🔗Biển Đại Giác
🔗Biển ái sóng tình còn lặn hụp.
Muôn đời ngàn kiếp mãi lăn trôi.
Ai người trí giả mau nên nhớ,
tỉnh giác hồi đầu chứng ba la.
🔗Nhắn gửi bạn đồng tu.
🔗Tất cả chúng ta là những người lạc bước phong trần đi tìm về bảo sở. Tất cả các loài chúng sanh vạn vật đều từ một bản thể mà ra. Dầu cho loài hữu tình hay vô tình, hữu tưởng hay vô tưởng trong vũ trụ thiên nhiên như nhiên tự tại bất sanh, bất diệt mãi mãi cùng một cội nguồn sanh hóa, tất cả đều có tánh Phật. Tánh Phật là tánh an nhiên như nhiên tự tại bất sanh bất diệt mãi mãi trường tồn theo thời gian không gian không thêm không bớt. Tất cả các linh căn đều từ một tánh sáng mà ra. Tánh sáng đó người xưa gọi là tánh sáng của Thái Cực, cũng còn gọi là tánh trời. Do vậy mà mỗi mỗi chúng sanh linh căn đều có một linh tánh, nhận biết các pháp dở hay hư nên thành bại. Linh tánh ấy là một phân tử tánh sáng của Thái Cực, nôm na gọi là một chiết hồn của Thượng Đế. Như vậy tất cả loài người loài thú bò bay máy cựa, loài trên mặt đất, loài dưới nước, trong bụm cây hang thẳm hố sâu, không chân, hai chân, bốn chân, một chân, nhiều chân, không chân, rồi có cánh, loài không cánh đều là con chung của Thượng Đế, Mẫu Hoàng. Đều là anh em một cội mà ra, dầu cho loài chúng sanh nào tiến hóa đến cùng tột nhìn về gốc nguồn cũng là con chung của Thượng Đế Mẫu Hoàng. Thượng Đế là vị lãnh đạo tối cao của hai cõi âm dương, thể hiện công lý đem lại công bằng cho chúng sanh vạn loại. Cũng ví như một nhà vua một chủ tịch nước một tổng thống của thế gian không khác.
🔗Nói điều này khi nghe qua chắc có nhiều người trong giáo lý Phật Đà phản cảm không ít. Đúng vậy, sở dĩ vì sao? Vì người tu Phật giáo đa phần nghĩ rằng Phật là cao siêu hơn tất cả ba cõi trời thần người. Quả thật như vậy. Nhưng cao siêu là cao siêu về việc gì, mỗi người chúng ta phải hiểu rõ. Cần hiểu rõ đây không lầm lẫn mà lạc vào mê tín dị đoan và ngang tàn bất tín, không lạc vào tà kiến, biên kiến, thiên kiến, thường kiến, đoạn kiến của thiên ma quỷ đạo. Có như vậy chúng ta mới có chánh kiến, chánh tín thực hành đúng bát chánh đạo để đắc quả vị Chánh Biến Tri Giác của mười phương chư Như Lai.
🔗Chánh kiến nhận nhìn thật khó thay.
Chánh tâm hành đạo dễ đâu rày.
Chính trơn lời thật không xiên xéo.
Chánh Tín nhu cầu quả Như Lai.
🔗Cùng tất cả quý tín hữu, đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni ra đời đã quá lâu xa cách nay hơn 2.500 thế kỷ, kinh sách thời tam sao thất bổn, chỉ sao đi sao lại ba lần là đã mất gốc. Hà huống gì sao đi sao lại trên cả chục lần. Khi đức Phật Thế Tôn nhập diệt chỉ mới 200 năm là chư tăng ni đa phần đã bị lai căn theo các giáo đạo ngoại truyền của bà-la-môn. Nhẫn đến hôm nay 2.567 năm là như thế nào? Tất cả quý vị thử nghĩ xem chúng ta có nên xét lại không, có nên tư duy lại không, có nên rà lại cho chính xác không?
🔗Nhìn về phật giáo Việt Nam chúng ta hiện tại có ba hệ phái chính.
🔗Một là Bắc truyền từ Trung Quốc sang. Tăng ni mặc y phục hoàn toàn giống người Trung Quốc.
🔗Nam truyền từ Campuchia đến, tăng ni mặc y phục hoàn toàn giống người Campuchia.
🔗Hệ Khất Sĩ mọc lên từ trong nước, mặc y phục bên trong giống người Việt Nam, bên ngoài giống chư tăng Khmer.
🔗Người không hiểu chỉ nhìn bên ngoài của người tu hệ Khất Sĩ là tiểu thừa, nhưng họ đâu có hiểu người tu hệ Khất Sĩ khi mới vào đạo là hoàn toàn mặc quốc phục Việt Nam truyền thống quần áo dài. Người tín đồ quy y mặc áo dài trắng quốc phục trong kinh Pháp Hoa, phần Như Lai Thần Lực Phật bảo nhà Bạch Y có kinh Pháp Hoa đó cũng gọi là đạo tràng.
🔗Bạch y tức là người tu cư sĩ trong đạo Phật. Vậy nên ai là người thọ giới cư sĩ tại gia nên mặc bạch y theo kinh Pháp Hoa mới đúng là cư sĩ chính thức. Còn chư tăng ni đắp y mới mặc giống sư sãi Khmer, chư ni khi đắp y mới mặc y thượng giống Khmer.
🔗Như vậy Bắc truyền gọi là đại thừa Phật giáo, Nam truyền gọi là tiểu thừa Phật giáo, còn hệ khất sĩ là đại thừa hay là tiểu thừa? Theo chân lý Sư Tổ Minh Đăng Quang 69 quyển ngài đã thuyết giảng sâu xa về bản thể chân không huyền diệu, mà theo quyển sách điển quang của ông Nguyễn Trung Trực, một tiến sĩ thần học trong đạo Tin Lành bảo "Bụt nhà không linh" nên ít có người biết đến. Phật dạy hệ Khất Sĩ không phải là đại thừa mà cũng không phải Tiểu thừa. Đây chính là trung thừa tiến đến Phật thừa của 10 phương chư Như Lai.
🔗Bởi vì trong chân lý tổ sư đã nói rõ: cây bồ đề xứ Ấn Độ đã già nua cằn cỗi. May mắn thay có một rễ cái ăn sâu vào lòng đất xuyên suốt đến Việt Nam mọc lên một cây mới đó là đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam. Nên chi trong hệ Khất Sĩ có hai câu châm ngôn:
🔗Nối thuyền Thích Ca chánh pháp đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.
🔗Đạo Khất Sĩ chính thức là đạo nhất thừa của 10 phương chư Như Lai. Lối trang phục cư sĩ mặc Bạch Y Theo Kinh Pháp Hoa, còn tăng ni trang phục bên trong giữ gìn quốc phục Việt Nam, bên ngoài khoác lên mình giống đạo Phật Ấn Độ. Nhắc lại theo lời của Trưởng lão Thích Giác Lương, thị giả của tổ sư lúc sinh tiền đã thuật lại: trước khi khai mở hệ phái Khất Sĩ, tổ sư có tham kiến với thiền sư Minh Trực ở Sài Gòn và hòa thượng Thiên Thai Bà Rịa về quan điểm của mình. Nhìn thấy hệ Bắc truyền đại thừa Phật giáo có trường trai giới sát mà không đi trì bình khất thực như Phật thuở xưa. Còn Nam truyền có đi khất thực mà vẫn dùng tam tịnh nhục cũng khác Phật xưa. Ngài định khai mở giáo lý trung thừa giữa hai hệ phái, rút tỉa tinh hoa của hai hệ phái lập thành Khất Sĩ vừa khất thực tuyệt dục như Nam truyền, vừa trường trai tuyệt dục như Bắc truyền để hóa độ chúng sanh, được hoà thượng thiên thai và thiền sư Minh Trực tán đồng.
🔗Trước khi khai mở hệ phái Khất Sĩ tổ sư Minh Đăng Quang ngài đã quán triệt hai hệ phái Bắc và Nam. Một ngày nọ, ngài định ngồi tàu ra Phú Quốc để tìm cách ra nước ngoài hầu tìm lại nguồn xưa của ba đời chư Phật nhưng trễ tàu. Ngài ngồi tọa thiền trên tảng đá tại Mũi Nai Hà Tiên tham thiền nhập định bảy ngày. Sau cơn thiền định nhìn ra mặt biển thấy trùng trùng những lượn sóng đùa liên tục và liên tục không dừng. Song song thấy những chiếc thuyền đánh cá hụp trồi theo lượng sóng nhấp nhô, trồi hụp. Khi sóng lên thyền nhô lên cao, sóng xuống thuyền hụp xuống mất dạng. Thuyền đánh cá mãi mãi hụp trồi theo lượng sóng mà vẫn không chìm, vẫn hiên ngang ngoài biển khơi. Ngài đã ngộ đặng lý vô thường của tâm thức. Thiền trí huệ nơi tâm vẫn kiên định trong lập trường nhất quán chánh niệm. Ý chí không lay chuyển vì những lượng sóng đùa của biển ái tình dục vọng diệt sanh. Trí ý như tài công công luôn bình tĩnh giữ gìn tay lái kiên định không hoang mang hoảng loạn sẵn sàng lướt sóng vượt trùng dương tiến đến bờ đã định.
🔗Thế là ngài ngộ nhập đặng chỗ này, nên đã đắc đạo. Sau khi rời câu hỏi Mũi Nai về ngang nhà cụ ông Nguyễn Tùng Hiếu là thân sinh cốt nhục, ngài đã báo: "Phụ thân, tôi đã đắc đạo". Cụ ông ngơ ngác không hiểu tại sao. Đây là lịch sử của tổ sư Minh Đăng Quang người sáng lập ra hệ phái Khất Sĩ Việt
🔗Nam. Nhìn đi nhìn lại, đạo Phật Khất Sĩ đúng là Phật giáo Việt Nam, hay cũng gọi là Việt Nam Phật Giáo. Bởi bên ngoài nhìn vào là y thượng giống Ấn Độ mà bên trong rặc Việt Nam.
🔗Khất Sĩ hành trì đạo chánh chơn.
Thích Ca truyền nối chẳng thua hơn.
Mở đường chánh giác Như Lai ý.
Cứu thế độ sanh chuyển thượng ngươn.
🔗Lại nữa, trong thời chiến tranh nổi loạn, Phật giáo bị đàn áp 1963. Chư tăng ni cũng đã hi sinh vì đạo pháp, vì dân tộc, đổ máu quá nhiều. Vị pháp thiêu thân cụ thể là hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, được thay đổi chế độ. Chẳng riêng gì một hòa thượng mà còn nhiều vị đã tự thiêu nhưng không được nhắc đến. (Trích lời sư: nhiều người kỳ đó nhiều người tự thiêu lắm.)
🔗Hòa thượng Thích Quảng Đức là một vị Phật Bồ Tát tự thiêu mà trái tim bất diệt đốt không cháy.
🔗Pháp nạn 1963 cũng là cơ duyên mở màn cho một vận hội mới. Một vận hội thống nhất các hệ phái Phật giáo trong cả nước. Năm 1963 có những hiện tượng lạ là ở núi Bửu Long, giếng nước phía trước chùa Bửu Phong cổ tự thời vua Gia Long lánh nạn Tây Sơn nạo vét cho binh sĩ uống. Nay có Phật Bồ Tát Quan Âm thị hiện trên không trung giáng xuống tại giếng, nhiều người khắp các tỉnh thành phía Nam đến xin nước khi uống được dứt bệnh. Cũng năm 1963 xứ bến gỗ có cây sứ thân hình hiện ra thân tướng Phật Bà Quan Âm. Và cũng năm này nhiều cây chuối sứ trổ bắp giống hoa sen. Cây chuối mọc lên các cây chuối con quanh gốc giống in hoa sen có hình kỷ niệm. Đây là những biểu tượng Phật giáo bị nạn ắt có Phật ra đời cứu độ chúng sinh. Việt Nam có nạn ắt có thánh xuất hiện. Sau khi chế độ miền Nam thay đổi từ Ngô Đình Diệm đến Dương Văn Minh, rồi Nguyễn Khánh, rồi Nguyển Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu. Kế chiến tranh Việt Mỹ Phật giáo một lần nữa đứng ra đòi quyền tự quyết, đòi hòa giải dân tộc của nhân dân miền Nam. Trong đó hệ Khất Sĩ có ni trưởng Huỳnh Liên và tăng ni các hệ phái. Hòa thượng Giác khai ở ba Xuyên, cậu hai Đạo Dừa ở Mỹ Tho, các nhà trí thức sinh viên học sinh kể cả bà Luật sư Ngô Bá Thành, Kiều Mộng Thu, thượng nghị sĩ Hồng Xuân Đông, các dân biểu Lý Quý Chung, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Hữu Chung, Hồ Hữu Tường, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Chánh Trung, Huỳnh Tấn Mẫm vân vân từng tham gia đòi hòa bình cho dân tộc. Đây là tấm gương sáng của Phật giáo, của các tôn giáo Việt Nam. Vì đạo pháp vì chúng sanh vì dân tộc mà dấn thân không ngại sự tù đày sống chết. Một điều cũng đáng thương tâm mà mọi người dường như quên lãng: chính sinh viên du học Hoa Kỳ tham gia phong trào phản chiến bị trả về nước vừa bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất bị kẻ lạ mặt bắn gục chết nằm trên vũng máu đào quê mẹ chẳng ai biết lý do. An Lạc Hạnh tôi đã tế trên tờ báo tin sáng rằng:
🔗Trải mặt phơi an không sờn trí cả.
Sóng gió ba đào anh chẳng ngại gian nguy.
Nguyển Thái Bình ơi anh đã chết vì bị cuồng si.
Hai tâm não mang một bầu nhiệt huyết.
Nhớ linh xưa, nơi đất khách với bao sắc đèn mài miệt.
Anh gắn bồi cho đất nước một hoa sinh.
Anh hăng say trong công cuộc hòa bình.
Nhưng nay hỡi còn đâu người chiến sĩ.
Nguyễn Thái Bình ơi, chiến tranh còn đó mà thể xác anh đã tàn.
Lòng đất mẹ nát tan mà đứa con yêu đà vắng bóng.
Ôi dân tộc Việt Nam biết bao phen kỳ vọng rồi lặng nhìn trong nuối tiếc thương đau.
Anh đã chết chết như bao chiến sĩ anh hào.
Nhưng anh vẫn sống, sống mãi trong lòng dân Việt.
Ai đã giết anh, giết vì lòng vị biệt hay vì mưu đồ của kẻ ngoại bang.
Đốt tâm Hương nguyện cho hồn anh thanh thản với mây ngàn.
Vui lạc cảnh giải tan niềm sầu hận.
🔗Sau mùa pháp nạn của Phật giáo đồ Việt Nam 1963, thời 1964 của năm Giáp Thìn, quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam 500.000 quân. Thế là chiến tranh bùng nổ dữ dội đúng với câu sấm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên đoán:
🔗Long vĩ Xà đầu khởi chiến tranh.
Can qua xứ xứ khởi đao binh.
Mã đề Dương cước anh hùng tận.
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.
🔗Và kết thúc chiến tranh Việt Mỹ đúng với câu sấm của Phật Thầy Tây An buổi sơn kỳ hương:
🔗Gầm trời 3 tiếng âm thinh.
Lạ quê lạ kiểng bình minh lạ người.
🔗3 tiếng sấm trời tung nổ lập đời thượng cổ về năm 1974.
🔗Một, tiếng nổ tại núi đá chồng xứ Ninh Thuận quê hương ông Thiệu. Trời bứng gốc ông Thiệu vì ông cha là Chiêm Thành, mẹ Việt Nam, tuy có hiệp định Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973 nhưng ông không chấp nhận thi hành.
🔗Tiếng thứ hai tại con rùa vàng cận dinh Độc Lập của ông Thiệu. Rùa vàng bung lên, trời bứng chức vụ không cho ông tiếp tục chống đối hòa bình.
🔗Tiếng thứ ba, nổ tại núi Cấm.
🔗Năm 1975 ngày 30 tháng 4 quân cách mạng tấn công vào Sài Gòn, Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện đúng với câu trong sấm trạng Trình:
🔗Bảo Sơn Thiên tự xuất - hay là bảo giang thiên tử xuất.
🔗Bất chiến tự nhiên thành.
🔗Và cũng đúng với câu sấm Phật thầy:
Thiên địa tân tạo Việt Nam phục nghiệp nguyên tiền quốc yên.
🔗Một điều rất thương tâm, đau đớn xót xa là khi Mỹ đưa quân vào Việt Nam 1968 cách mạng tổng tấn công vào miền Nam 30 Tết, nước Mỹ lâu nay được gọi là anh hùng thế giới do cuộc tấn công này mà chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị hòa giải hòa bình mất tiếng anh hùng, đồng thời cũng đúng với câu "Mã đề Dương cước anh hùng tận", quân đội Mặt trận giải phóng chết thảm muốn hết. Điều này sấm
🔗ông Tứ Thánh nói trước:
🔗Thương thay chú Cộng chân dầm.
Vào sanh ra tử lại lầm kế ai.
🔗Phật thầy Tây An báo trước sau này ngài sẽ trở lại trần gian đạo đời bằng câu:
🔗Chừng nào gốc mộc đâm chồi,
thời thầy được lệnh tái hồi trần gian.
🔗Những giai đoạn chiến tranh tàn khốc của đất nước thân yêu, Việt Nam được lập lại hòa bình thống nhất tổ quốc Bắc Nam sum họp một nhà, lập lại đời mới thời song song Phật giáo cũng được phục hồi khai bài chánh pháp của 10 Phương chư Như Lai.
🔗Ba tiếng sấm vang được lập đời.
Thiên cơ bí mật bớ người ơi.
Bình tâm hạ khí mau suy xét.
Chớ vội chấp lầm mất thảnh thơi
🔗Thảo nào trong thời Mạt Pháp Ma Vương Xuất hiện mượn danh nghĩa Phật giáo dạy nhiều cách sai lạc đưa người tín tâm vào con đường mê tín dị đoan hoặc ngang tàn bất tín. Nào là Như Lai thiền, Pháp Hoa thiền, Ruma thiền, tổ sư thiền, Tịnh Độ, mật tông mật chú Đà La Ni vân vân. Tu hành có chồng có vợ vẫn đắc quả Phật, vẫn đắc pháp thiền, vẫn đắc thần thông. Làm cho những người non lòng nhẹ dạ tin lầm, ham linh nghiệm mất chánh kiến, mất chánh tín, mất chánh tâm, hành sai chánh đạo lạc vào ma đạo, quỷ đạo đời đời kiếp kiếp chẳng được siêu thoát. Chúng ta phải hiểu niệm Phật Di Đà, tu thiền định, niệm mật chú Đà La Ni đây chỉ là phương tiện buổi đầu của người tu học Phật khắc phục nội tâm kiềm chế lòng ái dục mà thôi chứ chưa phải là cứu cánh giải thoát. Đây chỉ là pháp nhị thừa Thanh Văn Duyên giác chứ chưa phải pháp hành của hàng Bồ Tát Đại thừa. Bồ Tát hành pháp đại thừa là pháp hành tự tánh. Sau khi đã đại ngộ tự tánh Bát Nhã dầu có đi đứng nằm ngồi ăn mặc nói gì cũng thường an trụ trong thanh tịnh vô vi vô tướng chứ chẳng cần các pháp tướng hữu vi thủ tướng. Tuy nhiên vì để làm gương cho đoàn hậu tấn, chư Bồ Tát cũng không bỏ pháp hữu vi mà chấp hẳn vô vi. Có nghĩa bồ tát hành pháp vô vi mà là hữu vi, hữu vi mà vô vi tùy duyên chuyển hóa để dẫn dắt người lạc bước phong trần trên đường tìm về bảo sở.
🔗Lại nữa, mục đích của người tu học giải thoát là cái khắc phục dục tình ái ố mới thành tựu đạo quả. Thời nay người dạy có gia đình vợ chồng con cái đùm đeo là giải thoát chỗ nào? Quả thật Phật dạy câu rất chí lý: "sư tử trùng thực sư tử nhục". Nghĩa là đạo Phật không có một thiên ma ngoại đạo nào phá được mà chỉ có người mượn danh đệ tử Phật mới phá được đạo Phật mà thôi.
🔗Có một học giả đến hỏi: theo như tôi nghĩ sao về điều này mà như vị đó đã hỏi những vị cao tăng như:
🔗"ba vị cao tăng ở Sài Gòn đã đồng ý với chúng tôi là về mặt sinh lý khi trong lòng mình nó đòi hỏi, chúng tôi giải quyết nhưng chúng tôi chấp nên chúng tôi phải chịu rối khổ. Còn quý thầy cũng giải quyết mà quý thầy không chấp nên quý thầy không bị rối khổ, theo thầy thì sao?"
🔗Tôi đã trả lời rằng những vị cao tăng mà đồng ý như lời hỏi của quý vị, thật ra các vị cao tăng đó không hơn quý vị chỗ nào cả. Bởi cớ sao ? Về mặt sinh lý người tu hơn người đời là ở chỗ đó. Cũng giống như người sống độc thân trong sáng hơn người có gia đình. Người tại gia có quan niệm sống chủ nghĩa độc thân là họ đã có một ý chí làm chủ mình không bị lệ thuộc người khác. Không bị lệ thuộc tư tưởng dục tình, tức là người muốn sống tự do theo chí nguyện.
🔗Như bà Triệu Ẩu đã thốt với anh là Triệu Quốc Đạt: "Tôi muốn cỡi cơn gió mạnh đạp làn sóng dữ chém cá Tràng Kình ở bể Đông quét sạch bờ cõi để cứu dân thoát qua cơn đắm đuối, chứ không bắt chước thường tình cong lưng cúi đầu làm tỳ thiếp người ta".
🔗Một võ sĩ yêu nghề chuyên luyện tập đã có vợ nhưng vẫn quên lãng người vợ không đói hoài đến người vợ phòng không trống vắng đợi chờ là tại sao? Các vị cứ suy nghĩ đi, một tu sĩ có lập trường dứt khoát giải thoát ra khỏi ngục tối âm u mà còn nặng vì tình dục thì làm sao giải thoát đặng?
🔗Nên nói người tu giải thoát mà giải quyết sinh lý như người trần tục thì thử hỏi Phật Thích Ca xưa lúc còn là thái tử bỏ cung vàng vợ đẹp con xinh vào rừng tìm tu giải thoát. 5 năm lạc đạo, 6 năm khổ hạnh rừng già mới tìm ra chân lý là như thế nào? Người tu hành xuất gia mà còn lệ thuộc tình dục, giải quyết tình dục như người tại gia quý ông vẫn có vợ chồng con cháu thì người đó đã thua ma vương, thua quỷ vương rồi. Thời sao gọi là người xuất gia cắt ái được?
🔗Nên nói thà làm người tại gia để sống cho tốt tránh ác lầm lành giữ lòng trong sạch được Phước khỏi tội còn hơn mượn đạo tạo đời hưởng của bá tánh, về sau khó tránh khỏi địa ngục A-Tỳ nhốt phạt.
🔗Học giả đã hỏi: như vậy là thầy hành đạo như thế nào?
🔗Tôi đã trả lời rằng: mỗi người có một sở kiến, một tri kiến riêng, một hiểu biết riêng. Theo tôi thời khi đóng thuyền ra biển chắc chắn sẽ bị sóng gió. Thường thường thì ai ai cũng mong đóng thuyền cho lớn hoặc đóng xà lan để khỏi bị sóng gió nhận chìm, còn tôi thời khác. Tôi không đóng thuyền lớn như họ mà tôi đóng thuyền ngầm rất nhỏ, một mình tôi đi mà thôi lặn tận đáy biển sóng gió không làm hại rằng tôi.
🔗Học giả: chiếc thuyền ngầm có thầy nó sẽ đụng đá ngầm tan rã.
🔗Tôi đáp: thuyền ngầm của tôi có cặp mắt rất sáng thấy xa phát hiện được tất cả đá ngầm phía trước. kể cả cá mập, cá ma kiệt. Nó tránh được hết
🔗Học giả: thầy nói có chi làm bằng?
Tôi: có chớ, tôi không hề nói vu vơ vô bằng cớ.
🔗(Sau khi trưng bằng cớ thì học giả nói đẹp quá vân vân)
🔗Khó tin khó hiểu đâu là thật
Có thấy có nghe mới ngộ ra.
Thật giả, giả thật là chính thế.
Phật ma ma Phật cũng là ta.
🔗Cùng tất cả quý vị tín hữu, đức Phật Thích Ca đã dạy nếu có một cái nghiệp nào lớn bằng nghiệp ái dục thì ba đời quá khứ hiện tại vị lai không có một chúng sinh nào tu thành Phật. Đúng vậy người tu xuất gia cần khắc phục nghiệp ái dục. Ái dục là một cái nghiệp lớn nhất khó chế ngự, nhưng chế ngự nó được thời mới thành công đắc đạo. An Lạc Hạnh tôi qua sự hành đạo quán chiếu khẳng định rằng: tình dục là cửa ải đầu tiên ngăn cản người thành công đắc quả, nhưng nó cũng là nhịp cầu thứ nhất đưa ta vào biển đại giác.
🔗Người tu đúng pháp Phật là giữ tâm thanh tịnh đi vào đại định để hội tụ năng lượng tạo thành sức mạnh tâm linh đối kháng tư tưởng nhiễm trược. Ngoài ra phải bố thí phóng sanh tích tạo phước điền mới về cõi trời cõi Phật. Cũng như muốn lên cao là phải góp nhặt từng khối đá chồng lên chứ đâu phải ngồi không van xin mà bề trên tự cho lên. Có nghĩa không phải ngồi niệm Phật xuyên suốt, tu thiền định xuyên suốt, niệm mật chú xuyên suốt mà được đắc đạo cao trên như các lý thuyết xuông.
🔗Niệm phật, tu thiền, niệm chú là những phương tiện buổi đầu cho người tín tâm tu theo nẻo Phật. Đó chỉ là ngoài da mà thôi. Mượn câu niệm phật niệm chú tu thiền là để khắc phục tánh dục buổi đầu. Chính nhiều người tu là đã có vợ chồng thỏa mãn lòng ái dục mà vẫn còn phóng tâm quơ quào ngoại tình dâm loạn bừa bãi, không biết xấu hổ mặt chai mày đá chẳng biết sỉ nhục là gì. Tánh dâm loạn là tánh thú, mãn kiếp người chắc chắn không trở lại làm người được nữa.
🔗Kìa như trong truyện Tây Du Ký luận giải về ý thức tâm linh rất chuẩn: Thiên Bồng Nguyên Soái trên thiên cung do mê sắc đẹp của Hằng Nga mà bị đọa làm heo trong rừng. Tánh mê sắc dục là tánh thú, cũng là tánh heo chuyên ham ăn mê ngủ. Tánh ái dục vọng tưởng cuồng loạn lớn mạnh như sống biển giữa đại dương, như tiếng gào thét rùng rợn của loài quỷ dữ giữa rừng hoang dã u minh đen tối. Câu niệm Phật Tịnh Độ, pháp tu thiền định, pháp tu mật chú Đà La Ni là để ngăn ngừa vọng tưởng cuồng loạn phóng tâm dục nhiễm, hầu tiến đến nẻo Phật. Nếu không còn phóng tâm vọng tưởng cuồng loạn thời cũng đâu cần niệm Phật, thiền định, mật chú làm gì. Bởi những câu niệm Phật, niệm mật chú cùng thiền định là để đối trị lòng ái dục vọng tưởng cuồng loạn buổi đầu sơ khởi mà thôi.
🔗Nên nói cái gốc tu Phật là giữ thân tâm thanh tịnh tư duy quán chiếu nội tâm ngoại tướng, mổ sẻ chia ly từng phần để thông suốt giả chân, hầu trở về sống với bản tánh chân thường của chính mình xa rời các giọng giả đảo điên rối loạn. Bản tánh chân thường hằng thường hằng tịnh nghe qua rất là tầm thường. Nhưng do chỗ tầm thường người quán chiếu ra nhận biết xác thật nó sẽ trở thành chân thường bất sanh bất diệt.
🔗Mỗi người tu Phật phải nhìn kỹ lại trong tâm của mình đi. Mỗi ngày ý dục của mình nổi lên mấy lần, trong một tuần một tháng cộng lại bao nhiêu lần. Nếu muốn biết thời hãy theo đạo Thánh của người xưa, lấy đậu đen và đậu trắng làm ký hiệu. Mỗi ngày khởi lên bao nhiêu tánh xấu, mỗi ngày khởi lên bao nhiêu tính tốt. Mỗi một niệm tốt bỏ một hột trắng, mỗi niệm xấu bỏ một hột đen. Cộng lại mỗi tháng cái nào nhiều hơn cái nào là tự biết mình siêu hay đọa. Trắng tinh không hột đen là chắc siêu về thượng giới, bằng đen hết thì chắc đọa vào đại địa ngục môn. Trắng nhiều đen ít hay là đen nhiều trắng ít thì tùy duyên mà siêu hoặc đọa theo nghiệp lực của mình tự tạo nhiều năm tháng hay là nhiều kiếp số.
🔗Người niệm Phật, thiền định, mật chú mà còn đầy lòng tham ái dục vọng làm sao mà về đặng Tây Phương của đức Phật A Di Đà. Một người đời sống tại gia có hai vợ đã bị người khác biếm nhẽ. Một cán bộ có hai vợ là bị hạ tầng công tác. Một người tu sĩ tiếng nói giải thoát mà có hai vợ, thậm chí có đến ba vợ, bốn vợ, năm vợ mà không sợ thế gian biếm nhẽ là như thế nào? Đời sống văn minh hiện tại xã hội chủ nghĩa không còn đế chế độc quyền như xưa, không cho phép đàn ông có nhiều vợ. Tất cả loài người chúng ta nghĩ gì về người láo dối, dối mình, dối gia đình, dối người thân, dối cả trời Phật thánh thần hồn thiêng sông núi.
🔗Người đó có tội hay là phước, hỏi tức là đã trả lời mong tất cả mọi người sống sao cho tốt đời đẹp đạo.
🔗Nặng về sắc dục người mờ mắt.
Láo dối mẹ cha gạt bạn thân.
Tạo tội chướng duyên sau khó trốn.
Ngục môn đền trả nặng ngàn cân.
🔗Người xưa dạy làm thầy thuốc mà lầm giết chết một mạng người. Làm thầy giáo mà lầm giết chết một thế hệ trẻ. Là một nhà chính trị mà lầm giết chết cả một dân tộc. Là một nhà truyền đạo mà lầm giết chết linh hồn của chúng sinh vạn loại. Ai đã nhìn nhận mình lầm thì nên sửa sai, biết sửa sai là người tốt. Một chúng sanh được sinh ra là do tinh quyết của cha mẹ hợp thành. Đây cũng là do lòng ái dục của cha và mẹ mà có mình. Trong tình yêu thương đó, thân và tâm của mỗi mỗi người con đều hàm xúc hiện sinh tình ái dục của cha mẹ đó. Mà đây cũng chính là do quy luật âm dương kết hợp của tạo hóa mà hóa sanh. Nên mỗi nam nữ khi lớn lên đúng tuổi dậy thì đều phát sinh tính dục vọng cầu ham muốn. Người bộ tộc ban sơ tính dục còn đậm đặc, do từ loài thú khỉ vượn tiến hóa chưa có lễ giáo nên quan hệ tình dục bất phân phải quấy. Kể cả cha mẹ lấy con, anh lấy em vân vân.
🔗Sự tiến hóa càng ngày càng văn minh tiến bộ càng sáng suốt, càng phát triển tư duy mới chuyển mình thành bộ lạc. Lập kỷ cương phân biệt nòi giống càng thấy luồng tuông càng xấu hổ, càng ngoan cường bất tín càng gây tội ác xâm phạm đến sinh mạng đồng loại thế là tiến lên lập thành đế chế đế quyền dạy đạo đức lễ giáo nhân luân lập ra pháp luật ngăn ngừa kẻ xấu ác bảo vệ người hiền lương chân chất. Đế quyền trong thời kỳ quá độ sinh ra độc tài độc đoán độc ác vô độ, tự chuyển hóa sanh ra tư chế tư quyền giành lại những gì mình đã có. Có tự do có nhân quyền quá trớn của kẻ mạnh hiếp yếu bên ngoài gọi là tôn trọng trẻ em, tôn trọng phụ nữ mà thật ra chi lợi dụng người nữ và trẻ em để lợi dụng mồ hôi nước mắt của kẻ vô thức, tạo cuộc sống cho phe phái mình. Sống chỉ biết có tiền và quyền lực xem con người như loài dã thú. Mãn đời suốt kiếp làm trâu bò đi cày bừa cho kẻ giàu sang sinh sống. Ai đi nghịch pháp luật là tự sát cũng giống như sống tự do trên chiếc xà lan giữa biển khơi, ai rời xà lan là làm mồi cho cá mập. Từ chỗ kẻ giàu ủy quyền cậy thế cấu kết với nhau nhau bóc lột người nghèo khó lấy máu người nghèo khó rồi cho lại những lon sữa tươi, người vô thức tưởng như là mình được ưu đãi trọng hậu, thật đáng thương. Chính người nghèo khó bị bóc lột tinh vi thế là chuyển biến sanh ra công chế của giai cấp công nông phân quyền, lập lại nếp sống mới tự do tự trị của thời xa xưa bộ tộc. Đời bộ tộc là đời thượng cổ thuở xa xưa. Con người từ loài thú mới tiến hóa nên chuyên ăn lông ở lỗ, tâm hồn còn rất chân thật. Đời thượng cổ ngày nay quá văn minh tiến bộ lập lại đời mới con người mới tự do tự trị bất chấp tội phước, vô đạo đức, vô kỷ cương không hiểu nhân quả là gì, mặc tình tạo tội ác với người chung quanh. Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Mẹ Diêu Trì Kim Thánh Mẫu, Tam Cõi Hội Đồng mới sắc chỉ phải có một vị Phật Bồ Tát ra đời nhất sanh bổ xứ xuống trần chuyển pháp luân lập lại kỷ cương, lập lại nền tảng văn hóa đạo đức nhân bản nhân văn ngàn đời cho ba cõi trời thần người nhờ ân vũ lộ.
🔗Thượng Đế Mẫu Hoàng ái chúng sanh.
Hạ ngươn chuyển thế tạo duyên lành.
Cho người tái kiếp lâm trần tục.
Khai mở hội thi dứt chiến tranh.
🔗Tôi An Lạc Hạnh tha thiết kêu gọi tất cả mọi người trên thế giới, mọi chúng sanh trong hoàn vũ này hãy mở rộng tư duy, quán xét mọi việc cần khách quan, khách quan trên mọi khía cạnh của cuộc sống mở rộng lòng nhân ái thương người, thương vật, thương mình. Tự bảo tay mình bảo vệ gia đình mình, bảo vệ xã hội mình, bảo vệ tôn giáo mình, bảo vệ đất nước mình, người có đạo hoặc người không đạo hai cõi âm dương hãy trở lại sống với lối sống văn hóa truyền thống ngàn đời của dân tộc mình. Xóa bỏ mọi hận thù oan trái khổ đau, tránh gây xung đột giết hại lẫn nhau, tránh tạo cảnh chiến tranh thù hận. Hãy tương thân tương ái sống chung hòa bình hạnh phúc. Hãy trả tự do lại cho mỗi người, mỗi loài đúng theo chân lý và công lý do thiên đình hoạch định.
🔗Nhân danh là sứ giả của đấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Mẹ Diêu Trì Thánh Mẫu và mười phương chư Như Lai khai sáng đường sanh lộ cho người lạc bước phong trần trở về bảo sở, tôi thẳng thắng tuyên bố rằng: qua quá trình hành đạo, hành pháp nhĩ căn viên thông của Quan Thế Âm Bồ Tát trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm nghe nghĩ và tu; đồng thời hành pháp nhãn căn viên thông do Bồ Tát Văn Thù nhắc nhở hồi quan phản chiếu xuyên suốt ngộ được tự tánh Bát Nhã đồng tạng tánh Bát Nhã của mười phương chư Như Lai. Nghiễm nhiên trí tánh Bát Nhã của mình hòa đồng cùng không gian vũ trụ bất sanh bất diệt.
🔗Phật thừa khai mở lý nguyên sơ.
Vũ trụ vô sanh định tánh cơ.
Phản chiếu huyền quang soi vạn pháp.
khứ lai tại tựa ngủ trong mơ.
🔗(Và xin thưa quý vị, khi hành pháp hồi quan phản chiếu thì tôi cũng đã chiến đấu với ngũ ấm ma bên ngoài và ngũ ấm ma nội tâm. Và chính ngũ ấm ma bên ngoài, nội tâm không xâm phạm đặng tôi cho nên họ đã thề một câu rằng: "ta sẽ phá nhà ngươi tới cùng, phá nhà ngươi không được ta phá đệ tử nhà ngươi".)
🔗Thưa quý vị, quý vị biết bên đạo Lão, Tiên đạo dạy người tu hành thanh tịnh vô vi, nam phải trảm Xích Long, nữ phải trừ Bạch Hổ là gì? Xích Long là lòng tham dục của người nam, nó hung dữ vô cùng. Bạch Hổ là lòng tham dục của người nữ, nói ví như cọp chúa rất tàn bạo. Phải vứt bỏ nó, phải chặt đứt nó không còn tham nhiểm bợn nhơ. Lời dạy trong đây có nhiều người hiểu lầm, tự mình thiến bỏ để khỏi vướng bận trần ai. Nào ngờ thân không đòi hỏi mà tâm tham dục vẫn còn, đã tự thiến căn không thể nào tu chứng thánh quả. Về lối vào đạo tiên vô vi không khác đạo Phật, cũng tu vô vi. Luyện là luyện ý chí tâm linh ngăn chặn tình dục không để tham nhiễm sắc, tài, danh, lợi, tình thì tu hành mới kết quả theo lòng mong cầu. Nên cho người tu theo Phật đạo xuất gia giải thoát mà không học hiểu chính xác về 37 Phẩm Trợ Đạo Bồ Đề tức là tu không có căn bản dễ lạc đường tà đạo. Cũng giống như một đạo binh ô hợp không học chính quy, khi gặp giặc lớn phải bị tan rã mà thôi. Cụ thể nhất Tứ Niệm Xứ là dùng pháp quán: Quán thân bất tịnh, quán Thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán Pháp vô ngã. Bốn pháp quán đầu tiên trong 37 phẩm nếu không nắm vững, ắt phải vướng mắc vào sắc tài danh lợi tình của ma đạo, hoặc quỷ đạo và thiên ma ngoại đạo mà thôi. Lại có một điều mà ít ai nghĩ tới, trong sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có tiên tri:
🔗Dục thức thánh nhân sứ - muốn biết xứ sở của người thánh
Quá kiều cư Bắc phương - qua cầu về hướng Bắc
Dục thức thánh nhân hương - muốn biết quê hương người thánh
Thủy lâm bảo trung tàng - ở giữa dòng nước báu bao bọc xung quanh
Dục thức thánh nhân tính - muốn biết tên vị thánh
Mộc hạ Liên Đinh khẩu - tức là loại cây mọc dưới đất rễ như chữ Đinh miệng dính liền thân cây
Dục thức thánh nhân diện - muốn biết mặt vị thánh
Tu tầm trưng cứu kiến - truy tìm từng câu trong đây mà biết
Giang Nam nhị thủy huyện - Sông miền Nam có hai dòng nước có cái huyện
Tại sơn vô hổ lang - tại núi không có cột sói
Thất lập nhị hiền tướng - 72 người hiền ủng hộ
Phụ tá thánh quân vương - phò tá vị pháp vương
Phá điền thiên tự xuất - con trời ra phá bờ đê ngăn cách giữa hai đám ruộng ý thức
🔗Bất chiến tự nhiên thành - chiến tranh Việt Nam không đánh mà thành (tức là năm 75 cách mạng ra Sài Gòn không có đánh mà thành)
🔗Thánh chúa tái sanh hiện bảo giang.
Phước Long thống thủy tại sông ngang.
Trạng xưa trình tự điêu như thế.
Mật ngữ liễu tri tánh hạnh an.
🔗Tóm lại đạo Phật dạy tu giải thoát xa rời sắc pháp vô vi vô tướng, tương tự như đạo tiên dạy lý vô vi thanh tịnh. Dạy tu cư sĩ tại gia như học cách làm người quân tử bên đạo Thánh, nói cách khác cũng giống như đạo làm người của Lương đạo truyền thống văn hóa dân tộc ngàn đời của dân dân Hồng Bàng Lạc Việt. Ba mối đạo dạy cách làm người ăn đời ở kiếp không có gì khác lạ cả. Ngoài ra luyện khí hóa, luyện âm dương khí, đó là khí công, nhu công của môn võ thuật. Luyện phép tắc thần thông, luyện phép soi hồn, luyện nhân điện, luyện khai thông huyệt đạo, luân xa đây là luyện hữu vi có sanh tắc có diệt, chẳng bền dài, không phải là đạo chân thường của mười phương chư Như Lai.
🔗Giác Sự tôi trước kia cũng đã hành qua sai lầm các pháp sanh diệt, còn luyện là còn sanh, còn sanh tức là còn diệt. Luyện mãi không rồi cuối cùng tự bỏ, hành lại nội tâm vô vi và sau đó tôi đã phát lên 42 lời đại nguyện rộng độ chúng sinh. Đầu năm 1970 lần thứ hai, tôi đã đưa lời "tiếng gọi từ bi giải mở hận thù" vào nhà báo tin sáng để cứu ông Ngô Công Đức, một dân biểu bị chế độ của dân thiệu lên án tử hình sự diễn biến đổi thay mạnh từ trong yên lặng bùng lên dữ dội đến bất chiến tự nhiên thành, theo như thiên đình đã hoạch định. Thật là hi hữu, hi hữu.
🔗Nhơn nguyện như thử như thử.
Thiên lý dị nhiên dị nhiên.
🔗Cầu chúc tất cả ba cõi trời thần người cùng các loại chúng sanh, kể cả hai cõi âm dương đồng trực giác bổn tâm, đồng thành chánh đạo.
🔗Văn hóa truyền thông mỗi mỗi nhà,
Đạo lành phổ biến khắp gần xa
Chúc cầu bá tánh luôn tâm giữ
đức trí gồm thâu pháp Ba La.