm sức mạnh do thực hành năm căn bổn mà ra. Sở dĩ vì
sao? Vì từ tính căn đến tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn. Ví như cái cầu
có năm nhịp từ bến mê qua bờ giác, một trong năm nhịp cầu này nếu thiếu thì không thể gắn liền để đến bờ giác đặng.
Người có tật hành trọn năm căn, nó mới hiển được minh được năm lực. Bởi tính căn kiên cố nơi đường chánh tính, chánh
pháp của nhất thiết tam thế chư Phật sẽ sanh ra sức mạnh, chống đối được tất cả tà thuyết, tà tín, tà luật, tà kiến, tà
tâm của thiên ma ngoại đạo nên gọi là tín lực. Bởi tấn căn kiên cố nơi đường
chánh tín, chánh pháp của nhất thiết tam thế chư Phật sẽ sanh ra sức mạnh kiên cố. chống đối được tất cả sự giải đãi
hôn trầm của ngũ ấm ma và kẻ gian ác bất tín quấy nhiễu nên gọi là tấn
[Vỗ tay]
lực. Bởi niệm căn kiên cố nơi đường chánh tín, chánh pháp của nhất thiết tam thế chư Phật sẽ sanh ra sức mạnh, thắng
phục được tà niệm, tà tâm và đến được vô biệt niệm nên gọi là niệm lực.
Bởi định căn kiên cố nơi đường chánh tín, chánh pháp với dứt thiết tam thế chư Phật sẽ sanh ra sức mạnh, vượt khỏi
khó mọi khó khăn gian khổ đắc vô sanh pháp nhẫn, mau đến bến bờ giải thoát nên gọi là định lực. Bởi huệ căn kiên cố, nơi đường chánh tín,
chánh pháp của nhất thiết, tam thế chư Phật sẽ sanh ra sức mạnh, chiếu phá được các bóng tối của vô minh, nghiệp chướng
mà dứt luân hồi sanh tử, phàm phu thống khổ. Nên gọi là huệ lực. Chánh tín,
chánh pháp của nhất thiết tam thế chư Phật là như thế nào? Chánh tín là pháp đối chiếu với tà tín. Mà tà tín thầy có
hai là mê tín và bật tính. Mê tín là chấp có, bất tính là chấp không. Chính là chẳng chấp có, chẳng chấp không. Có
không đều duyên thông. Đó là trung đạo chánh tín của tất cả ba đời chư Phật.
Chánh pháp là pháp đối chiếu với tà pháp. Mà tà pháp cũng có hai là pháp đoạn diệt và pháp thường sanh. Pháp đoạn diệt là của ngoại đạo, ngoại càn khôn.
Pháp thường sanh là của thiên ma. Chánh pháp là pháp bình đẳng trung đạo, dung thông khắp cả, không thiên lệch hai bờ
lời có và không đoạn diệt và thường sanh của thiên ma ngoại đạo. Chánh pháp cũng
có hai là chơn đế và tục đế. Chơn đế là pháp xức thế gian, thường lạc ngã tịnh.
Tục đế là pháp thế gian, khổ không, vô thường vô ngã. Chơn đế cũng còn gọi là thánh đế, đệ nhất nghĩa đế, nghĩa là lý
pháp bậc nhất. chắc thật bật nhất. Nó có công năng đưa chúng sanh vào cõi thánh.
Nếu chúng sanh dụng công thực hành chắc chắn sẽ làm thánh chẳng sai. Tóm lại,
ngũ lực là do hành ngũ căn kiên cố mà ra. Có ngũ lực mới đắc được ngũ thần thông toàn vẹn.
Kệ rằng
ngũ lực trí hóa mở thông,
phá tan hôn ám thoát vòng trầm luân.
Huệ định niệm tấn không ngừng
tín hành nguyện pháp tỏa bừng ánh quan.
Tiếp đến là bảy phần bồ đề. Bảy phần bồ đề là gì? Bảy phần bồ đề cũng còn gọi là thất giác ý, tức là bảy
cái ý nghĩa là tỉnh giác hay là giác
ngộ hay là bảy cái ý hiểu bảy phần bồ đề là một là trạch pháp, hai là tinh tấn,
ba là hỷ, bốn là khinh an, năm là niệm,
sáu là định, bảy là xả. Nói cách khác, một là phân biệt sự lành với sự
dữ. Hai là tinh tấn mà lướt lên, ba là an lạc trong dòng đạo đức. Bốn là thắng phục tâm ý đặng làm. Năm nhớ tưởng đạo
lý. Sáu, nhất tâm đại định. Bảy vô chịu mở kinh ngộ. Thất bồ đề phần là gì? Thất bồ đề phần là bảy cái ý giác ngộ. Tu
theo hạnh của chư Phật ba đời hầu tiến đến chánh đẳng chánh giác. Sở dĩ vì sao?
Vì trạch pháp là phân biệt lừa lọc các pháp. Đâu là chánh, đâu là tà, đâu là chơn, đâu là vọng. Thiện ác thế nào,
hành phương pháp gì đưa đến an lành.
Giải thoát siêu sanh dứt khổ, hành pháp nào đưa đến điên đảo ràn buộc, rút mắt đò
xa. Hành giả có phân biệt được các pháp hư thật chẳng còn mê lầm, chấp nhất các pháp thế gian, không lạc vào tà kiến,
thiên kiến, biên kiến, đoạn kiến, thường kiến. bất tín, bất nhân và dĩ nhiên khỏi lạc vào đường thiên ma ngoại đạo. Lại nữa,
ý của hai chữ trật pháp nội dung là mổ sẻ, phân tách, chiết tính từng từ ngữ,
từng câu văn, từng đoạn, từng phần, từng cơ sở một của vạn pháp. Bình quân tỷ lệ áp dụng đúng thực trạng trong nội tâm,
trong mỗi hoàn cảnh của đạo và đời,
không thấy hóa, không bất cập để thấu tột chân lý, hầu tiếp dẫn muôn sinh trên đường giác ngộ. Về quan niệm trạch pháp,
dụ như người học nghề bác sĩ phải học cơ bản các công thức thuốc men và trị liệu.
Phải thực tâm nghiên cứu bệnh lý theo thầy dạy bảo, sau thành công ra trường mới có đủ khả năng đảm đan trách nhiệm
thừa kế sự nghiệp của bậc tiền nhân. Làm thầy cứu bệnh mà không học nguyên tắc căn bản cho thuốc sai lầm
chẳng những không có phước mà ngược lại giết chết mạng người mất đức nữa là khác. Một y bác sĩ tài giỏi không thể nhìn lầm bệnh lý và hại mạng. Tuy nhiên,
dầu cho bác sĩ tài giỏi mà bệnh nhân hết số hoặc quả nghiệp tiền căn nan y cũng đành bó tay.
Tinh tấn. Tin là tin cần, tấn tiến tới. Hành giả sau khi phân biệt rõ ràng các pháp,
đâu là chơn, đâu là vọng, đâu là chánh,
đâu là tà, là phải cần mẫn thực hiện các pháp lành, cần phải tránh xa các pháp ác để dứt nghiệp trả báo khổ đau hầu tiến
đến đạo quả bồ đề tối thượng. Nói cách khác, tinh tấn cũng còn gọi là tin chuyên tiến
tới. Tinh chuyên nghĩa là tin và chiên trách một sự việc, một đề
tài thực hiện sâu sắc vào hai trạng thái gồm cả sự và lý, tướng và tánh để đạt kết quả mỹ mãn.
Thật vậy, vạn pháp ở thế gian này cũng như tất cả các pháp thế gian, các pháp xuất thế gian, hữu vi hoặc vô vi, không
ai không chiên mà thành, không hành mà đắc. Thế nên tinh tấn là điều trọng yếu trên đường tu học giải
thoát. Hỷ là mừng, là hoan, hỷ là chấp nhận. Người thế tục họ vui sống với thân
tâm ô trược. Họ mừng đạt được yêu cầu xui theo chiều dục vọng để đời đời thọ
khổ luân hồi lộn kiếp. Người đạo tu chơn không giống thế tục đi ngược vòng đời, ngưng dứt ý niệm sai lầm tham tà bạo ác.
Mừng đây là mừng vui sống đời thanh bạch, xả phú cầu bần xả thân cầu đạo,
giữ thân tâm phạm hạnh để được an lạc giải thoát.
Khinh an. Khinh là nhẹ là xem thường, an là bình an, yên ổn. Người tu học Phật dĩ
nhiên đi ngược vòng đời. Đời thì sát đạo dâm vọng, rượu chè tứ tung. Họ đi trong
bóng tối của vô minh tội lỗi đọ đài. Nên thấy ai đi trong ánh sáng là họ ganh
ghét gây chuyện phỉ nhổ luôn tù. Di như kẻ gian ác thấy ai lương hiền chân thật
là ghét. Ghét vì kẻ thiện chẳng đồng lòng với việc ác quá. Người thiện ví như kẻ mặc áo lành sạch, kẻ ác ví như cái
mặc áo dơ rách nên họ sanh lòng ích kỷ dèm pha phá hoại. Lẫy như trẻ con chơi
giỡn trong 10 đứa mà có một đứa nghiêm nghị không giỡn ác bị. Chúng chê bỏ không chê thân lại còn đánh đập phá hại.
Lại như ví như kẻ rượu chè say xưa đằn Trong 10 người mà có một người giữ giới chính chắng, giữ gìn nhân phẩm giá
trị con người, không khỏi bị chính kẻ kia chê trách, ngu đành dạy dột. Người quyết chí tu chơn hiểu rõ lẽ này, nếu
gặp nguy hiểm hoặc bình an, lời khen tặng tân bốc hai tiếng chê trách, hoặc
chết hoặc sống cũng vẫn xem như tựa nhẹ tự lôn hồng. Mọi cảnh diệt sanh trước mắt chẳng hề nao núng, bình tâm hạ khí,
thản nhiên trau dồi trí tuệ. Niệm là tâm niệm là quan niệm. Niệm là suy nghĩ quán xét thật giả chân vọng
để dứt trừ tà niệm. Giữ gìn chánh niệm không rời, thường niệm Phật pháp tăng.
Niệm niệm không rời tự tánh thanh tịnh để được thường trụ vô biệt niệm.
[Vỗ tay]
Vô biệt niệm là gì? Vô là không, biệt là phân biệt, chấp trước các tướng. Niệm là suy nghĩ quán xét. Nghĩa là suy nghĩ
quán xét các pháp chân vọng mà không khởi tâm phân biệt, chấp các pháp tướng này là tốt, pháp tướng kia là xấu, pháp
này là nên, pháp kia là hư, pháp này là chơn, pháp kia là vọng. Hoặc không khởi tâm phân biệt chấp các tướng phi pháp
này là đúng. phi pháp kia là sai vân vân. Vì không khởi tâm chấp trước các
tướng pháp và tướng phi pháp nên gọi là vô biệt niệm. Phật xưa dạy A Nan trong
kinh Thủ Lăng Nghiêm rằng căn cứ vào quyển 1 số 57 đoạn 45 Phật trối A Nan
Như Lai chẳng bảo ông nhận cái phân biệt không phải là tâm. Ông cần nghiên cứu tin tường cái ấy chơn hay vọng như lìa
các tiền trần mà có thể tánh phân biệt đó là tâm chơn như của ông như lìa các tiền trần mà không có thể tánh. Đó là
bóng tiền trần phân biệt. Tiền trần không có thường trụ khi sanh khi diệt thay đổi luôn thì cái tâm nương theo
tiền trần đó hóa ra lông rùa sình thỏ là vật không có. Tiền trần diệt, tâm diệt thì pháp thân của ông cũng diệt theo.
Như vậy ông lấy chi tu chứng vô sanh pháp nhẫn. Vậy dựa trên cơ sở lời Phật dạy
thì chữ niệm đây phải quan niệm chính xác trong lẽ chân vọng mới sanh chánh kiến chánh tín để đến nẻo bồ đề.
Có người bật sự nói năng suy nghĩ cho là đúng nhưng thực tế cũng chỉ là vọng giả mà thôi. Giả lại càng thêm tai hại là về
sau mất trí. Nhớ luôn. Phật dạy rằng dầu dứt hết các sự thấy nghe hiểu biết, chỉ giữ sự yên lặng cũng chỉ là
bóng pháp tiền trần phân biệt cũng không phải là tâm chân.
Thế thì vô biệt niệm không phải là chẳng niệm tưởng hoặc niệm tưởng mà chẳng biết mình niệm tưởng và lại cần không phải
niệm tưởng mà duyên theo bóng pháp tiền trần không thủ không xả không chấp giữ
không lo xả bỏ đó chính là vô biệt niệm định là dừng lại đứng lại ngưng dứt
vọng tưởng định cũng còn gọi là định trụ vào một chỗ quyết định ấn định một sự Thời xưa Đức Phật dạy đại đức A Nan tu
pháp samatha nghĩa là tu pháp nhĩ đình chỉ vọng tưởng ý tưởng đứng dừng vào chỗ vắn lặng huyền vi không viên vọng theo
thế gian tường tình cũng gọi là ly hẳn tiền trần và hành tam ma đề tam ma đề là gì tam ma đềi là chánh
định pháp tam ma đềi là pháp tu chánh định có nghĩa trí an trụ vào tự tánh thanh tịnh để chứng đắc vô sanh pháp
giận Vậy sự tu học nếu ý tưởng còn viên chấp theo các pháp tiền trần, dầu có sự định
tâm cũng không gọi là chánh định của Đức Như Lai được, mà phải gọi định của phầm phu, của thiên ma ngoại đạo chứ không muốn nói là tà định.
[Vỗ tay]
Hành giả sau khi dứt khoát với lập trường giải thoát thờ phải ngưng dứt các ý định mê lầm sanh diệt, quyết tâm đình
chỉ vọng tưởng tu pháp chánh định vô sanh để đạt quả bồ đời bất
diệt. Xả là xá bỏ mở ra có nghĩa là không câu chấp buộc ràng. Vì cấu chấp
buộc ràng là nguyên nhân nương nếu tương tục luân hồi sinh tử khổ. Xả trước nhất là xả bỏ lòng ích kỷ cá nhân của mình,
kế là mở bỏ những sai lầm của kẻ khác để giữ lòng bình đẳng đối với muôn sinh vạn loại. Có hai loại
xả là xả bỏ ngũ dục trần đời. Ngũ dục là năm điều ham muốn.
là ham muốn sắc đẹp, là ham muốn tiền tài, là ham muốn danh vọng, là ham muốn lợi lộc ăn uống, là ham muốn tình yêu
ngũ nghỉ. Người thế gian đa phần vì tham chấp tà kiến, tham sân si dục vọng mà
cho rằng ngũ dục ở thế gian là lẽ sống của con người nếu thiếu không thể được.
Do vậy, họ hăn hái phấn đấu tìm cầu cho vừa lòng thỏ ý, nhắm mắt vui sai trong bóng tối của vô minh đầy
đọa là xả bỏ kiến chấp thủ nơi lòng mình và sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác. Tự vì
vì sao? Vì vọng tâm của chúng phàm phu nhân không đứng lại nơi tụ điểm nào cả mà tường hai biến chuyển đổi sai. Sanh
sanh diệt diệt vui đó rồi buồn đó giận đó rồi thương đó chẳng khác nào đứa bé thơ. Ngay nguyên nhân này cũng do chấp
trước các tướng. Xá bỏ kiến chấp thủ là gì? Xả bỏ có nghĩa là dứt đi, không
dương vướng dinh, không đụng chạm, không liên hệ đến. Kiến là thấy, chấp là câu
chấp, là giá nói, rút lại. Thủ là giữ gìn trì nếu bảo thủ. Người tu học Phật
thực hành theo hạnh từ bi, sát kỷ vì chí nguyện giải thoát mà phải xem vạn pháp
nội ngoại như quyển để an tâm hành bát chánh đạo, tiến linh thường lạc ngã tịnh đến quả bồ đề bất diệt. Vậy thì thất bồ
đề phần là bãi cái ý giác mà người học Phật phải luôn gìn giữ. Có nghĩa là phải luôn
cảnh giác cái ý trong bảy chỗ cần cảnh giác và thực kỳ cho được tốt đẹp.
Tức là một cảnh giác các pháp là trạch pháp, hai cảnh giác chỗ tiến lên là tinh
tấn, ba cảnh giác chỗ hoan hỷ là mừng. Bốn cảnh giác lẽ khinh trọng
là khinh an. Năm cảnh giác chỗ niệm tưởng có đúng. Sáu cảnh giác chỗ đình chỉ có phải chánh đạo là định.
Bả cảnh giác chỗ xóa bỏ cho phải lẽ. Tức là xả kệ rằng
thất giác bảy pháp cạn sâu
trật phân chơn vọng ngõ hầu tấn tâm
hỷ mừng lý nhiệm hyền thâm
khinh an cuộc sống thăng trầm tự nhiên
niệm vô biệt niệm tại tiền
định thần miền nan xả bỏ câu chấp buộc ràng quát
nhiên đại ngộ vượt màn vô minh đó tiến lên bát chánh đạo.
Bát chánh đạo là gì?
Bát là tám chánh là chín chắng đúng đắng ngay thẳng đạo là đường. Bát chánh đạo là tám con đường ngay thẳng đúng đắng
chân thật mà Đức Bổn Sư Thế Tôn đã chỉ dạy cho hàng đệ tử hành trì để tiến đến quả vị chính giác.
Tám con đường ấy là à chánh kiến đạo thấy biết theo đường chân chánh. Chánh tư duy đạo suy nghĩ theo đường chân
chánh. Chánh ngữ đạo nói lời theo đường chân chánh. Chánh nghiệp đạo làm ngời theo đường chân chánh. Chánh mạn đạo nuôi mạng sống theo đường chân chánh.
Chánh tinh tấn đạo siêng năng theo đường chân chánh. Chánh niệm đạo niệm tưởng theo đường chân chánh. Chánh định đạo lắng ý định thần theo đường chân chánh.
Chính kiến đạo xử với vì
[âm nhạc]
[Vỗ tay]
sao? Có chính kiến đạo nói chính kiến đạo là để đối chiếu lại với tà kiến đạo.
Tà kiến đạo có bốn là thiên kiến, biên kiến, đoạn kiến, thường kiến. Tà kiến đạo là thấy biết theo con đường sai lầm
dẫn đến ác kiến, tà tâm tạp loạn nên tà còn gọi là ác. Từ chỗ tà kiến đạo sanh ra tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm và tà định.
Chánh kiến đạo, chánh là chân chánh,
kiến là thấy, đạo là đường. Từ chỗ thấy biết lẽ chánh đưa đến nẻo trong sạch,
thuần chơn giải thoát, nên chánh cũng gọi là thiện dạy. Thấy biết theo đường chân chánh
được chia ra hai phần. Phần tục đế tức là sự thấy chắc thật của phàm trần.
Hai phần thánh đế là sự thấy biết chắc thật của thánh tánh. Phần a, sự thấy biết chắc thật của phàm trần là ăn ngay
nói thật là con đường đúng đắng. Giữ chân nghĩa lễ trí tín là điều chân chính cần phải làm. Phần bự thấy biết chắc
thật của thánh tánh là ngoài sự ăn chay ở thật giữ nhân nghĩa lễ trí tín mà còn phải hiểu con đường chính giữa không
thiên lệch hai bờ lời có và không. Sinh và tử nam và nữ thị và ác. Đó là trung đạo ngay thật dẫn đến niết bàn bất diệt.
Từ chỗ có chánh kiến đạo đúng đắng mới có chánh tính đúng đắng dẫn đến đạt quả bồ đề không hề sai chạy. Nhận thức chánh
kiến đạo về phần tục đế có thể còn dùng quyết nhục chúng sinh. Còn có vợ chồng thọ giới bồ tát tại gia như sáu giới
trọng tá giới khinh. Tu thiền định niệm Phật tịnh độ mật tông đều được cả. Nhưng
phải hiểu còn tập khí vi tế còn gây nhân quả phải chịu luân hồi trong ba đường sáu cõi xuống lên lộn
kiếp. Nhận thức chánh kiến đạo về phần thánh đế là phải tiệt đạo sát đạo dâm vọng. Thở Bồ Tát
giới tánh là 10 giới trọng môn tám giới khinh trường trai tịnh hạnh hành thiền tịnh độ bậc tông đều được cả. và do dạy
đạt được thánh tánh tiến thẳng nẻo bồ đời bất sanh bất diệt. Chánh kiến đạo có công dụng đối kỵ
với tà kiến đạo là thấy biết sai lầm lời Phật dạy. Nghĩa là lấy đầu làm đuôi, lấy đuôi làm đầu giảng giải sai chữ nghĩa
của kinh như sát đạo dâm vọng dẫn đắc đạo. Th Bồ Tát giới Đại thừa 10 giới trọng móm tám giới khinh mà còn ăn thịt
uống rượu vợ chồng đùm đeo vẫn đắc được chân lý giảng dạy phá chấp bất cần luật
nghi tham cầu danh lợi biển sao cho đệ tử đông nhiều biến tôn giáo thuần tí tu chơn thành ma đạo không kháckhác.
chính kiến đạo là khởi tỷ của đạo bát chánh Nó đóng một vai trò rất quan trọng. Người có chính kiến đạo thì sự
tin tưởng mới không sai lầm là chánh tín. Và có chánh tín mới sanh ra được chánh trí, xá lợi trí, Phật trí vân vân.
Bát chánh đạo là tám con đường chân chính. Hay nói cách khác, đạo bát chánh là con đường có tám phần chánh.
Đầu tiên là chánh kiến, có thấy biết chân chánh, mới có chánh tư duy là suy nghĩ chân chánh.
Có chánh tư duy mới nói lời chân chính là chánh ngữ.
Có nói lời chân chánh mới có làm nghề chân chính là chánh nghiệp.
Có làm nghề chân chánh mới nuôi mặn sống chân chính là chánh mạng.
Có nuôi mạn sống chân chính mới siêng cần chân chính là chánh tinh tấn.
Có siêng cần chân chánh mới niệm tưởng chân chánh là chánh niệm.
Có niệm tưởng chân chánh mới lắng ý định thần chân chánh là chánh định.
Có chánh định chân chánh mới phát sanh trí tuệ vô ngại tự tại mà đắc quả Như Lai toàn giác.
Tuy nhiên chư sinh văn thời hành bát chánh đạo theo chiều thận, còn chư bồ tát hành bát chánh đạo theo chiều nghịch. Có nghĩa chư tinh văn thực hành
trong đà phát triển của trí huệ, còn chư bồ tát thực hành đi vào chiều sâu phát quy diệu dụng.
Ví như kiểm tra chất lượng cấu trúc bình quân tỷ lệ từng cơ sở từng ngôi nhà Phật đạo.
Nghĩa là chư Bồ Tát hành vào pháp tánh vô sanh trên bổn tâm diệu giác bằng cách
trước tiên hành chánh định mới đến chánh niệm, chánh tinh tánh, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh tư duy và cuối cùng là chánh kiến tri của Như Lai.
Vậy thì người có nhận thức chánh kiến đạo trong phần thánh đế thời phải có chánh định đạo là
lắng ý định thần trong tự tánh thanh tịnh, dùng pháp hồi quang phận chiếu để sinh trí huệ vô ngại tự tại.
Đạt được chánh pháp nhãn tạng của chư Phật ba đời và từ chỗ đó hành pháp thiền định tự tánh
đi sâu vào nội tạng của bổn tâm diệu giác mới đắp được chánh biến tri của Như Lai.
Tóm lại áp dụng chánh kiến đạo phần tục đế cho là thánh đế hoặc phần thánh đế cho là tục đế hay là xuất thế gian pháp
vô vi mà chấp lầm pháp hữu vi. Thế gian pháp hữu vi chấp lầm là vô vi.
Tướng mà ngỡ là tánh, tánh mà ngỡ là tướng đều thấy là tà kiến đạo.
Bát chánh đạo là tám con đường ngay thật trung đạo bình đẳng chánh lý của chư Phật ba đời mà tất cả mọi người cần cầu
giải thoát không thể bỏ qua. Kệ rằng
bát chánh là tám con đường
chánh kiến, minh bạch tỏ tường ngay gian.
Tư duy ngôn ngữ dịu dàng.
Nghiệp tu chánh mạng là đàng Như Lai.
Tính tấn niệm định bằng nai
huệ mầu phản chiếu liên đài hồi quy.
Tóm lại 37 phẩm trợ đạo bồ đề là bờ móng, là cây cài, là cây bừa là mạ, là
phân tro, là dôi, là trâu bò để nhà nông sử dụng làm ra hạt lúa. 37 phẩm trợ đạo là tường thành, là máy móc, là cơ xưởng,
là dầu nhớt, bù lon con tán để trợ duên cho người công nhân tạo ra sản phẩm hữu dụng cho xã hội. Người tu học Phật muốn
thành tựu đạo quả bồ đời không thể bỏ qua. 37 phẩm và người không thực hành đúng đắng 37 phẩm muốn thành đạo bồ đề,
ví như nấu cát mà muốn thành cơm. Chuyện đó xưa nay chưa hề có.
Vậy thì 37 phẩm gồm Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực,
Thất Bồ Đề Phần là cơ sở, là nền tảng vững chắc của bát chánh đạo.
Phần muốn giải thoát khỏi cảnh trần lao thống khổ, thời phải tật hành trọn vẹn 37 bảy phẩm bồ đề sẽ kết quả chẳng sai.
Kệ rằng
thở xưa Phật Tổ ra đời
mở bài chánh pháp rạng ngời ánh quang
Ba mươi bảy phẩm rõ ràng
độ tăng ni chúng các hàng xuất gia
lời vàng tiếng ngọc ôn hòa
diệu trầm kính nhiệm sâu xa khôn lường
tứ niệm xứ nguyện khai trương
an tâm tu học là đường đạo chơn
tứ cần phân rõ thiệt hơn
tư duy thanh bậc oán hờn cách xa
tứ như ý túc làm đà
tham cầu biết đủ mới là tỳ kheo.
Ngũ căn nhân hạnh thường gieo
thời là nghiệp báo. Chẳng theo bên mình
ngũ dục sức mạnh rộng thinh.
Diệt trừ ma chướng pháp linh thâu về
bảy phần giác ý bồ đề.
Nằm ngồi tỉnh thức phút giờ định tâm.
Phật đạo bát chánh thậm thâm
đường về cực lạc muôn năm an thần.
Cảnh này đã dứt thở than,
cảnh này thất bảo ngọc vàng thiếu chi.
Cảnh này chẳng có ưu bi,
cảnh này bất diệt dứt đi luân hồi.
Cảnh này danh lợi bỏ rồi,
cảnh này sung sướng cuộc đời vĩnh miên.
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Pháp Vương Di Lặc long hoa giáo chủ chứng minh.
Vừa qua thì tôi đã nói về vấn đề Tứ Diệu Đế cũng như ba bảy phẩm trợ đạo bồ đề cho tất cả chư tăng ni nghe hiểu
để mà học tu cho được là giải thoát về cảnh niết bàn tịnh diệu.
Vậy trước khi dứt lời một lần nữa cầu nguyện hồng ân tam bảo, hộ pháp chư thiên gia hộ cho tất cả chư tăng chư
ni trong môn đồ pháp quyến cũng như chư tăng ni và các Phật tử ở bên ngoài được
hữu duên nghe lời pháp lành này mà tinh tấn tu hành trên đường Phật đạo. Chúc
tất cả đều vui sống trong ánh hào quang của mười phương ba đời chư Phật. Mô Phật.
Back to section
Tu Niem Xu
A self-narrated teaching text preserved in written form.
TeachingSelf-narrated