Để tôi a sẵn đây tôi đọc lên cái sanh tử là niết bàn cho Phật tử nghe. Cái này tôi nói
thẳng luôn và có chứng minh, có thí dụ để cho tăng ni mình á, Phật tử mình hiểu ha. Nếu ai chịu khó mà nghe những cái ví
dụ trong này á thì có thể là hiểu được, ngộ được và sau đó thực hành nhập được trở thành siêu nhân luôn.
Đó thành siêu nhân luôn.
Nhưng mà nếu mà này tôi nói mà tôi giảng cái này Phật tử mà thành siêu nhân vậy tôi là cái gì?
Tôi tôi không có siêu. Không siêu mà siêu siêu mà không siêu.
Mà Phật tử mình cũng vậy á. Nếu mình hiểu được là mình trở thành siêu nhân.
Siêu nhân mà không siêu nhân. Không siêu nhân mà siêu nhân. Vậy thôi. Thấy không?
Vừa qua sư đã viết ra cái bài à phiền não tức bộ đời.
Phật tử tăng ni mình đã nghe rồi. Bây giờ sư nói thêm
Sanh tử là niết bàn.
Sanh tử là cái gì? Niết bàn là cái gì?
Sanh sanh hóa hóa tự tâm người
Tử tử luân hồi chính do ta
Niết cảnh an nhiên tâm tự tại
Bàn ngôi bất diệt hiểu như là
Đạo giải thoát của ba đời chư Phật nó hàm súc chơn và vọng rất phân minh nhưng chúng sanh ba đời nghiệp chướng nặng nề không hiểu đặng pháp nhiệm màu.
Do vậy mà nhiều học giả và hành giả dụng công đi tìm cầu đuối sức chẳng biết chẳng hiểu nơi đâu, đành phải bó tay trước những lượng sóng nô đùa của biển nghiệp đường tình.
Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật dạy rõ người học tu giải thoát phải phân biệt được vọng và chơn, nhiên hậu mới có thể tiến đến quả vị chánh giác.
Sở dĩ vì sao?
Vì trong bản thể chân tâm của con người có phân ra hai lẽ chơn và giọng.
Chân tâm thì tự nhiên như nhiên thanh tịnh tự tại, vọng tâm thời sanh sanh diệt diệt liên hồi.
Nên chư vị tổ sư đắc truyền chánh pháp nhãn tạng đều khẳng định sanh tử là niết bàn.
Điều khẳng định sanh tử là niết bàn. Có nghĩa là chúng ta đang sống trong sanh tử mà trong cái cảnh sanh tử này có niết bàn.
Tại sao gọi sanh tử là niết bàn? Sanh tử và Niết Bàn khác nhau chỗ nào?
Cùng quý học giả và hành giả, Niết Bàn là chân tâm diệu duyên thanh tịnh tự tại. Sanh tử là giả tâm sanh sanh diệt diệt liên hồi.
Niết Bàn ví như bầu vũ trụ hư không.
Sanh tử như hoa đốm giữa hư không.
Quý vị ngó lên bầu trời thấy hoa đốm nó chớp chớp sanh sanh diệt diệt, diệt diệt sanh sanh; nhưng mà cái bầu trời hư không cái bầu hư không của vũ trụ này không có sanh diệt.
Bây giờ trở ngược lại mình nhìn vào nội tâm mình, mình hình dung cái nội tâm mình nó sanh sanh hóa hóa.
Cái ý nghĩ nó duyên theo đầu này, nó duyên theo đầu kia. Nhưng mà cái bản thể chân tâm của mình nó không thêm không bớt.
Mình đem so sánh cái bản thể chân tâm mình nó đồng nhất với là vũ trụ hư vô.
Mà cái vọng tâm sao xếng điên đảo của lòng mình á nó như là hoa đốm giữa hư không. Là may bay, là gió cuốn, là sấm sét.
Nhưng mà quý vị nhìn bên ngoài đi, mây bay gió cuốn sấm sét nó gợn lên nhưng mà sau đó nó diệt nó đi về đâu?
Nó đi về cái tánh không của vũ trụ thiên nhiên. Nhưng mà nó không mất.
Khi bầu trời chuyển động nó hiện lại, cái tâm con người cũng vậy đó.
Nhìn về bản thể chơn tâm của mình, ai cũng có cái tánh tự nhiên như nhiên thường còn bất biến.
Nó rỗng không, nó trống vắng.
Nhưng mà nó khi nó khởi lên cái buồn vui, mừng, giận thương, ghét muốn từ đâu nó sanh? Là từ cái tánh không của mình nó sanh ra rồi nó diệt đi về đâu?
Nó trở về cái tánh không của nó. Cũng như á bọt bèo ở biển cả từ đâu nó có, là do sóng gợn nó mới sanh. Mà sống lặn rồi thì bọt bèo từ từ tan.
Đó mình nhìn cảnh bên ngoài mình hiểu được mình hồi quan trở lại ngó về nội tâm mình nó đồng nhất như vậy.
Cho nên chư tổ sư dạy sanh tử gọi niết bàn là vì trong cái sanh diệt nó có một chân tánh không sanh không diệt.
Trong cái sanh diệt của phiền não buồn vui mừng giận thiên muốn cái chân tánh nói vốn là không sanh diệt.
Cũng như đã từ lâu tôi nói với tăng ni và Phật tử rồi chứ không phải hôm nay mới nói.
Bây giờ mấy người ngồi thả lỏng lại đi, đừng khởi một niệm gì hết. Nghe trong đó không buồn, không vui, không mừng,
không giận, không thương, không ghét và không muốn. Mình ngồi trở lại tự nhiên như một đứa trẻ mà sơ sinh buổi đầu.
Mình cảm thấy nó an lạc vô cùng. Trong cái an lạc này không có một cái niệm gì hết.
Không có một khởi một niệm gì hết nhưng không có nghĩa là không có cái biết thấy nghe hửi nếm rờ tưởng, nó vẫn có hằng còn.
Thấy không? Quý vị biết cái tánh rỗng không trống vắng thanh tịnh tự tại này của mình là cái gì? Đó là tánh Phật của mình.
Mình phải thường sống như vậy tức là mình sống với Phật tâm của mình. Mình đi tìm ông Di Lạc ở đâu? Ông Di Lạc Lạc ngay đó trong tâm mình vậy đó. Cái đó là ông Di Lạc đó.
Mình thả lỏng rỗng không trống vắng trở về thanh tịnh. Trong đó mình cái thấy cái nghe cái hiếu biết của mình thường còn bất biến không sanh không diệt luôn.
Mà trong kinh năng nghiêm như buổi sớm mơ sự đó nói tánh thấy không sanh không diệt.
Tâm hồn mà rỗng không trống vắn nó không khởi lên một cái niệm có hay là không.
Đó là tánh Phật của mình, đó là Phật Di Lạc của mình.
Mình sống như vậy nhưng mà đôi khi, trong nhất thời mình có quên, còn một niệm quên khởi lên một cái niệm cái mình duyên theo đó.
Rồi mình quán triệt được như vậy thì mình cứ thường trở về, công ăn việc làm cái tính toán lo lắng đầy đủ.
Nhưng mà có những giờ ngoài công việc mình thả tâm hồn trống vắn thanh tịnh là mà trở về mình sống như Phật đó.
Sống với Phật của mình đó.
Còn quý vị mà tập trung mà quý vị mà cứ thiền hoài, rồi khùng luôn.
Khởi niệm tập thiền mà ngồi thiền hoài á là khùng luôn. Khởi niệm niệm Phật hoài cũng điên luôn.
Bởi vì mình khởi niệm, mình niệm hoài nó mình đâu trở về sống với thanh tịnh tâm của mình được.
Cái thanh tịnh tâm của mình trước mắt nó là như vậy rồi mà cứ mình rời bỏ nó ra đi hoài. À bởi vì mình còn một niệm sai lầm mình chưa biết nó.
Chưa biết nó Phật tử. Và tôi cũng nói thẳng, xưa kia tôi cũng đã từng tìm. Từng khởi niệm đi cầu học làm Phật y chang như ông Huệ Khả vậy đó.
Đi tìm học làm Phật, tìm hoài sao không thấy mệt mỏi và cảm thấy mình bơ vơ lạc lỏng giữa cảnh tha ma lạnh lùng hoan vắng.
Bây giờ mệt quá đêm càng khuya tôi ngồi giữa góc cây để nghỉ. Thả lỏng tâm hồn không nghĩ gì hết.
Bây giờ mới phát hiện cái tâm hồn rỗng không trống vắng thanh tịnh tự tại là tâm Phật của mình mà mình đi tìm ở đâu? Tại sao mình ngu dữ vậy?
Nên từ đó sư không khởi niệm đi tìm Phật ở đâu nữa mà trở lại về sống với tâm Phật của mình.
Và chính vì vậy mà hôm nay sư mới có pháp để nói cho tăng ni và Phật tử nam nữ nghe đó.
Chính vì vậy mà mới có pháp để nói chứ không được vậy là không nói đâu.
Nhưng mà quý vị thấy được mà không được, không được nhưng mà được. Khi hiểu được cái tâm hồn mình nó rỗng rang, trống vắng thanh tịnh như vậy,
nó không khởi một niệm được mà cũng không khởi một niệm không được.
Nó vốn là an nhiên như nhiên thì làm gì có và không, không và có, phải không?
Nó làm gì có mà cũng làm gì nói là không. Nó không một cái niệm sanh diệt, nó đã đi vào cái vô biệt niệm rồi, nó đi vào cái nhất niệm rồi.
Cho nên nói có cũng sai mà nói không cũng sai.
Cho nên nói cái người tu đắc đạo, nói có đắc đạo cũng sai mà không đắc đạo cũng sai.
Cũng có cũng không cũng sai. Không mà có, có mà không cũng sai. Thấy không?
Bởi vì nó không khởi một cái niệm gì hết trơn á. Bây giờ bà con mình cứ để tâm hồn trống vắng lại đi, tự tại đi, không khởi một niệm gì hết.
Mình thấy trong đó nó có cái gì không? Nó không có gì hết trơn. Nhưng mà mình vẫn có cái thấy nghe, hiểu biết thường còn bất biến không sanh không diệt.
Không thể dùng một từ gì hết được để nói được hết. Cho nên trong Bát Nhã Tâm Kinh á có dạy không tức thì sắc, sắc tức thì không, không bất dị sắc, sắc bất dị không.
Thọ, tưởng, hành, thức, diệt, phục như thị.
Cho nên trở lại với Bát Nhã Tâm Kinh thì mình thấy lời Phật dạy quá sâu sắc.
Sư trở lại vấn đề.
Sanh tử gọi Niết bàn là gì? Trong cái sanh diệt nó có một chân tánh không sanh không diệt.
Bánh xe 12 cây căm
Lăn lên lộn xuống chấp lầm duyên theo
Xuống lên lên xuống đùm đeo
Luân hồi mãi mãi, lái lèo sao đây?
Sao bằng dừng lại giải khoay,
trụ vào cốt giữa như vầy mới yên.
Cũng ví như nhìn vào bánh xe thập nhị nhân viên ta sẽ thấy rõ bánh xe liên tục xây chuyển không dừng.
Bánh xe có 12 cây căm hết lên đến xuống, hết xuống rồi lên, đó là sanh tử.
Nhưng cái cốt của bánh xe lăn vẫn đứng yên không hề lăn. Đó là Niết Bàn.
Nên nói người đi tìm Niết Bàn mà rời sanh tử sẽ vĩnh viễn không có Niết Bàn.
Đây là nguyên lý chân chính đúng đắng không hề sai lầm.
Nên hành giả học giả hay là người đang tu cần phân biệt tin tưởng đạo Phật giải thoát như thế nào gọi là chánh tâm, chánh tín, chánh kiến và thật sự là mình đang thành chánh đạo.
Ngược lại tin như thế nào gọi là tà tâm, tà tín, tà kiến, mình đang hành tà đạo.
Đó, cái này mình phải có phân biệt.
Học giả, hành giả phải tư duy quán xét cho kỹ càng chín chắn chứ không khéo uổng một kiếp tu hành phí công vô ích mà lại sanh bệnh thân tâm hoan tưởng.
Dụ như có người bảo chinh phục sanh tử là chỉ nói theo phàm tình khi mới bước vào cửa đạo chứ như trải nghiệm của người tu học hành thiền, tôi quán xét thấy rằng cần quán triệt sanh tử.
Cần phải quán triệt cái sanh tử nó từ đâu mà có. Sở dì sao?
Vì có quán triệt sanh tử nhiên hậu ta mới thấy được nguyên nhân của sanh tử là do đâu.
Từ chỗ đó ta mới rời bỏ nó, không chấp trụ theo nó nữa mà trở lại bản tánh Niết Bàn của chính mình.
Đó mình biết nó sinh tử cũng như người mà ngó cây căm, thấy cây căm nó bánh xe nó quay lăn mãi mãi mà chúng ta chấp theo cây căm cái vịn cây căm này trèo qua cây câm kia đeo qua cây câm nọ rồi cuối cùng bị quay lên bay xuống hoài.
Chỉ nhìn vào cái quay này với một tinh thần yên lặng định trụ trở lại thì ta sẽ thấy rõ bánh xe nó quay nhưng mà cái cốt nó không có quay.
Cốt nó không có quay, thì vì sao?
Nếu ta ở trong bánh xe này, buông cái bánh xe đi, nhập vào cái cốt không còn bị quay nữa.
Tại vì sao? Vì Niết Bàn là chơn tánh bổn nguyên, không thêm không bớt, không sanh không diệt, y nhiên như nhiên tự tại.
Còn sanh tử là sanh diệt liên hồi. Cũng giống như điều tối yếu mà trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật dạy cần phân biệt chơn và vọng trong tâm của mỗi người.
Khi mà học giả hành giả dùng trí huệ phân biệt đặng chân tâm và giả tâm trong mình rồi thì chỉ cần dụng trí ý hườn về sống với chơn tâm, tức là sống với chánh đạo.
Đạo của ba đời chư Phật. Và như vậy đúng là có niềm tin, đức tin chánh tín, chánh kiến, đồng thời hành theo bát chánh đạo sẽ tiến đến quả vị chánh đẳng chánh giác không sai.
Nên chi phật Thích Ca ra đời ngài không dạy một pháp môn nào ngoài khác, mà ngài lại dạy pháp môn Tứ Diệu Đế đầu tiên. Tứ Diệu Đế là gì mà ngài dạy?
Điều đó trước nhứt, Tứ Diệu Đế là một khổ đế, hai tập đế, ba diệt đế, bốn đạo đế.
Tứ Diệu Đế là bốn điều kỳ diệu chắc thật mà người sống trong cõi đời không ai tránh khỏi.
Phật chỉ rõ, nói rõ, phân tách rõ để không còn lầm lẫn, không còn hoài nghi, không còn mơ hồ mà tin càng tin bướng theo lối ngoại đạo tà giáo mê tín dị đoan.
Phật giáo là đạo tu chơn
không bày mê tín thua hơn với người.
Phật giáo khai thị vẹn 10
hiển bày tánh giác cho người thấy ra.
Phật nay là Phật Thích Ca,
Phật xưa Phục Hi nữ hoa giáng trần.
Tam hoàng thần nông ai lân
gốc nguồn tiên tổ trăm phần chẳng sai.
Người tu học Phật hôm nay
nhớ về tiên tổ hành ngay nhất thừa.
Đó người tu học Phật nhớ về tổ tiên của mình cứ hành nhất thừa đi. Nhất thừa là đạo bình đẳng của ba đời chư Phật.
Nên nói đạo Phật không phải là một môn triết học du dơ ảo tưởng vô căn cứ mà đạo Phật chính là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.
Có nghĩa khai ra con mắt trí tuệ cho chúng sanh thấy biết đặng cái thấy biết của Phật để không còn lầm đường lạc lối trên đường đi tìm cầu chân lý.
Sở dĩ vì sao Phật lại dạy bảo như vậy?
Vì Phật biết chúng sanh phàm phu sanh ra từ lòng mẹ ở cõi đời ngũ trược ác thế rất nhiều khổ lụy nên mỗi người mạnh ai nên đi tìm đường thoát ra bể khổ đau thương.
Và cũng có nhiều bậc vĩ nhân vì lòng từ ái đứng ra dẫn lối đưa đường để thoát khỏi khổ đau.
Tuy nhiên, mỗi người mỗi cách tùy nhận thức cá nhân mà thuyết giáo.
Cũng giống như chốn ngục tù giam nhốt, người oan người ưng đồng chung chịu, ai cũng muốn ra khỏi nơi này.
Các vị giáo tổ đều dạy cách thoát ra bằng tư tưởng và hành động khác nhau.
Riêng Đức Phật Thích Ca dạy bằng cách trước nhất là phải biết do đâu mà mình ở trong ngục tù của cõi thế gian giả tạm, chịu khổ đau triền miên.
Thứ hai, ngài chỉ rõ từ bản thể diệu minh chân tâm mà đến mới có sắc thân thọ khổ.
Thứ ba, muốn dứt khổ địa ngục trần gian, phải giữ tâm tịnh định sâu lắng, trở về nguồn cội của bản thể diệu minh chân tâm xưa mà sống.
Thứ tư, muốn thực hiện được như vậy thì phải biết chân tâm của mình đồng với chân tánh bổn nguyên của vũ trụ thiên nhiên, và trí ý phải huờn dề sống với bổn tánh bổn nguyên, không duyên theo ngũ uẩn lục trần mà phải bị khổ đau đày đọa.
Phật dạy muốn thông đạt điều này là chỉ có pháp môn duy nhất để tu chứng liễu nghĩa là tu pháp Samatha và Tam-ma-bát-đề. Gọi tắc là thiền na mà trong kinh Viên Giác Phật đã dạy.
Samatha là tu chỉ. Tu chỉ là ngưng dứt vọng tưởng đảo điên.
Tam-ma-bát-đề là tu quán. Tu quán là quán xét phân biệt tâm vọng và tâm chơn.
Quán xét phải thuần nhất theo bát chánh đạo rồi mới thông suốt đặng. Gọi tắc hành pháp để được giác ngộ giải thoát sinh tử là pháp Samatha và Tam-ma-bát-đề, tức là thiền na, thiền quán.
Có người hỏi tu pháp niệm Phật Di Đà hoặc niệm Phật chú đà-la-ni vân vân cũng đặng thành Phật là sao?
Đáp rằng: "Niệm như thế nào cũng tốt cả. Tuy nhiên cũng để kềm tâm ngưng dứt vọng tưởng và được chư thiên thần hộ pháp bảo hộ trên đường tu học.
Nhưng muốn ra khỏi cảnh luân hồi lộn kiếp là phải tuyệt đối thiền quán mà thôi. Là phải tuyệt đối thiền quán mà thôi."
Qua quá trình hành pháp an lạc hạnh tôi xin đặt giả thiết để quý vị lắng nghe.
Chính bản thân tôi cũng hành phương pháp niệm Phật Di Đà, niệm mật chú đà-la-ni, cũng niệm số tức quang.
Trải nghiệm đời mình chia sẻ rằng:
1. Niệm Phật Di Đà, niệm lớn tiếng là hao hơi tổn khí. Niệm nhỏ vừa nghe nửa âm nửa dương là hội tụ đặng năng lượng trong người, tăng thêm sức mạnh về tinh thần tâm linh.
Cũng ví như sạc điện vào bình ắc quy, gắn đúng hai nút âm dương thì tự nhiên điện vào bình. Thân người như bình ắc quy, niệm Phật như dây nóng, tịnh tâm như dây lạnh, âm dương hợp nhất sẽ kết quả theo lòng mong cầu.
Lại nửa niệm Phật như dây hàm siết của người điều phục con ngựa chứng.
Con ngựa chứng muốn tập cho nó thuần nhất là phải có dây hàm siết, gịch nó đau nó mới nghe theo.
Câu niệm Phật rất cần thiết cho người mới tập tu theo đạo Phật sơ căn để kiềm chế tâm viên ý mã.
Khi tâm viên ý mã đã thuần thục thời không cần thiết phải dùng nữa.
Câu niệm Phật phải đủ chữ Nam Mô A Di Đà Phật tức là tỏ lòng cung kính Đức Phật A Di Đà, là một vị giáo chủ đầy lòng từ bi hỷ xả tha thứ mọi lỗi lầm của chúng sanh.
Đó là nói về giả tướng bên ngoài.
Bằng nói về nội tâm, thời người niệm Phật Di Đà phải ghi nhớ lòng mình luôn bao dung rộng lượng đối với tất cả mọi người, mọi chúng sanh.
Dầu là con cháu trong gia đình, dầu là mọi người ngoài xã hội, nếu họ có gây oan trái lỗi lầm với mình, với gia đình mình mà họ thật sự biết ăn năn hối ngộ, thành tâm sám hối rồi sẵn sàng tha thứ.
Người niệm Phật Di Đà phải có lối sống vị tha như người quân tử, không cố chấp buộc ràng, như kẻ tiểu nhân ích kỷ.
Nói thẳng ra, chư tổ sư dạy niệm Nam Mô A Di Đà Phật là phương tiện dạy người sơ căn phước mỏng nghiệp dày, buổi đầu tiên bước vào cửa đạo, kiềm chế tâm viên ý mã, dục vọng não phiền.
Ví như chiếc hàm siết gắn vào họng ngựa để gịch nó đau nó mới nghe theo.
Lúc cần mới gắn dây hàm siết, lúc không cần chỉ gắn khốp cho đi ăn cỏ. Không phải gắn hàm siết mãi để nó ăn không đặng bị chết đói.
Ngược lại không phải khóp hoài mà ra trận đánh giặc không điều khiển nó đặng.
Niệm số tức quang 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 rồi niệm ngược lại 10 9 8 7 6 5 4 3 2 1 cũng thế.
Là để kiềm tâm phóng túng vọng duyên theo sắc trần chứ không phải để thành Phật.
Khi lắng tâm tịnh định đặng rồi thời khỏi niệm.
Niệm mật chú đà-la-ni theo đạo Phật cũng vậy.
Trước là để tịnh tâm hàng phục ma quân phiền não lòng mình, sau là được chư thiên thần hộ pháp bát bộ thần linh hộ trì đánh đuổi ngũ ấm ma bên ngoài xâm phá,
hầu yên tâm tham thiền nhập định quán chiếu thông đạt chân lý dịu huyền rộng độ chúng sanh.
Chứ không phải niệm chú Phật để vọng cầu thần linh nhập tâm, nhập vào thân, thấy hào quang xẹt vào đầu, vào miệng, vào thân như các pháp môn ngoài khác.
Bởi vì đạo giải thoát của ba đời chư Phật là người tu phải làm chủ lấy mình thân và tâm tịnh định để làm chủ tự mình quán chiếu tư duy rõ ràng minh bạch về nội tâm vô vi để đạt lý bất sanh bất diệt niết bàn vĩnh cửu an lạc muôn đời.
Cũng giống như một xã hội gặp thời biến loạn, một vị minh quân thánh chủ đứng ra hướng dẫn toàn dân dẹp loạn.
Giặc loạn dẹp đặng rồi phải xây dựng tự lực, tự cường, tự chủ trên mọi mặt chứ không vay mượn bất cứ ai ngoài khác. Vì nếu vay mượn là phải lệ thuộc điều kiện của người mình vay.
Người tu tự chủ tự cường,
buổi đầu tha lực trên đường viễn du.
Sau rồi tự lực công phu,
tự cường hành pháp ôn nhu chuyên cần.
Pháp luân thường chuyển cụ tân,
khai sanh trí huệ, được gần thánh tiên.
Người tu đạo Phật mà chỉ cầu tha lực Phật thần độ cho mình mà không chuyên tâm hành pháp tịnh định quán chiếu trở về vô vi nội tâm để thông đạt chân lý,
lại vọng cầu tưởng tượng Phật thần đến dẫn dắt về thiên đường Phật quốc; thời chẳng khác nào người có chiếc xe ô tô mà không chịu tự mình đi học lấy bằng lái, tự lái, muốn đi đâu tù mình.
Chuyên mượn người lái đưa đi từ thành phố Hồ Chí Minh muốn đi về gốc tổ Hà Nội.
Nào ngờ người lái mướn đưa qua Campuchia bán mình cho kẻ xấu. Mổ lấy tim gan thận mà không hay. Lúc chết sắp đến mới hiểu ra thời đã muộn màn.
Đó quý vị nghe này mà tự hiểu thôi.
Thân xác mỗi người là mỗi chiếc xe ô tô mà luật hóa công đã bố ráp hoàn chỉnh các hệ thống thần kinh, bánh, kèn, đèn vân vân.
Do cha sanh mẹ đẻ có đủ thấy nghe hiểu biết.
Linh hồn là tinh thần của ta phải tự động làm chủ lấy mình. Phật tánh dạy thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong.
Có nghĩa thận theo luật tự nhiên thiên nhiên mà sống là đặng bền dài. Nghịch lý tự nhiên là phải đoản mạn.
Cơ thể cha mẹ sanh ra,
giữ nguyên toàn diện mới là con ngoan.
Bằng mà thay đổi ruột gan,
tu luyện tư tưởng sai đàng xưa nay.
Lúc về Phật quốc thiên thai,
kiểm tra đổi khác trong ngày mất rin.
Thế là trách phạt sửa mình.
Khi nào hoàn thiện phục sinh liên tòa.
Chừng nào hoàn thiện trở lại cũ thì mới phục hồi tòa sen được.
chiếc xe ô tô mua từ salon ra để chạy, về sao muốn trả về salon gốc.
Nếu muốn nhận lại nguyên si thì phải trải qua sự xem xét kỹ lưỡng của người đại diện.
Nếu đã thay đổi phụ tùng quá nhiều, chắc chắn không được nhận.
Cha mẹ sát phàm sanh tân quyết nhục, cha mẹ vô vi sanh ra linh hồn bất tử cho ta.
Nếu ta tu hành mà sửa đổi sai lầm vì tư tưởng điên đảo vọng cầu, không thuận theo lý tự nhiên, thời chắc chắn không thể dày đặng ngôi vị cũ là thiên đường Phật quốc, tức không thể đắc quả bộ đời niết bàn, thoát ly sanh tử khổ.
Lý tự nhiên là gì?
Lý tự nhiên là:
Thứ nhất, không sát hại chúng sanh và ăn thịt các loài có mạng sống. Đây là quy luật tiến hóa của chúng sanh vạn loại không ai đặng sát hại ai.
Thứ hai là không thay đổi dòng khí hóa tâm linh trong người, có nghĩa không tu luyện theo tư tưởng vọng cầu.
Thứ ba, không chấp rượu bảo thủ theo lối tà kiến sai lạc đường chánh kiến trong bát chánh đạo.
Sanh tử là Niết bàn, tức Phật và chư tổ sư đắc đạo đã thấy rõ.
Trong sanh tử mới có niết bàn. Người tu học theo đạo giác ngộ của ba đời chư Phật. Đi tìm niết bàn ở ngoài tâm vĩnh viễn không bao giờ có.
Sở dĩ vì sao? Vì niết bàn là tánh thanh tịnh diệu nhiên hoàn toàn xa rời vọng tâm điên đảo sanh diệt diệt sanh luân hồi lộn kiếp của ba đường sáu cõi xuống lên.
Kìa như nhìn ra mặt biển bao la, trong sanh sóng gợn, đại đa số người thích nô đùa với lượng sống nhấp nhô, bọt bèo trôi nổi.
Những chiếc thuyền đánh cá khi trồi khi hụp, ngó lên bầu trời xa thẳm, hạt bay diều đảo én liện chim kiêu gà gáy.
Xem cảnh vật núi rừng voi rống cọp gầm đêm khuya ghê rợn, làm cho tâm hồn con người có lúc cũng sợ hãi, thất thanh, có lúc cũng nô đùa gợi cảm.
Dầu có gặp cảnh trái ngang buồn khổ nhưng có lúc cũng nô đùa buông trôi theo cảnh vật sắc trần và cũng an ủi phần nào của lẽ sống trần đời, may rủi số phận.
Bối cảnh sống trong biển đời lặn hợp đầy phong ba bão tố, có những người muốn tìm nơi an nghỉ nghìn thu nhưng tìm đâu bây giờ?
Nơi đâu không có sóng gió ba đào, không cọp beo hùm gấu, nhai xương uống huyết loài người. Nơi đâu, ở đâu được an lành vĩnh cửu?
Cùng quý học giả và hành giả, đã sống trong biển đời ngũ trược ác thế rộn ràng thay đổi đổi thay liên hồi sanh sanh diệt diệt, hành giả muôn rời khỏi biển đời để đi tìm cảnh an lạc hạnh phúc trường miên vĩnh viễn không có và chắc chắn không có.
Cũng giống như người đi tìm hoa sen mà sợ bùn nhơ, không đến chỗ bùng nhơ thời không thể thấy đặng hoa sen.
Sở dĩ vì sao? Vì hoa sen vốn mọc trong bùn.
Phật và chư tố sư đã dạy sanh tử tức là niết bàn. Niết bàn đang hiện hữu trong sanh tử.
Rời cảnh sanh tử ắt không có niết bàn. Các vị hãy bình tâm lắng ý định thần để lắng nghe và tự hiểu, tự an tâm cho mình giống như thượngniếa thần quang đi tìm tổ cầu học làm Phật và cầu tổ an tâm.
Phật đâu mà lại kiếm tầm.
Phật tâm không bóng chớ lầm bớ ai.
Tâm ta vốn tự an bài,
có đâu vọng tưởng van nài cầu xin.
Tâm tịnh tự nhiên y thinh,
vô minh lầm chấp tự sinh luân hồi.
Mình còn vô minh mình lầm chấp là mình cùng ý luân hồi thôi.
Các vị lắng nghe đây.
Trong tâm con người cái ý vọng viên điên đảo sanh diệt liên hồi. Nhưng trong cái sanh diệt đó, gốc tánh nó lại không sanh không diệt.
Như cây trục và bánh xe thập nhị nhân viên có 12 cây căm. Bánh xe liên tục quay 12 cây căm hết lên rồi xuống, hết xuống rồi lên.
Các vị thấy bánh xe quay chứ cây trục cốt của bánh xe đâu có quay.
Cây trục cốt của bánh xe đâu có quay. Đúng không?
Đúng như vậy thì trí ý chúng ta không chấp theo lục trần sắc thinh hương vị xúc pháp bên ngoài.
Không duyên theo lục thức là thấy nghe hửi nếm rờ tưởng căn trong mà ngược lại an trụ trong tánh thấy nghe thường còn bất biến thanh tịnh tự tại của nội tâm.
Hành như vậy, quán chiếu như vậy từ đạt quả chánh giác không sai.
Cầu Phật ngoài tâm không có.
Phật tức tâm, tâm tức Phật.
Chân tâm thanh tịnh, diệu nhiên của mỗi người là Phật.
Người tìm Phật ngoài tâm chính diễn không có.
Lại cũng vậy, đi tìm cảnh Tây Phương của Đức Phật A Di Đà, một phương trời ngoài tâm vĩnh diễn không có cảnh Phật.
Nghe cái này nó hơi nổ lỗ tay rồi nha hông, ờ nghe cái này nó hơi nổ lỗ tai á.
Nếu có Phật có cảnh theo lòng vọng cầu, cảnh và Phật đó do ma hiện không có thật.
Đáy biển trần ai.
Đời nay thế kỷ 21 khoa học tối tân cho ta thấy rõ dưới đế biển cảnh vật rất thanh ưu tao nhã.
Cá lội cua bò xem qua rất đẹp mắt. Ở dưới biển hoàn toàn không có sóng gợn, không có tàu bè đánh cá qua lại, không có mưa gió bão bùng nhà trôi, thuyền úp vân vân.
Cảnh vật dưới đáy biển tạm gọi là Niết Bàn của nội tâm vô vi vô tướng mỗi người nếu biết tu đúng chánh pháp, sở dĩ vì sao?
Quý vị nghe lời dẫn dụ mà tự hiểu.
Nghe lời dẫn dụ tu chơn,
tự người suy nghĩ thiệt hơn tỏ tường.
Ai ơi hãy ráng kìm cương,
đường dài ngựa giỏi chân thường hiện ra.
Chừng đó sẽ hiểu Phật ma.
Xa ma gần Phật mới là khôn ngoan.
1. Đầu tiên làm các thủ tục ngồi ngồi thiền xong,
2. Thả lỏng tâm hồn không trụ chấp vào bất cứ một niệm gì cả từ từ đi vào tịnh sâu lắng bặc bặc như tờ.
Nghe thân tâm và cảnh vật xung quanh đều vắng lặn không còn nghe những tiếng động bên ngoài.
Thần thức lúc này nhập vào đại định luôn, chẳng thấy biết việc gì bên ngoài cả.
Đầu tiên bây giờ Phật tử tăng ni ráng tập như vậy cho được cái này. Cho được cái này. Đó là cái thứ nhất.
Trường hợp này giống như người lặn vào đáy nước.
Một đầu tiên hụp khỏi mặt nước, chẳng còn nghe tiếng sao động trên mặt nước mà chỉ còn nghe duy nhất tiếng quệt quệt từ xa.
Hai, lặn sâu tận đáy nước không còn ảnh hưởng gì sóng gió ba đào trên mặt nước.
Không còn cảnh sanh diệt của cõi đời ô trọc trần gian.
Không có nắng mưa sấm sét bảo bùng.
Không còn thấy người hại người ăn thịt uống huyết.
Không còn nghe tiếng khóc kể rên than thảm não.
Cảnh vật rất xinh đẹp. rất an nhiên, tự tại.
Đây tạm gọi là cảnh Niết Bàn tự tánh của mỗi người, mỗi chúng sanh. Đây là niết bàn tự tánh của mỗi người, của mỗi chúng sanh đó.
Niết Bàn ngoài tâm không có đâu quý vị ơi.
Cảnh Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà cũng giống như cảnh Niết bàn của Đức Phật Thích Ca Như Lai không khác.
Tìm niết bàn, tìm Tây Phương ở ngoài tâm chỉ tốn công vô ích.
Trên mặt biển sóng gió ba đào, gào thét dữ tợn, điển chớp mây bay, trời gầm ghê rợn, gọi là cảnh sanh tử.
Dưới đế biển an nhàn tự tại tới lui tùy ý chẳng sợ quỷ ma tinh tà quấy nhiễu gọi là Niết Bàn tự tại an nhiên.
Ba đời chư Phật và tổ sư dạy trong sanh tử có Niết Bàn là đây. Người tu hành mong xa rời biển sanh tử để tìm Niết Bàn chắc chắn không có.
Vì cảnh Niết Bàn ở tận đái biển, tức là tận nay tâm sâu lắng thanh tịnh của mình.
Có một nhà trí thức chuyên nghiên cứu chuyên nghiên cứu tiềm năng con người hỏi An Lạc Hạnh tôi vào khoảng năm 2009 rằng về mặt sinh lý con người ai cũng có.
Những vị cao tăng mà chúng tôi đã hỏi lúc mà nghiệp chướng phiền não trào dâng chúng tôi phải giải quyết nhưng túng tôi chấp nên phải khổ.
Còn các thầy cũng vậy mà các thầy thầy không chấp nên các thầy không khổ. Có đúng vậy không?
Các thầy trả lời là đúng vậy.
Còn thầy thời sao?
Đó quý vị hỏi còn như sư đây thì sao?
An Lạc trả lời:
"Mỗi người tu đạo nào cũng vậy. Người tu thời giống nhau, nhưng lối hành pháp riêng thời không ai giống ai cả.
Như mỗi người ra biển, ai cũng muốn sắm cho mình một chiếc thuyền to hoặc chiếc xà lan để khỏi bị sóng gió nhận chìm.
Còn tôi ra biển, tôi không cần đóng thuyền to mà tôi đóng chiếc thuyền rất nhỏ để một mình tôi đi. Chiếc thuyền nhỏ lặn
dưới đáy nước, sóng gió trên mặt biển chẳng làm gì được tôi cả."
Vị kia bảo:
"Thầy có gì làm bằng chứng?"
An lạc đáp:
"Vị thấy trên bát quái lòng giữa tròn có hai quần đen, quần trắng đen chứ?"
Vị kia bảo "tôi thấy"
An Lạc đáp: "Đúng vậy. Người tu hành pháp đúng chân lý hiện rõ âm dương hợp nhất là đây."
Tâm tịnh hợp nhất âm dương,
hiện bài đen trắng tỏ tường xưa nay.
Bát quái lòng giữa bày khai.
Thân tâm thanh tịnh có ngày nên công.
Tóm lại sanh tử là Niết Bàn. Qua lời dẫn dụ hành giả học giả nghiên cứu tin tường thì các vị sẽ hiểu rõ Phật dạy trong phiền não tức có Bồ Đề là đây.
Nếu người tu chơn theo đạo Phật mà không hành pháp trở về nội tâm vô vi của mình để quán chiếu tìm hiểu sự thật của phiền não dục vọng từ đâu sanh ra và diệt mất đi về đâu, không quán chiếu tận tường cội nguồn của phiền não, không hiểu rõ hai lẽ chơn và vọng như trong Thủ Lăng Nghiêm đã dạy thì làm sao có được cái hiểu biết chắc thật là tánh giác thường trụ là Bồ Đề.
Trước khi dứt lời, chúc tất cả quý thiện hữu nam nữ xa gần thân tâm an lạc. Bồ Đề kiên cố, đạo quả chóng thành.
Sanh tử là cảnh phàm phu.
Niết bàn là cõi thanh ưu an nhàn.
Phiền não là gốc buộc ràng,
Bồ Đề giác tánh phá tan ngục tù.
Nam mô Long Hoa hội Thượng Phật Bồ Tát.
Trước khi dứt lời, chúc tất cả quý tăng ni và Phật tử nam nữ thân tâm an lạc, bồ đề kiên cố và kiên định trong lập trường đạo đức của mình trên bước đường tu chân học Phật.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tới đây kết thúc.
Back to section
Birth and Death Are Nirvana
A long-form transcript on birth and death, delusion, and true mind.
Birth and deathNirvana