Xem video nguồn
🔗
LỜI NÓI ĐẦU
🔗(Trong Hồ Động Đình hoặc Tứ Phủ)
🔗Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam chúng ta được sao chép lại do Tư Mã Thiên đời Đông Hán và Tư Mã Trinh đời Nhà Đường sáng tác biên soạn.
🔗Lại là thời kỳ bị mất nước nhà tan. Nền Văn Hóa bản địa không còn, đã bị xóa sổ hẳn.
🔗Những Sử liệu mà chúng ta có hôm nay đa phần là nói theo Hán Tàu.
🔗Cụ thể nhứt gần đây nhứt đời Nhà Minh đô hộ; Trung Hoa bắt những Tăng Sĩ tu đạo Phật (Thích Ca). Đạo Sĩ tu theo Đạo Tiên (Lão Tử). Đạo Thánh nhân tu đạo làm người (Khổng Tử). Thầy Giáo dạy học trường lớp.
🔗Các Thầy thuốc trị bệnh cho dân. Đặc biệt những người tiếp cận bá tánh nhân dân về Ty Sở Trung Hoa; để hướng dẫn theo Văn Hóa Trung Hoa, trong mọi lẽ sống, đánh đổ hẳn Văn Hóa Bản địa của người Việt Nam.(hảy xem lại lịch sử).
🔗Ngày hôm nay đất nước ta đã được Hòa Bình độc lập thống nhứt Tổ Quốc từ Bắc Chí Nam. Xã Hội Phong Kiến Đế Chế không còn! Nhưng đa phần đầu óc, tư tưởng phong kiến vẫn còn trong “Tư Duy Mẫu Quốc đa phần của người Việt bị nhiễm còn sâu nặng”.
🔗Tìm về Văn Hóa Bản Địa, tìm về Cội nguồn Nội Tổ. Tìm về Cội nguồn Ngoại Tổ. là trách nhiệm người mang nặng dòng máu Lạc Hồng của Tổ Phụ. Và nói lên sự thật phủ phàng.
🔗1- Đất nước Hồ Động Đình Ngoại Tổ Cam Lâm Đại Đế không còn.
🔗2- Đất nước Phương Bắc Đế Lai ( Mẹ Âu Cơ) Nhà Bác nội Tổ không còn.
🔗3- Đất Nước Phương Nam từ bờ Sông Dương Tử bị lấn chiếm quá nhiều.
🔗4- Văn Hóa Bản Địa chánh thống bị phai nhạt mờ ảo. Hiện đa phần chỉ nói theo Sử liệu của Mẫu Quốc.
🔗Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa “Kỷ Nguyên mới” rất nặng nề, trong công cuộc đổi mới tư duy, tư tưởng trên mọi mặt!,( kể cả Đời lẫn Đạo) làm như thế nào cho người dân hiểu rõ: Mình là con Rồng Cháu Tiên, con Thánh Cháu hiền. Có một niềm Tự hào bất tận, mặc dầu Đất Nước mình đã bị thu hẹp. Nhưng Cội nguồn Văn Hóa Đạo Đức thuần Lương cần khai mở (Đạo Lương) và bảo vệ.
🔗Đất nước phải gìn giữ xây dựng Phồn vinh thạnh trị phú cường.
🔗Soạn giả: Kính cáo:
🔗Hòa Thượng Thích Giác Sự
🔗(Thiền Sư An Lạc Hạnh)
🔗
HỒ ĐỘNG ĐÌNH CỘI NGUỒN NGOẠI TỔ
🔗***
🔗
TÌM LẠI CỘI NGUỒN NGOẠI TỔ
🔗Cội cây Cổ thụ Gốc Nhà Nam
Nguồn nước luân lưu Bát Nhã đàm
Ngoại nội Hải hà Sơn chung bổn
Tổ Tiên hùng vĩ Lạc Long Đồ.
🔗Là người Việt Nam con Hồng cháu Lạc, chúng ta đã hiểu biết về Sử liệu của Nội Tổ là Vua Kinh Dương Vương, cũng cần tìm hiểu về Nguồn cội của Ngoại Tổ là Thần Nữ con gái Thần Long.
🔗Thần Long là cha Long Nữ ở Động Đình Hồ.
🔗Động Đình Quân là một nhân vật trong truyền thuyết Thần Thoại Việt Nam. Được biết đến là vị Thủy Thần cai quản vùng Hồ Động Đình, và là Ông ngoại của Lạc Long Quân.
🔗Căn cứ theo sách Cổ Nam Chính Quái! Động Đình Quân, hay cũng gọi là Thần Long, là vị Long Vương cai quản vùng Thủy Quốc. Ngài có tên là Long Đổ hay cũng gọi là Thủy Phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế. Là người mở đầu của Thủy Quốc Động Đình vùng ven biển.
🔗Thuở xưa Nước Văn Lang biên cương phía Bắc tới Hồ Động Đình. Tới tận sông Trường Giang phía Tây, giáp Tứ Xuyên Ba Thục, phía Đông giáp Nam Hải.
🔗Long Vương có người con gái gọi là Long Nữ, kết hôn với Vua Kinh Dương Vương sanh ra Sùng Lãm. Cũng gọi là Lạc Long Quân.
🔗Sùng Lãm lên ngôi Vua có tên là Lạc Long; là lấy theo tộc cha là Lạc, kết hợp tộc Mẹ là Long, thành chữ Lạc Long, Quân là Vua! Vua Lạc Long Quân.
🔗Hồ Động Đình tọa lạc tại phía Đông Bắc, tỉnh Hồ Nam, thuộc miền Trung Bộ Trung Quốc, nằm ở lưu vực phía Nam sông Dương Tử (Trường Giang), hồ nước ngọt lớn thứ hai Trung Quốc, nằm sát Thành Phố Nhạc Dương, và đóng vai trò quan trọng điều tiết nước của sông Dương Tử.
🔗Vua Cha Bát Hải Động Đình, là vị Vua đứng đầu Thủy Phủ, hành dinh của Ngài ở Động Đình Hồ một vùng đất ven biển.
🔗Động đình quân cha của Xích Lân Long nữ , ông ngoại của Lạc Long Quân , trong 18 đời Hùng Vương Ngài là Thủy Tổ gốc ngoại của người Lạc Việt, Việt Nam ngày nay.
🔗Vị Thần ngoại Tổ của Lạc Long Quân tận Hồ Động Đình phương Bắc?
🔗Động Đình Quân còn được gọi là Vua Cha Bát Hải Động Đình, Long Vương Động Đình hoặc Vua Cha Thoải Phủ. Trong truyền thuyết và tín ngưỡng Việt Nam, ông là chúa tể Thủy Phủ, cai quản vùng Hồ Động Đình và là ông ngoại của Lạc Long Quân (cha vợ của Kinh Dương Vương).
🔗Động Đình Quân còn có danh hiệu: Vĩnh Công Đại Vương, Long Đỗ, hoặc Thủy Phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế.
🔗Là Vua nước rồng vùng Động Đình, người sinh ra Thần Long (Long Nữ) – hoàng hậu của Kinh Dương Vương.
🔗Tín ngưỡng: Được tôn kính là một trong các vị Vua Cha tối cao trong đạo Mẫu và tín ngưỡng thờ thần nước tại Việt Nam.
🔗THỜ MẪU THOẢI (Thủy)
🔗Tín ngưởng dân gian trong Tứ Phủ thờ Mẫu Thoải, tức là Mẫu Thủy, Mẫu Thủy là Xích Lân Long Nữ, Hoàng Hậu vợ của Vua Kinh Dương Vương là ngoại Tổ của người Việt. (Có chổ bảo Mẫu Thoải là con gái út của Vua Động Đình Quân).
🔗HỒ ĐỘNG ĐÌNH – Cội nguồn
🔗Hồ Động Đình và núi Quân Sơn là hình ảnh của nòng nọc, (nòng nọc là nói vật thể mới tượng hình; ý nói Cội nguồn ngoại Tổ lúc phôi thai mới hình thành) âm dương vũ trụ.
🔗
LƯỢC SỬ
🔗Động Đình Long Quân ký - Bách Việt trùng cửu.
🔗Long Vương Động Đình Đế Quân cũng là Long Đỗ hay gọi Thủy Phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế, là người mở đầu của Thủy quốc Động Đình ở vùng biển.
🔗
Bách Việt trùng cửu là một khái niệm văn hóa-lịch sử mang ý nghĩa biểu tượng về sự trường tồn. Cụm từ này ghép từ "Bách Việt" (tập hợp các tộc người Việt cổ) và "trùng cửu" (số 9 lặp lại, hay số 18, biểu thị sự vĩnh cửu và liên tục).
🔗
Bách Việt: Là 100 Bộ Tộc Việt. Chỉ cộng đồng các dân tộc Việt Cổ từng sinh sống ở miền Nam Trung Hoa và Bắc Bộ Việt Nam từ thời Cổ đại.
🔗
Trùng cửu: Là hai số 9 cộng lại. Tượng trưng bằng con số 18 (như 18 đời Hùng Vương, hoặc 18 cặp Chim trên trống đồng), ngụ ý sự tiếp nối và trường tồn của dòng giống, văn hóa Lạc Hồng.
🔗
Ý chỉ: Khẳng định sức sống bền bỉ, hồn thiêng sông núi và bản sắc văn hóa của người Việt qua hàng ngàn năm lịch sử.
🔗
Lý nghĩa trong truyền thuyết Hùng Vương của con số 18.
🔗
Văn hóa Cổ Đại ghi dấu hoa văn trên trống đồng Đông Sơn
🔗Bách Việt trùng cửu: Hồn thiêng sông núi nước Nam còn mãi. Để con cháu các đời sau ghi nhớ sự oai dũng anh linh của Tổ Tiên ngàn đời mà noi theo. Giống như: Thông Điệp thời quá khứ được nhắn gửi rõ ràng ngay trên mặt trống đồng, linh khí của người Việt cổ. Tổ tiên tuy mất nhưng Linh Hồn bất tử, luôn bảo hộ con cháu về sau.
🔗Động Đình Ngoại Tổ mãi linh thiêng
Bảo vệ cháu con giữ mối giềng
Quyết chẳng nhịn nhường người bạo Quốc
Độ con Hồng Lạc cháu Rồng Tiên.
🔗“Bách Việt” là tên của dân tộc Việt, dân họ Hùng sau Công nguyên ở vùng Hoa Nam. Nền văn minh của dân Việt mãi toả sáng từ hàng nghìn năm nay ...
🔗Đặc biệt Ngoại Tổ Hồ Động Đình là Cam Lâm Đại Đế. Xích Lân Công Chúa là Thần Nữ vẫn hiển linh hóa độ con cháu về sau, cũng như quá khứ hiện tại và tương lai. Mặc dầu Hồ Động Đình đã mất về tay Trung Quốc Quản lý. Hồ Động Đình bị ếm triệt mất linh khí. Nhưng hồn thiêng đã dời ngôi hiệp cùng Linh khí họ Hùng Xứ Giao Châu bảo vệ Cháu con mãi mãi.
🔗Trong các ngày Tết, ngày lễ cổ truyền dân gian có một ngày rất quan trọng là Tết Trùng cửu, diễn ra vào ngày mùng 9 tháng 9 âm lịch hàng năm. (Khoảng năm 2022 về trước Hồ Động Đình bị nắng hạn khô cạn lộ đáy hồ hiện rõ bị trấn ểm “Gông sắt hình đuôi én hình như trên”). Và Đất nước Giao Châu chúng ta trong thời kỳ bị Trung Hoa đô hộ, nhiều nơi bị trấn ếm. Làm cho Hồn thiêng bị tê liệt vùng vẩy không nổi, để chúng đô hộ vĩnh viển. Nhưng riêng Nội Tổ giống Họ Hùng do Địa Linh Phật Trời bảo hộ! Có các bậc Vĩ nhân ra đời cứu thế mở ếm các nơi như Phật Thầy Tây An chẳng hạn. Nên Việt Nam mới đặng phục hồi. Tuy nhiên cũng đã bị lấn chiếm một số đất đai.
🔗Nhìn vào chổ này người Việt Nam yêu nước thương nòi cần cẩn thận hơn về Văn hóa Lịch Sử quê Cha đất Tổ. Kinh Sách chữ nghĩa thuần túy của Phật Thánh đa phần bị chuyển đổi từ nước ngoài đưa vào có đúng như thật, hay là có ngầm ý đầu độc phá hoại làm đảo lộn tư duy tư tưởng tín ngưởng cho người Việt Nam như: “Lục Độ Tập Kinh Trung Quốc”, bảo Quốc Mẫu Âu Cơ sanh trăm trứng là theo truyền Thống Phật Giáo Ấn Độ. Kinh Bát Dương đánh phá người tin tưởng theo luật âm dương của Trời đất. Nghịch lý thiên nhiên tự nhiên, họ dùng Tôn Giáo tâm lý chiến đánh vào tín ngưởng, hướng dẫn người Việt theo Văn Hóa của họ, (tu đi, lo tu đi bỏ công ăn việc làm sanh ra kiệt quệ Kinh Tế gia đình, kiệt quệ Kinh Tế xã hội, làm cho dân nghèo nước yếu, an hem bất hòa, để họ dễ bề thao túng). Giống như các phái ngoại đạo chối bỏ văn hóa đậm đà đầy Bản Sắc Dân Tộc, để người Việt Nam quên cội quên nguồn.v.v…)
🔗Với Kỷ nguyên mới, con người mới, Xã Hội mới; thời kỳ vàng son của lịch sử. Nhà Nước Cách Mạng Cộng Sản phục hưng Văn Hóa Chánh Đạo, đậm đà Bản sắc Dân Tộc. Chúng ta có cần xét lại Lịch Sử đầu nguồn của Dân Tộc do Kinh Dương Vương lập Quốc đặt tên là Nước Xích Quỷ hay không?...
🔗
NGƯỜI VIỆT HỌ HỒNG BÀNG
🔗Hồng hoang Thượng Cổ buổi sơ khai
Nam Việt Kinh Vương lập vị ngai
Thống nhứt sơn hà qui một mối
Toàn dân an lạc hướng Thiên thai.
🔗
Họ Hồng Bàng là ý nghĩa:
🔗Hồng là hồng hoang, hoang sơ, hoang dã buổi xa xưa đầu tiên của người Lạc Việt.
🔗Bàng là Bàng Cổ sơ khai sanh ra con người và đất nước quê cha đất tổ.
🔗Chữ Hồng là chỉ cho loài chim lớn bay cao, bay xa như chim Hồng Hạc, Hồng hộc. Tượng trưng cho Cội nguồn bên phía ngoại (Mẹ), lấy loài chim làm truyền thuyết.
🔗Chữ Bàng là chỉ loài Rồng lớn, gắn liền với Thỉ Tổ Lạc Long Quân thuộc giống Rồng bên phía nội (Cha). Thể hiện gốc tích Lạc Long Quân là “Con Rồng Cháu Tiên”. Đây là nói gần, còn nói xa hơn; người Việt Nam là con cháu của đời Tam Hoàng Sơ Cố Tổ, Thần Phục Hy, Thần Nữ Oa, Thần Nông.
🔗Lại nữa chữ Hồng theo Hán Văn gồm chữ giang là sông, để biểu âm là chữ điểu, điểu là chim. Loài chim có mồng thường ở theo mặt nước.
🔗Bàng là Bàng Cổ sơ khai của dân tộc Việt Nam gồm hai họ là: Họ Nội là tượng trưng chim Lạc.
🔗Họ ngoại là tượng trưng chim Hồng hộc. (hồng hạc).
🔗Chim Lạc bay cao trên trời.
Chim Hồng thường ở dưới nước.
🔗Cổ nhân vẽ hình tạc tượng cho con cháu về sau luôn nhớ về nguồn cội nên:
🔗Mặt trống đồng vòng tròn có hình chim lạc. Gốc nội.
🔗Đền thờ các nơi có chim Hồng. Gốc ngoại.
🔗Nội ngoại tương đồng.
🔗Quê hương Gốc Ngoại Tổ Hồ Động Đình ngày hôm nay không còn;
🔗đã bị Trung Hoa chiếm đoạt từ lâu. Còn bị ếm đối qua hình ảnh của Hồ Động Đình lúc bị khô cạn; kể cả Đất nước Nội Tổ ranh giới từ Sông Dương Tử cũng đã bị lấn chiếm sâu về Giao Châu và có nhiều ấn tượng bị ếm được các Bậc Vĩ Nhân Nam Việt tháo gở. Cụ thể Lòng Sông Tô Lịch được Nhà Nước Việt Nam cho nạo vét vào năm 2001 đã phát hiện ếm bằng Bát quái trận đồ.
🔗
NƯỚC NAM VIỆT (XÍCH QUỶ)
🔗“Lý nghĩa về đời Cổ Đại của dân tộc Việt Nam, họ Hồng Bàng rất là sáng đẹp; thời tại sao tên nước lại quá xấu xa gọi là “Xích Quỷ”.
🔗
Căn cứ theo Sách Đại Việt Sử Ký toàn thư: Chữ xích là màu đỏ. Chữ Quỷ ở đây không mang ý nghĩa ma quỷ đáng sợ, mà là tên một chòm sao sáng và rực rở trên nền trời, thuộc chòm sao “Nhị Thập Bát Tú”, gắn liền với Phương Nam. Một số tài liệu cũng lý giải Từ Hán Việt Xích (赤) nghĩa là màu đỏ, chữ Quỷ là sự kết hợp của ba chữ Vương (鬼) ý chỉ Đế Vương”.
🔗(Lời chia sẻ sao không lý giải chữ quỷ là Quỷ Kim Dương là hiện tượng con dê theo dịch lý)?.
🔗
Theo Sử liệu Dịch Học: Sao Quỷ (Quỷ Kim Dương) trong hệ thống Nhị Thập Bát Tú là một sao hung (mang lại điềm dữ). Theo quan niệm phong thủy và chọn ngày tốt xấu, sao này chủ về bệnh tật, tai hoạ và bất lợi.
🔗
Đặc điểm của sao Quỷ theo dịch lý:
🔗+ Việc kỵ nên tránh: Khởi tạo, xây cất nhà cửa, cưới gả (hôn nhân), trổ cửa, tháo nước, đào ao giếng hoặc chôn cất.
🔗+ Việc nên làm: Gần như mọi việc lớn đều kỵ; chỉ hợp với các việc nhỏ như chặt cỏ phá đất hoặc cắt áo.
🔗Từ Hán Việt Xích (赤) nghĩa là màu đỏ; từ Quỷ (鬼) không có nghĩa là ma quỷ.... Tuy nhiên; chưa có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy nhà nước này là có thật!!!.
🔗
Thông tin tổng quan do AI tạo:
🔗
Nước Xích Quỷ không có thật về mặt lịch sử chính thống, mà là một quốc gia mang tính huyền sử và truyền thuyết của dân tộc Việt Nam. Cho đến nay, ngành khảo cổ học và lịch sử học chưa tìm thấy bất kỳ bằng chứng vật chất hay di chỉ nào chứng minh một nhà nước tập quyền rộng lớn mang tên Xích Quỷ từng tồn tại vào năm 2879 TCN.
🔗
(Chia sẻ: Điều này rất cần xét lại cho tin tường! Không khéo người Nam Việt chúng ta bị chưởi rủa là Nước Xích Quỷ, là dân xích quỷ , quỷ đỏ ở Phương Nam, mà ta ngở là thật để làm trò cười cho thế nhân?)
🔗- AI tạo: Nguồn gốc của tên gọi Xích Quỷ:
🔗
Xuất hiện trong sử cũ:_Tên gọi này được ghi nhận sớm nhất trong sách Đại Việt sử lược (thế kỷ XIV) và sau đó là Đại Việt sử ký toàn thư (thế kỷ XV) ở phần ngoại kỷ.
🔗
(Chia sẻ: Mặc dầu Sách Đại Việt Sử Ký toàn thư đã ghi chép! Nhưng Cổ nhân ghi chép theo lời Tư Mã Thiên viết Sử cho Trung Hoa, chớ không phải viết Sử cho Việt Nam; thời dựa vào đâu mà tin là sự thật, để rồi luận giải Sao Quỷ sai tác dụng trong dịch học của Vua Phục Hy?)
🔗- AI tạo:Thủy tổ sáng lập:_Truyền thuyết kể rằng Kinh Dương Vương (Lộc Tục) lên ngôi vào năm 2879 TCN, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Ông là cha của Lạc Long Quân và là ông nội của các Hùng Vương.
🔗- Ý nghĩa tên gọi: Theo nghĩa Hán-Việt, "Xích" là màu đỏ (phương Nam), "Quỷ" là tên một ngôi sao trong Nhị thập bát tú. Tên gọi này hàm ý là "ngôi sao đỏ rực ở phương Nam", chứ không mang nghĩa tiêu cực là ma quỷ. !.!.!?.
🔗
(Chia sẻ: Các Nhà trí thức khoa học khảo cổ xin xét lại cho tin tường! Sao Quỷ là Hung tinh, là ác tinh độc hại. Phải chăng Tư Mã Thiên cố tình chưởi Nước Nam Việt, dân Nam Việt mình là là quỷ đỏ, là độc hại?)
🔗- AI tạo: Góc nhìn của khoa học lịch sử hiện đại
🔗- Về mặt quản lý: Vào khoảng năm 3000 TCN, xã hội loài người chưa đủ trình độ tổ chức, phương tiện giao thông và thông tin liên lạc để quản lý một lãnh thổ khổng lồ trải dài từ sông Dương Tử (Trung Quốc) đến vùng Bắc Trung Bộ như mô tả trong truyền thuyết.
🔗
( Chia sẻ: Tự mình suy diển quá xa sự thật !)
🔗- AI tạo: Bản chất thực tế: Các nhà sử học nhận định Xích Quỷ có thể là ký ức dân gian về thời kỳ liên minh bộ lạc sơ khai của cư dân Bách Việt sống rải rác ở vùng phía nam sông Dương Tử.
🔗
(Chia sẻ: Khẳn định một sự tủi nhục của một Nước mất tự chủ độc lập, bị người chưởi rủa mà không hay!).
🔗- AI tạo: Giá trị tinh thần:
🔗
Dù không phải là một triều đại có thật, quốc hiệu Xích Quỷ vẫn giữ giá trị văn hóa vô cùng thiêng liêng, thể hiện tâm thức hướng về cội nguồn và khẳng định chủ quyền lãnh thổ lâu đời của người Việt. (Có chổ bảo Vụ Tiên Nữ ở Động Xích Quỷ. Nên Lộc Tục lên ngôi đặt tên nước là nơi ở của mẹ!, v.v….)
🔗
(Chia sẻ: Chấp nhận nước đầu tiên do Vua Kinh Dương Vương sáng lập là Xích Quỷ, là tự mình bôi lọ Tổ Tiên Cha Ông của mình chẳng biết gì là dịch lý, chẳng biết gì là Thiên Văn Địa lý, Phong Thủy, chẳng biết gì là Đạo Trời cả?)
🔗- AI tạo: Nhà nước đầu tiên của người Việt được lịch sử chứng minh bằng khảo cổ (văn hóa Đông Sơn) là nước Văn Lang của các Vua Hùng.
🔗
(Chia sẻ: Vua Hùng Quốc đổi tên Nước Văn Lang. Trước Văn Lang là Nước tên gì, nếu không phải là: Nước Nam Việt của giống Lạc Việt ở phương Nam. Để phân biệt phương Bắc lấy Sông Dương Tử phân hai bờ cỏi).
🔗
Theo AI (trí huệ nhân tạo) để tìm lại lịch sử đất nước, các chứng tích kinh từ Trung Hoa địch thuật truyền sang Việt Nam. Chỉ nói theo nước Quốc Mẫu đầu độc (Thời kỳ Việt Nam mất nước) mà không tư duy có hợp tình hợp lý là có lý mà không rình, hoặc có tình mà không lý, kể cả vô tình vô lý.
🔗Sở dĩ vì sao? Vì trí tuệ nhân tạo khởi động phản ánh vào máy móc hiện ra sử liệu. Nhưng trình độ trí tuệ của người phát minh truy tìm đối diện cở nào, lấy gì để đo hệ thống năng lượng tinh thần (điện quang tâm linh) người đó mà biết là đúng.
🔗Chứng minh lời nói hiện lên màn hình, giọng nặng giọng nhẹ thành chữ viết là sai ý tác giả. Chúng ta dựa vào đâu mà tin chắc chắn?
🔗
* Nơi đây An Lạc Hạnh chia sẻ: Chữ Quỷ có ba chữ vương kết hợp thành là Đế Vương cai trị đất nước theo như Sử Ký Toàn Thư!.
🔗Chữ Xích màu đỏ theo Bát quái cửu cung của Dịch học là hướng Nam. (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài).
🔗Chữ Xích màu đỏ là chỉ vào phương Nam cung ly.
🔗Nếu chỉ vào chòm sao Thập nhị Bát tú trên nền trời Sao Quỷ sáng rực!, mà tại sao không giải sao quỷ là một vì sao hung tinh, độc hại nhứt đem lại tai họa cho nhân gian, cho loài người? (cứ tìm hiểu tác dụng của các vì sao sẽ rõ).
🔗Có chổ nói: Tên nước Xích Quỷ là do Bà Vụ Tiên Nữ ở Động Xích Quỷ, về thân thế gia đình chỉ biết Bà là “Thần Nữ Vụ Tiên ở động Xích Quỷ mà thôi. Nên do vậy mà Vua Kinh Dương Vương lập Quốc lấy tên nước là Xích Quỷ là càng vô lý!. Và có chổ bảo Vụ Tiên Nữ là người con gái có tên Vụ Tiên làm vợ Vua Đế Minh. Vợ Vua Đế Minh về sau thành Mẫu Thượng Ngàn lại càng khó hiểu!. (Trong các sách sử cũ như Đại Việt Sử ký Toàn thư, thông tin về thân thế hay cha mẹ cụ thể của bà Vụ Tiên không được ghi chép rõ ràng, chỉ biết bà là người con gái dòng dõi tiên tộc ở vùng núi phía Nam sông Dương Tử thời thượng cổ).
🔗Theo sự tích trong Phật Giáo nói đến Ma Đăng Già Nữ!, có chổ bảo Ma Đăng Già Nữ là người con gái dùng Bùa mê cám dổ bắt cóc Đại Đức A Nan. Có chổ bảo Ma Đăng Già Nữ là mẹ của Cô Gái. Cô gái con của Bà Ma Đăng Già bắt A Nan. Tất cả cũng chỉ là suy luận! Vì Lịch Sử quá lâu xa không thể xác định đặng. Tuy nhiên khi luận giải điều nào có lý hơn thời nên tin là đúng. (Ma Đăng Già Nữ hay là Vụ Tiên Nữ có phần giống nhau). Như thế chúng ta có thể kết luận: Người con gái đơn độc không thể ở một mình, mà phải có mẹ bên cạnh. Tức Ma Đăng Già là mẹ có người con gái. Vụ Tiên Nữ là Bà Vụ Tiên có người con gái là Hoa Tiên nữ gả cho Đế Minh làm vợ sanh ra Lộc Tục. Hoa Tiên nữ về sau làm Bà Chúa Thượng Ngàn! Hay là Bà Vụ Tiên là mẹ của Tiên nữ Hoa Tiên kết duyên cùng Đế Minh, Bà là con của Thượng Đế Ngọc Hoàng cho cai quả Núi rừng thiên nhiên được dân gian tôn tặng là Mẹ Thượng Ngàn theo trong Sách tứ Phủ đã nói?
🔗Truyện tích thứ nhứt nói rõ trong Tứ Phủ: Mẫu Thượng Ngàn là con gái thứ nhứt của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Từ chổ này có thể kết luận Bà Vụ Tiên là Mẫu Thượng Ngàn, là Mẹ vợ của Đế Minh. (Cũng dụ như Bà Chúa Liễu Hạnh là con Thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế, có tên là Huỳnh Hoa Công Chúa làm bể chén Ngọc bị đày xuống hạ giới ba lần. Do có công với đất nước Việt Nam, có nhiều người biết đến; người dân thờ Tam Tòa Thánh Mẫu coi Thánh Mẫu Liễu Hạnh là đệ nhứt ở thế gian cũng đúng, là vì có nhiều công trạng hơn Bà Chúa Thượng Ngàn. Nhưng trên Thiên Đình Bà Chúa Thượng Ngàn là thứ nhứt, còn Huỳnh Hoa là thứ hai.)
🔗* Nơi đây An Lạc Hạnh không bát lời bình giải của người xưa!. Mà chỉ nêu ý kiến riêng mình về Nước Xích Quỷ buổi ban sơ; để tất cả ai là người mến yêu Tổ Quốc Việt Nam, là con rồng cháu tiên xét lại như thế nào?
🔗CÓ 5 ĐIỀU NÊN XÉT
🔗
1)- Tư cách thân thế của Tư Mã Thiên người viết Sử! (là người Hán hay là người Việt).
🔗
2)- Người viết ra Sữ liệu là viết ra cho Trung Quốc hay cho người Việt Nam? Nước Nam trong thời kỳ Đông Hán đô hộ bị xóa sổ hay là đang độc lập?
🔗
3)- Nước Trung Quốc ngay thời điểm Tư Mã Thiên viết sử là kẻ thù của Dân Tộc Việt hay là bạn thân?
🔗
4)- Vua Kinh Dương Vương là thiếu trí hay là thông minh mẫn đạt mà lập Quốc?
🔗
5)- Cha của Vua Kinh Dương là Đế Minh và Mẹ là Hoa Tiên Nữ con của Bà Vụ Tiên là người như thế nào!, và những vị hộ tống chung quanh chẳng lẽ dốt hết, không hiểu Phong Thủy Thiên Văn máy tạo mà để cho “ Lộc Tục đặt một cái tên nước là Xích Quỷ”. Đem lại độc hại cho ngôi vị Đế Vương của mình, và hại cả toàn dân tộc họ Hồng Bàng Lạc Việt?
🔗RIÊNG AN LẠC HẠNH BÌNH GIẢI
🔗1- Tư Mã Thiên thân thế là người Tàu đương nhiên là phải nói theo Nước Tàu của phận làm tôi không thể nói khác được!.
🔗2- Tư Mã Thiên viết Sử cho nước nhà của mình! Không phải viết Sử cho nước Nam ta. Nước Nam trong thời kỳ bị Nhà Đông Hán đô hộ, họ đã xóa sạch nền Văn Hóa Bản địa hay quý của Việt Nam.
🔗
Có hai điều:
🔗
Một là: nói theo lời chưởi rủa của họ là: Có nước Xích Quỷ (quỷ đỏ) ở phương Nam.
🔗Lời chưởi để chứng minh cụ thể là: Hiện thời trên mạng. Trung Quốc chiếu phim lúc Đông Dương Nhựt qua xâm phá toan chiếm nước Tàu khoảng 1936! Người dân Tàu và Bộ phận Cách Mạng “Bát Lộ Quân Tàu đứng lên chống Nhựt”, đều chưởi Nhật là “Quỷ Đông Dương”!. Đã có câu chưởi Nhật là Quỷ Đông Dương, thời chưởi Nam Việt là Xích quỷ chẳng có gì lạ cả.
🔗
Hai là: Tàu là kẻ thù của Dân Nam Việt. Nên Tư Mã Thiên chưởi dân Nam Việt là “Nước Xích Quỷ, người xích quỷ” đó là lẽ thường. Hoặc Tư Mã Thiên viết Sử Tàu bảo về phương Nam cạnh Nước Tàu trước kia có nước Xích Quỷ v.v…
🔗
(Xích là màu đỏ, Cung ly là phương Nam trong Bát quái cửu cung. Cung Ly thuộc hỏa. Hỏa màu đỏ. Quỷ là loại hung dử hại đời phá thế độc hại. Họ chưởi xéo dân mình là Quỷ đỏ, quỷ dữ độc hại. Mà mình cứ tưởng là họ khen xích quỷ là nước sáng đẹp như dòng sao Thập Nhị Bát Tú trên nền trời. (Căn cứ lời ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư lý giải, ) Không ngờ Bổn mạng ai gặp nhằm sao Quỷ chiếu mạng hay là Sao Quỷ xuất hiện trong năm là phải tránh né sự làm ăn lớn, tránh xuất hành, khởi công xây dựng nhà cửa, cưới gả. Nếu không tránh sẽ gặp tai họa chẳng sai, chổ này những nhà yêu nước, yêu Quê hương đất Tổ, là học giả, là hành giả cần xét lại cho tinh tường tư cách của người ghi chép lại; là theo nguyên văn của Tư Mã Thiên, hay là có nội tình ru ngủ!, để người Việt quên lãng cho qua đi? ).
🔗Lại nữa sau khi Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, phất cờ khởi nghĩa chống Tô Định, quan Thái Thú Nhà Hán, Bà đã thốt câu:
🔗Một xin rữa sạch nước thù.
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vỏn vẹn sở công lệnh này.
🔗Sau khi đánh đuổi được Tô Định; tại sao Bà lên ngôi lại không lấy tên nước là Xích Quỷ theo Vua Hùng, (là dựng lại nghiệp xưa họ Hùng) mà chỉ để theo hiệu Nam Việt của Triệu Đà?
🔗Và Triệu Đà là Tướng Nhà Tần sau khi chiếm được nước Âu Lạc lại lấy tên là Nam Việt Vũ Vương là như thế nào?.
🔗
“Phải nói thẳng là Triệu Đà quá giỏi về Quân Sự kể cả “tâm lý chánh trị”. Ông đánh với Thục Phán An Dương Vương nhiều lần thất bại. Ông bèn tính kế Thông giao với An Dương Vương; Cho con trai là Trọng Thủy cưới Công Chúa Mỵ Châu của An Dương vương chấp nhận làm rể để thừa cơ vẽ Sơ đồ Cổ Loa Thành. Khi xong việc trở về nước cùng Cha là Triệu Đà dẫn Quân đánh lấy Nước Âu Lạc. Đổi Quốc hiệu là Nước Nam Việt.
🔗
Và Tại sao Triệu Đà không lấy hiệu nước là tên gì khác, mà chỉ lấy tên Nước Nam Việt?.
🔗
Sở dỉ ông lấy tên Nước Nam Việt là Vì…. tùng theo Danh Hiệu đầu tiên của Vua Kinh Dương Vương đặt để. Hầu mua chuộc lòng người Giống Lạc Việt, để trấn áp Giống Âu Việt của Thục Phán. Đồng thời xin Vua Nhà Tần cho đem 50 vạn người qua sống hòa đồng Xứ Nam Việt. Do đó mà Nước Việt Nam bị đô hộ kéo dài 219 năm. Tức kể từ 111 trước công nguyên, đến năm 40 sau công nguyên”. Nơi đây không phải khen Triệu Đà là kẻ thù chung của Dân Nước Âu Lạc; mà khen chổ người có tài trí mưu lược, nên đô hộ nước Nam lâu dài. Dân ta phải chịu nhiều khổ nạn.
🔗
(Từ xưa đến nay những bậc có trí huệ tuyệt vời, không câu nệ việc ít kỷ nhỏ nhen, chỉ khen riêng người thân của mình!, mà khen cả người sơ, ngoài người thân, khen luôn kẻ thù!)
🔗
Để làm gì?
🔗Để ngầm nhắc nhở người thân của mình sống phải có trí huệ sáng suốt, phải có tư duy năng động sáng tạo như thế nào để đạt mục đích “tiêu chí nhứt quán”, hoàn thành nghiệp vụ.
🔗Cụ thể như: Lý Thường Kiệt bắt đặng Tướng Giặc Chiêm Thành là Mạnh Hoạch rồi tha bổng vì thương người trung nghĩa, khen người trung nghĩa. Mạnh Hoạch trở lại dẫn quân đánh tiếp; Lý Thường Kiệt bắt tiếp và cũng tha bổng luôn. Điều này làm cho các tướng sĩ bất mản. Nhưng họ có hiểu đâu rằng: Lý Thường Kiệt làm như vậy có hai lẽ:
🔗Một là: Người trung nghĩa mới biết thương tiếc người trung nghĩa.
🔗Hai là: Ngầm nhắc nhở trong hàng ngủ quân đội của mình phải luôn trung thành với Tổ Quốc, vì nghĩa cả với muôn dân. Giết chết một người chưa phải thâu phục được cả nước; tha một người thâu phục đặng cả Quốc dân. Đó là người quân tử nên làm.
🔗Chính vì chỗ này mà Mạnh Hoạch cãm lấy ơn sâu của Lý Thường Kiệt nhiều lần tha chết. Sau khi nghỉ hưu trồng một đám ngải to lớn mưu sinh. Lý Thường Kiệt bị giặc vây thoát chạy, lạc vào đám ngải của Mạnh Hoạch, bị ngải ăn sắp chết. Mạnh hoạch phát hiện cứu thoát nạn.
🔗Lại cũng như Chủ Tịch Hồ Chí Minh biết Ông Tạ Đình Đề là Tình báo của Tưởng Giới Thạch sai đi ám sát mình, vẫn khoan hồng và nhận làm cận vệ Thép.
🔗Xét ra Thời Kỳ Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc và Hai Bà Trưng phục hồi đất nước; vẫn lấy hiệu là Nước Nam Việt. Từ chổ này cho ta thấy tên nước đầu tiên Vua Kinh Dương khai lập Quốc thể là Nam Việt chớ không phải Xích Quỷ!.
🔗Thêm một điều nữa là: Nước Việt Nam thời kỳ Vua Hùng thứ sáu bị Giặc Ân xâm chiếm! Tư Mã Thiên Viết Sử khéo léo nói là Giặc Ân; chớ không nói rõ là Giặc Nhà Thương nước Tàu. (Ông khéo léo bẻ công ngòi bút để ai hiểu sao thời hiểu, chẳng lẽ nói Nước Tàu đánh chiếm?) .
🔗3- Trung Quốc là Nước lớn hơn Nước Nam Việt rất nhiều; nhưng do “Địa Linh Nhân Kiệt”, được Phật Trời Bảo Hộ, Hồn thiêng Sông Núi oai linh; nhiều thời đại của Trung Quốc xưa cũng như hiện nay, đều muốn thôn tính Việt Nam làm một nhưng bất thành. Việt Nam cố sống hòa với Trung Quốc; nhưng Trung Quốc không hề buông tha cho Việt Nam!, đã nhiều lần bị thua cuộc đau đớn, nên xem Việt Nam là kẻ thù và lúc nào cũng muốn chiếm Việt Nam.
🔗Nhưng luật Trời không cho phép.
🔗Nhơn nguyện như thử, như thử. Thiên lý dị nhiên, dị nhiên.
🔗Trước đã như vậy. Sau này cũng chắc chắn như vậy.
🔗4- Vua Kinh Dương Vương là người rất thông minh mẫn đạt, thấy xa hiểu rộng.
🔗Cụ thể Vua Cha là Đế Minh muốn đưa Ngài về Phương Bắc lên ngôi Cửu Ngũ làm Vua nối truyền Tổ Tiên ngàn đời là Vua Diêm Đế (Thần Nông).
🔗Nhưng Ngài cự tuyệt, bởi bên đó đã có Hoàng Tử Nghi. Về bên ấy sẽ sanh ra tranh ngôi vị cốt nhục tương tàn. Cuối cùng Vua Cha cho lập vị phương Nam, lập lên Nước Nam Việt. Phân ranh giới lấy Sông Dương tử ngăn chia.
🔗Chính vì chổ con dòng lớn và dòng nhỏ. Mà dòng lớn ỷ lại muốn thôn tính dẹp bỏ dòng nhỏ!
🔗Nhưng Vua Cha trên Trời là Đế Minh, Vua Diêm Đế Nội Tổ là Thần Nông, Thượng Đế Hoàng Mẫu là Phục Hy, Nữ Oa (tức Phật Trời ) bảo hộ, nên Việt Nam được độc lập như ngày hôm nay.
🔗5- Bậc Cổ Đức Vua Đế Minh, Hoa Tiên Nữ Mẹ của Lộc Tục, từ buổi đầu đã theo học Đạo Sa Bà (Đạo Mẫu, Đạo Trời), hiểu biết phong Thủy, Thiên Văn Địa lý, Thiên Cơ máy tạo. Do vậy mà chắc chắn tên nước đầu tiên của Giống Hồng Bàng Lạc Việt là “Nước Nam Việt”. Không phải cái tên chưởi xéo của người đang đô hộ là nước Xích Quỷ.
🔗Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, con người mới, xã hội mới. Mong rằng tên nước Việt Nam đầu tiên khai nguồn được xét lại…. phù hợp lòng dân và lòng Trời. Để Tổ Tiên hồn thiêng sông núi đất nước ta luôn mĩn cười và tự hào có những người con cháu thân thương xứng đáng đại diện cho Quốc hồn Quốc túy Đại Việt và cũng xứng đáng là học trò của Chư Phật Thánh Tiên Hiền ba cỏi Trời Thần người.
🔗Con người mới Xã hội mới, Kỷ nguyên mới
Văn hóa sáng ngời lưu muôn vạn thuở
Con cháu Hồng Bàng lạc việt vĩnh vĩnh miên
Oai linh đất mẹ trườn tồn mãi mãi.
🔗
GỐC NGUỒN NỘI TỔ
🔗
Vua Diêm Đế (Thần Nông Họ Khương)
🔗Vua Thần Nông là Thỉ Tổ của Giống dân Bách Việt, đương nhiên là thỉ Tổ của giống Hồng Bàng Lạc Việt Việt Nam.
🔗Vua Thần Nông còn gọi là Thần Nông Thị. Khôi ngôi Thị, Liên Sơn Thị, Liệt Sơn Thị, Tắc Thần. Thường gọi là Diêm Đế.
🔗Theo Thần thoại Trung Quốc; Thần Nông là một vị Thần Trung Hoa. Ông cũng được coi là một trong Tam Hoàng và được xem là một Anh Hùng Văn Hóa, cùng là Hoàng Đế thỉ Tổ của Dân Tộc Hoa Hạ. Ra đời cách đây khoảng 5.000 năm. Nổi tiếng là khai sáng ra nghề nông, Ông xuất phát từ vùng Liệt Sơn và có vị trí đặc biệt trong Lịch Sử Lập Quốc của người Trung Hoa và Việt Nam.
🔗Ông cũng được xem là Thỉ Tổ của họ Hồng Bàng trong truyền thuyết của Việt Nam.
🔗
Theo Gia Phả: Ngài qua đời vào năm: 3.080 Trước Công Nguyên. Nơi Yên nghỉ Xứ Trung Quốc. Vua Thần Nông có Ba người con trai. Con cả tên Đế Tiết. Còn gọi là Đức Thánh Cả. Người thứ hai gọi Đế Thừa, là Sở Minh Công. Người thứ ba là Minh Nhân.
🔗Đế Thừa được Vua Thần Nông cho nối dõi. Dân gian gọi là Đức Thánh Hai. Ngài đã thu phục được 72 Bộ Lạc, sát nhập thành chín Bộ Lạc. Gọi là “Cửu Long Chân Chính”. Đế Thừa có người con trai là Nguyễn Minh Khiết, cũng gọi là Đế Minh. Nguyễn Minh Khiết có hiệu là Thái Khương Công. Đế Minh là cháu đời thứ ba của Vua Thần Nông Diêm Đế. (Đế Minh gọi Vua Thần Nông là Ông Nội).
🔗Đế Minh Du ngoạn về phương Nam Núi Ngũ Lĩnh (Hồ Nam Trung Quốc ngày nay). Cưới con gái Bà Vụ Tiên và Cụ Đổ Long có tên là Đổ Quý Thị, còn gọi là Đoan Trang Công Chúa. (Hoa Tiên) sanh ra Lộc Tục. Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh Dương Vương. Lập vị phương Nam, thừa kế ngôi trời nước Nam. Từ bờ Nam Sông Dương Tử, trở xuống vùng biển đông.
🔗Lộc Tục cưới con gái của Động Đình Quân là Xích Lân Long Nữ Thoải Phủ Đệ Tam Công Chúa sanh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm lên ngôi lấy hiệu là Lạc Long Quân.
🔗Sử liệu khắc ghi mãi để đời
Xét cho tường tận chớ buông lơi
Chữ sai một nét sai muôn dậm
Xin duyệt kỷ càng thuận lẽ Trời.
🔗
NƯỚC NAM VIỆT TRUYỀN THỪA
🔗Theo Đại Việt sử lược và nhiều tài liệu lịch sử khác, triều đại Hùng Vương được truyền qua 18 đời, gồm những vị sau:
🔗
1)- Thứ nhứt: Vua Kinh Dương Vương, Húy Lộc Tục (còn gọi là Lục Dục Vương).
🔗Sinh Năm Nhâm Ngọ 2819 TCN, lên ngôi khi 41tuổi. Trị vì 86 năm. Từ năm Nhâm Tuất 2879 TCN, đến năm Đinh Hợi 2794 TCN.
🔗
2)- Thứ hai: Hùng Hiển Vương húy Sùng Lãm (Lạc Long Quân,… tuổi)
🔗Sinh Năm Bính Thìn 2825 trước Tây lịch.
🔗Lên ngôi 33 tuổi. Trị vì 269 năm. Từ năm Mậu Tý 2793 trước Tây lịch. Đến năm Bính Thìn 2525 trước Tây lịch.
🔗
3)- Thứ ba: Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân. Sanh Năm Canh Ngọ 2570. Lên ngôi 18 tuổi. Ở ngôi 272 năm. Từ Đinh Tỵ 2524 đến 2253 trước tây lịch. Hùng Quốc Vương là người đầu tiên thực sự đứng ra xây dựng Vương Triều. Cải cách về hành chánh, phân chia Bộ Tộc thành các đơn vị hành chánh như các Bộ Tộc Chánh Quyền. Ông lập nên Vương Triều thứ ba. Đổi tên nước là Văn Lang. Phát triển hệ thống Chánh Trị và Quân đội.
🔗
4)- Thứ Tư: Hùng Hoa Vương, Húy Bửu Lang, lên ngôi vào năm Đinh Hợi. 2252 trước Tây lịch, ở ngôi trị vì 342 năm. Đến năm Mậu thìn 1913 tr tây lịch.
🔗Dưới sự trị vì của Ông; nên Văn hóa kinh tế nước Văn Lang phát triển mạnh mẽ, thực hiện chính sách xã hội ổn định và nâng cao đời sống người dân.
🔗
5)- Thứ năm: Hùng Hy Vương, Húy Bảo Lang. Sinh Năm Tân Mùi 2030 Tr.TL. Lên ngôi 59 tuổi. Ở ngôi 200 năm. Từ năm Kỷ Tỵ 1912 Tr.TL. Đến năm Mậu Tý 1713 Tr. Tây lịch.
🔗
6)- Thứ sáu: Hùng Hổ Vương, húy Long Tiên Lang sinh năm Tân dậu 1740 Tr Tây Lịch. Lên ngôi năm 29 tuổi, ở ngôi 81 năm. Từ năm Kỷ Sửu 1712 Tr.Tây Lịch đến Kỷ dậu 1632 Tr. Tây lịch.
🔗
7)- Thứ bảy: Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, Sinh Năm Quý Tỵ 1768 Tr. TL. Lên ngôi khi 18 tuổi. Ở ngôi 200 năm. Từ năm Canh Tuất 1631 Tr. TL. Đến năm Kỷ Tỵ 1432 Tr. TL.
🔗
8)- Thứ tám: Hùng Vỹ Vương húy Vân Lang, Sinh năm nhâm thìn 1469 Tr. TL. Lên ngôi 39 tuổi, ở ngôi 100 năm. Từ năm Canh ngọ 1431 Tr.TL, đến năm Kỷ Dậu 1332 Tr.TL.
🔗
9)- Thứ chín: Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang. Sinh Năm Bính Dần 1375 Tr. TL. Lên ngôi lúc 45 tuổi. Ở ngôi 80 năm. Từ 1331 đến 1252 Tr. TL.
🔗
10)- Thứ mười: Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm. Từ năm 1251 đến 1162 Tr.TL.
🔗
11)- Thứ mười một: Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, Sinh Năm Canh Tuất 1211 Tr.TL. Lên ngôi khi 51 tuổi. Trị vì 107 năm. Từ năm Canh tý 1161 Tr.TL. Đến năm Bính Tuất 1055 Tr.TL.
🔗
12)- Thứ mười hai: Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang. Sinh năm Bính Thân. 1105 Tr.TL. Lên ngôi khoảng 52 tuổi. Kéo dài 86 năm. Bắt đầu từ năm Đinh Hợi 1054 đến năm Nhâm Tuất 969 Tr.TL.
🔗Thời trị vì của Hùng Vũ Vương, Nước Văn Lang có những bước tiến phát triển Quân Sự, củng cố Quốc phòng. Giử vững chắc biên cương lãnh thổ.
🔗
13)- Thứ mười ba: Hùng Việt Vương. Húy Tuấn Lang. sinh năm Kỷ hợi 982 Tr.TL. Lên ngôi 23 tuổi. Ở ngôi 115. Từ năm Quý hợi 968 Tr.TL. Đến năm Đinh Mùi 854 Tr. TL.
🔗Hùng Việt Vương tại vị phát triển hệ thống Giao thông thủy bộ. Thúc đẩy thương mãi nội địa, tạo điều kiện thuận lợi phát triển không ngừng.
🔗
14)- Thứ mười bốn: Hùng Anh Vương, húy Viên Lang. Sinh năm Đinh Mão 894 tr.TL. Lên ngôi lúc 42 tuổi. Trị vì 99 năm. Từ năm 853 đến năm 755 tr. TL.
🔗Hùng Anh Vương trị vì đất nước chú trọng việc Giáo dục và phát triển Văn Hóa.
🔗
15)- Thứ mười lăm: Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang. Sinh Năm Quý Sửu, 748 Tr. TL. Lên ngôi 35 tuổi. Ở ngôi 94 năm. Từ năm Đinh Hợi 754 Tr.TL, đến Canh thân 661 trước Tr TL.
🔗
16)- Thứ mười Sáu: Hùng Tạo vương, húy Đức Quân Lang. Sinh Năm Kỷ Tỵ 712 TrTL. Ở ngôi 92 năm, từ năm Tân dậu 660 đến Nhâm thìn 569 Tr.TL.
🔗Hùng Tạo Vương trị vì Cải cách đột phá trong nông nghiệp và thủ công nghiệp, gíup Nước Văn Lang càng thêm giàu mạnh.
🔗
17)- Thứ mười bảy: Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang. Sinh năm Ất dậu 576 Tr. TL. Lên ngôi 09 tuổi.
🔗Triều đại của Hùng Nghị Vương kéo dài 160 năm. Kể từ năm Quý Tỵ 568 Tr.TL. Kết thúc vào năm Nhâm thân 409 Tr.TL.
🔗Hùng Nghị Vương trị vì cũng cố Ngoại giao, giữ vững nền hòa bình cho đất nước.
🔗
18)- Thứ mười tám: Hùng Duệ Vương, húy là Huệ Lang. Sinh vào năm Canh Thân. 421 Tr.TL. Lên ngôi lúc 14 tuổi. Trị vì 150 năm Quý Dậu 408 Tr.TL. Đến năm Quý Mão 258 Tr.TL.
🔗Hùng Duệ Vương là vị Vua cuối cùng của Nước Văn Lang. xảy ra cuộc hôn nhân Công Chúa Mỵ Nương với Tản Viên Sơn Thánh.
🔗
Tóm lại: Ngoại Tổ của người Việt Nam có tên là Long Đổ hay cũng gọi là Thủy Phủ Phù Tang Cam Lâm Đại Đế. Họ Đổ tên Long là người mở đầu của Thủy Quốc Động Đình vùng ven biển. Cũng gọi là Vua Động Đình Hồ.
🔗Ngài có người con gái gọi là Long Nữ, hay là Nữ Thần Long gả cho Vua Kinh Dương Vương sanh ra Sùng Lãm là Lạc Long Quân.
🔗Người đời sau thờ Mẫu Thoải tức là Mẫu Thủy. Mẫu Thủy là Quốc Mẫu của Sùng Lãm, là Quốc Mẫu của giống Hồng Bàng Lạc việt Việt Nam.
🔗Ngoại Tổ Cam Lâm Đại Đế là Ông ngoại của Lạc Long Quân, Mẫu Thoải là Mẹ của Lạc Long Quân Sùng Lãm rất thương con cháu của mình, nên luôn bảo bọc hiệp cùng Nội Tổ Kinh Dương Vương dùng sức mạnh sẳn có của mình bảo vệ đất nước Việt Nam, con dân Việt Nam. Do vậy mà nhiều lần Đất nước Việt Nam bị đô hộ xéo dày, dân Việt Nam bị cày bừa đau khổ. Tổ tiên giúp sức phục hồi Quốc thổ, lập lại hòa bình độc lập thống nhứt như ngày hôm nay.
🔗Niềm tự hào của con Hồng cháu Lạc, con Thánh cháu Tiên luôn hướng về Tổ Phụ, đặt trọn niềm tin Hồn thiêng sông núi. Nội ngoại tương đồng. Cung kính tri ân Quốc Tổ, Quốc Mẫu thành tâm đảnh lễ.
🔗
TAM TÒA THÁNH MẪU
🔗Một là: Mẫu Thượng Ngàn là Bà Vụ Tiên Mẹ của Núi rừng cũng là Bà ngoại của Lộc Tục Vua Kinh Dương Vương.
🔗Hai là: Mẫu Liễu Hạnh là Công Chúa Huỳnh Hoa con của Thượng Đế hạ phàm.
🔗Ba là: Mẫu Thoải là Nữ Thần Long Mẹ của Sùng Lãm Lạc Long Quân.
🔗Ba vị rất thương xót chúng sanh như mẹ thương con, luôn đùm bộc các con.
🔗Cầu chúc Quốc Tổ, Quốc Mẫu vô lượng an lạc, vạn sự kiết tường.
🔗Ngọc Hoàng Thượng Đế rất oai linh
Thiên Mẫu Diêu Trì Mẹ hửu tình
Cho con xuống thế luôn đùm bộc
Tam Tòa hết dạ cứu muôn sinh.
🔗Nam Mô vô lượng thọ Phật Bồ Tát, Ma Ha Tát./.
🔗Tịnh Xá Liên Hoa, ngày 16 tháng 06 năm Bính Ngọ 2026.
🔗-----------------------
🔗
ĐẠO MẪU THỜ TỨ PHỦ
🔗********
Dầu cho học hỏi tứ phương
Đạo nhà gắng giữ là đường tương lai.
🔗Thể theo truyền thống Văn Hóa Bản địa của người Việt Nam chúng ta ghi chép lại những trang sử oai hùng đậm nét dân tộc tính. Đầy đủ nhân văn nhân bản, tình đoàn kết thương yêu đùm bộc che chở lẫn nhau, chẳng riêng vì Vợ Chồng anh em trong gia đình, mà kể cả tình đoàn kết, đại đoàn kết trong xã hội.
🔗Những lịch Sử ghi chép Quốc Hồn Quốc Túy từ thuở khai sơn Vua Hùng lập Quốc cho đến ngày hôm nay.
🔗Tất cả chúng ta người con dân của Đất Nước, là con Hồng cháu
🔗Lạc, con Thánh cháu Tiên trong nước cùng ngoài nước, 100 bộ tộc Việt đang sống rãi rác trên thế giới ngày nay, nên hướng về nguồn cội tưởng niệm Công Đức phước báu cao dày của ba vị Sơ Cố Tổ Đại Tộc Bách Việt. Tưởng niệm tri ân nội ngoại tiên linh, Hồn thiêng sông núi đã để lại tấm gương lành sáng qua bao thế hệ “kim ngôn ngọc ngữ”bảo trì chúng ta, đã và đang nuôi dưỡng chúng ta trên mọi mặt, kể cả tinh thần lẫn vật chất.
🔗Một phút tưởng niệm bắt đầu!,….. thôi.
🔗Cùng tất cả các Nhà trí thức học giả hành giả trong hai thế hệ: “âm dương”. Tất cả mọi người trên thế gian này ai ai cũng đều có mẹ, có cha. Có mẹ có Cha mới sanh ra chúng ta, chẳng những loài người, mà kể cả các loài cầm thú. Tình thương của Mẹ Cha trước mắt chúng ta đã thấy rõ! Đã thấy rõ hiện tại, quá khứ, thời không gì lý do gì mà tương lai ta phủ nhận công ơn đó!, lại quên đi cội nguồn bất tận.
🔗Hôm nay trong Kỷ Nguyên Mới An Lạc Hạnh tôi nhắc lại “Truyền Thống Văn Hóa Bản Địa Cội nguồn của người Việt Nam chúng ta, và mong rằng: Dầu ai đó lưu lạc tứ phương nên nhớ về nguồn cội. Và phải tin chắc rằng: Hồn thiêng Sông Núi Tổ Phụ chúng ta luôn che chở bảo hộ chúng ta không thua gì Phật Thánh Thần Tiên trong Tôn Giáo của các nước trên thế giới mà chúng ta đang theo. Và Hồn thiêng Sông Núi Tổ Tiên chúng ta có rất nhiều người tu hành thành công đắc quả hộ độ chúng sanh, hộ độ chúng ta hằng giờ hằng phút.
🔗Theo Truyền Thuyết Tín Ngưởng Thần Tích Việt Nam về Tứ Phủ.
🔗
Tứ Phủ là gì?
🔗Tứ Phủ: nói xa là Chánh Phủ. Nói gần là Tỉnh, Huyện, Xã, Nhà.
🔗Phủ cũng là Dinh thự của một Tổ chức Ban ngành trong xã hội loài người. Nói cho dễ hiểu Phủ cũng là khu vực của một Tổ chức, một cái nhà riêng của ai đó có chức có quyền, hoặc không chức không quyền trong xã hội.
🔗
THỜ TỨ PHỦ
🔗Theo Văn Hóa tín ngưởng tâm linh của người Việt Nam. Miền Bắc đa phần họ hay thờ Tứ Phủ.
🔗Như vậy Tứ Phủ là gì?
🔗Tứ là Bốn. Phủ là Miền, là nơi chổ mà người có tín ngưởng hằng quan tâm.
🔗Đó là:
🔗 1- Thiên Phủ - Cõi Trời. 2- Nhạc Phủ- Cõi Rừng núi.
🔗 3- Thoải Phủ- Cõi Sông Biển. 4- Địa Phủ- Cõi đất.
🔗Cõi đất cũng còn gọi là Cõi Âm Phủ địa ngục.
🔗Thuở xa xưa chưa có Đấng Đại Giác ngộ là Phật xuất hiện tại thế gian này; đa phần dân gian chỉ biết tin tưởng vào bốn cõi, bốn nơi có những đấng Thần linh cai quản hóa chúng độ sanh, hóa độ chúng ta.
🔗Chớ chưa biết còn có một nơi tuyệt diệu hơn bốn cõi Thần linh là Cõi Trời, Cõi Núi Rừng, Cõi Sông Biển, Cõi Âm Phủ địa ngục.
🔗Cõi tuyệt diệu đó là cõi nào? Tức là cõi Niết Bàn An Lạc, Hay cũng gọi là Tây Phương Cực Lạc.
🔗Tại sao lại như thế? Vì cõi hửu vi hửu tướng người ngu cũng biết, người trí cũng biết. Có nghĩa người Hiền, Thần, Thánh, Tiên đều biết. Còn cõi Niết Bàn An Lạc, hay là Tây Phương Cực Lạc bốn hạng người này không thể biết đặng.
🔗
Lý do vì sao?
🔗Vì cõi này nó là vô vi vô tướng, không sắc không pháp, rời cả nói năng luận bàn, suy nghĩ, ý thức. Nó mật mật an nhiên như nhiên thường còn bất biến.
🔗Nó là cõi gì lạ vậy? Nó là cõi mà không phải cõi, không phải cõi mà là cõi chắc thật của mười phương Chư Như Lai. Nó không có một từ nào để gọi cho đúng cả; mà chỉ tạm gọi là Tây Phương Cực Lạc hay Niết Bàn Tịnh Diệu.
🔗Nói thẳng ra nó là cảnh của nội tâm vô vi vô tướng của mỗi người, mỗi chúng sanh trong cõi Hồng trần gỉa tạm. Cảnh Niết Bàn Tịnh Diệu hòa đồng cùng thiên nhiên vũ trụ, chân không rổng lặng trùm khắp, bình đẳng bất sanh bất diệt, mà người chấp pháp tướng, hay chấp phi pháp tướng, dầu là hửu vi hay vô vi, dù là người trần gian hay người trung giới cũng không thể thấu biết. Chỉ có Như Lai mới hiểu Như Lai mà thôi. Cảnh nội tâm của mỗi người, mỗi chúng sanh đồng nhất với cảnh tự nhiên thiên nhiên của vũ trụ. Phật dạy tất cả chúng sanh đều có tánh Phật là đây. Lịch sử văn hóa Dân Tộc chúng ta có nhiều vị Tu chơn đã đạt lý Chân thật chổ này! Có nghĩa đã thành Phật Thánh. Nhưng đất nước ta nhiều thời kỳ bị đô hộ xéo dày, bị tiêu hủy Văn Hóa quý báu không còn, thay vào đó văn hóa ngoại lai, thành ra người con Hồng cháu Lạc mất định hướng tu chơn. Đa phần niềm tin tín ngưởng chạy theo Thần Thánh tiên Phật nước ngoài, mà chẳng biết gì là Phật Thánh Thần Tiên đất mẹ. Cụ thể như trong Truyền thuyết Ngoại Tổ của người Lạc Việt là Cam Lâm Đại Đế ở Động Đình Hồ là Vua Cha của Xích Lân Thần Nữ, là Ngoại Tổ của Vua Lạc Long Quân, Quá vãng về Trời, thành Tiên Cứu độ bá tánh vạn dân, mà từ lâu không nghe nhắc tới.
🔗TIN SAI LẦM
🔗Tin lầm phủ nhận văn hóa nước nhà
Là sai bổn phận Mẹ Cha đoái hoài
Phật Tiên Thần Thánh Nước ta
Không thua các nước Đồng hòa giáo ngôn
Ai ơi phải nhớ bảo tồn
Hoa Văn Đất Việt kim ngôn nghìn vàng
🔗Có người bảo sai lầm rằng: Thờ Tứ Phủ là chỉ thờ riêng cho người tín ngưởng của Đạo Mẫu Việt Nam, chớ họ không hiểu là thờ cả Đạo Trời cùng Hồn thiêng Sông Núi. Thờ những đấng Anh Hùng đã hy sinh đời mình, hy sinh cả tài sản để bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, bảo vệ con dân Việt Nam qua bao thế hệ, sống đặng ấm no hạnh phúc.
🔗
Nghĩa Tứ Phủ là:
🔗
Một là: Thờ Thiên Phủ: Trên cõi Trời đâu phải chỉ có Thiên Mẫu, Tiên nữ, Cung Nữ cõi Trời ủng hộ Bách tính vạn dân. mà chẳng có Thượng Đế cùng Thiên Binh Thiên Tướng là người Nam.
🔗
Hai là: Thờ Nhạc Phủ: Đâu phải chỉ tôn thờ Mẫu Thượng Ngàn cai quản núi rừng Thiên nhiên cây lá xanh tươi sạch đẹp, bảo vệ môi trường khí hóa, luân lưu tạo điều kiện cho mọi loài tăng thêm năng lượng, có sức sống bền vững lâu dài tuổi thọ, mà không có Nam Nhân tương trợ hài hòa giúp sức bảo vệ Quốc dân an cư lạc nghiệp.
🔗
Ba là: Thờ Thoải Phủ (Thủy): Thủy Phủ Sông Biển là Gốc nguồn của Sơ Ngoại Tổ người Việt Nam ở Động Đình Hồ. Bà là Xích Lân Long Nữ. ( có chổ nói Bà Chúa Thủy là con gái Út của Động Đình Quân) Tuy đã thành người Thiên Cổ. Nhưng lòng yêu nước thương dân, con Hồng cháu Lạc luôn thị hiện ta bà đùm bộc cháu con khi gặp tai bay họa gởi. Nhưng Sông biển đâu phải chỉ có Thủy Thần Nữ Lưu mà không có Nam Nhân như Vua Cha là Cam Lâm Đại Đế và các Quan lại người Nam thường thị hiện cứu độ chúng sanh.
🔗
Bốn là: Thờ Địa Phủ: Địa Phủ là đất đai Thần nhân cai quản từng khu vực, từng địa cuộc. Giúp đở bá tánh nhân sanh, trông coi nhà cửa; trong đó gồm có Thổ Địa Thần Hoàng hồn thiêng Nam Nữ tốt bụng. Ngăn chận kẻ ác tâm xấu nết xâm phạm gia cư bất hợp pháp. Để gia đình Con cháu sống bình an hạnh phúc.
🔗Tổ Tiên xưa về Văn Hóa Bản Địa tin tưởng về Tứ Phủ là bốn cõi đều có hồn thiêng. Nên dạy cúng kính lễ bái cầu xin nếu bản thân và Gia đình có xảy ra chuyện bất thường như bệnh hoạn tai nạn v.v... Cùng dạy các vị lãnh đạo Quốc dân. Nếu trong nước có xảy ra “hạn hán, bảo lụt cuồng phong, dịch bệnh hoành hành”v.v…, tin tưởng luật tạo hóa có âm dương sanh khắc. Có bốn mùa tám tiết thay đổi không ngừng, nên phải theo thời Trời, thời tiết mà sinh hoạt bền vững lâu dài.
🔗Tu nhơn tích đức bảo toàn mạng căn. Giữ gìn Hiếu Để, Trung Tín, Lễ Nghĩa, Liêm Sĩ. (làm con phải có hiếu với cha mẹ, làm vợ làm chồng phải chung thủy, làm Vua quan phải thương dân, làm dân phải thương quan quyền, trên dưới phải đoàn kết thương yêu đùm bộc lẫn nhau.
🔗Làm gương mẫu khuôn vàng thước ngọc cho con cháu về sau khỏi phải tủi nhục khi đi ra đường bị người chê bai là “Con cháu mất dại”. Hoặc bị chê bai là mất gốc, mất nước, có mẹ không cha hay là có cha không mẹ v.v…
🔗Riêng về mặt Tín Ngưởng Thờ Đạo Mẫu của người Việt Nam; là dùng một từ chung của thời đại Nguyên thỉ. Chớ chẳng phải thờ riêng Mẹ mà không thờ Cha.
🔗Theo lý Nguyên sơ Khi Vua Kinh Dương Vương khai Quốc, lập Quốc; dựa vào Văn hóa theo Đạo của mẹ mình là Hoa Tiên Nữ, con gái của Bà Vũ Tiên đang theo là “Đạo Sa Bà”. Đạo Sa Bà là Đạo Trời do Vua Phục Hy và Vua Nữ Oa sáng lập.
🔗Theo truyền thuyết Huyền sử Bà Vũ Tiên là con Gái lớn của Ngọc Hoàng Thượng Đế cho xuống trần để quản lý vùng núi rừng. Về sau giúp dân có nhiều công đức phước báu. Được dân gian tôn tặng là Bà Chúa Thượng Ngàn. Vua Kinh Dương Vương dựa vào Đạo Trời của Bà Ngoại và mẹ đang theo; mà xây đựng nền Văn Hóa Bản địa đầu tiên cho quê hương Xứ sở. Từ chổ đó mà Đạo Trời trở thành Đạo Sa Bà, Đạo Sa Bà biến thành là “Đạo Mẫu”. Vì Vua lập nền Văn Hóa đầu tiên là Đạo của mẹ Ngài đang học và hành. Do vậy mới gọi là Đạo Mẫu. Thuở xa xưa đó chưa có Đạo Lão tử, chưa có đạo Khổng Tử, chưa có đạo Thích Ca. Chưa có từ Phật Tiên Thánh, chưa có từ Ma Quỉ Yêu tinh. Chỉ có từ là “Thần”. Kẻ ác thời gọi là Hung Thần, hung tinh. Người hiền gọi là Hiền Thần, Thiện tinh.
🔗Tinh là tinh tú là sao trên nền trời. Cổ nhân bảo tinh là tinh thần, là Linh Hồn, là tinh hoa sự sống trong thân con người có tánh sáng. Chỉ vì sao trên nền trời là để chứng minh cho chúng sanh biết. Nên việc cúng sao giải hạn hằng năm ngày mùng 08 tháng giêng là đuổi kẻ ác tâm dang ra, cầu người thiện lành đến bảo hộ là thế.
🔗Đạo Mẫu người Việt tưởng niệm là thờ phượng chung hệ thống Thần linh gồm cả Nam Nữ cai quản bốn miền trong thế giới không gian địa cầu, trong Vũ trụ.
🔗
MÀU SẮC TỨ PHỦ
🔗
Thiên phủ: Cõi trời, thể hiện bằng sắc đỏ, do Mẫu Thượng Thiên cai quản. Nói riêng Nước Nam Việt Tức là Diêu Trì Kim Mẫu.
🔗
Nhạc phủ: Cõi rừng núi, thể hiện bằng sắc xanh, do Mẫu Thượng Ngàn cai quản. Tức Bà Vụ Tiên là Mẹ Vợ của Vua Kinh Dương Vương Lộc Tục.
🔗
Thoải phủ: Cõi sông biển, thể hiện bằng sắc trắng, do Mẫu Thoải cai quản. Tức Xích Lân Công Chúa Thần Long là Mẹ Lạc Long Quân cai quản. (Có chổ ghi em gái Út của Xích Lân Công Chúa cũng là Mẫu Thủy).
🔗Đồng thời trong cõi Thủy phủ tuy Cam Lâm Đại Đế Vua Cha của Thần Nữ Xích Lân Công Chúa đã thành Thiên Cổ. Nhưng lúc nào cũng kề cận bên Con Rể mình là Kinh Dương Vương (Lộc Tục ) trợ duyên giúp sức gia trì con Rồng cháu Tiên vượt qua ách nạn.
🔗
Địa phủ: Cõi đất đai, thể hiện bằng sắc vàng, do Mẫu Địa cai quản. Ngoài cõi Địa Phủ còn dùng một từ ngữ là Âm Tào Địa Phủ!.Âm Tào Địa phủ là chỉ vào thế giới tâm linh; tức là cõi Âm cảnh có Vua Diêm Vương cai quản.
🔗Có người hỏi: Tại sao Ông Bà xưa lại bảo là Mẫu Quản lý tất cả?
🔗Đáp rằng: Vì thuở xa xưa còn là Bộ Tộc; tất cả mọi người đều lấy Mẫu Hệ (họ Mẹ). Mẹ là tất cả vì con. Mẹ là tất cả đời con.
🔗
HỆ THỐNG ĐẠO MẪU
🔗Đạo Trời phân biệt Tôn Ti
Giống như trần thế có gì khác đâu
Mẫu nghi Thiên hạ đứng đầu
Mẹ sanh cha dưởng sáng lầu gương xưa
Lời ru con trẻ sớm trưa
Ù ơ báo hiếu mới vừa lòng con
Cha Trời Thượng Đế vuông tròn
Diêu Trì Thiên Mẫu lòng son báo đền.
🔗
Thánh Mẫu: Bốn vị Mẫu đứng đầu bốn phủ, là các đấng sinh dưỡng tối cao trong dân gian Việt Nam.
🔗
Hàng Quan: Ngũ vị tôn quan là các vị tướng lĩnh cấp cao.
🔗
Hàng Chầu: Tứ vị chầu Bà là các nữ quan cận kề.
🔗
Hàng Ông Hoàng: Các vị vương tử, danh tướng hào hoa.
🔗
Hàng Cô, Hàng Cậu: Các thiếu nữ và thiếu niên theo hầu cận, rất linh ứng. (cũng gọi là Kim đồng Ngọc Nữ).
🔗Tứ Phủ là một phần của tín ngưỡng Thờ Mẫu nói chung là Trời đất. Nhưng về sau tín ngưỡng này khi có đạo giáo ra đời; lại dung hòa nhiều yếu tố vớí Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo, Thánh giáo v.v...
🔗Trong đây có những người không hiểu về Đạo Mẫu; nên chê bai Đạo Mẫu là Tà đạo v.v…Nhưng thật ra Đạo Mẫu chính là Đạo Gốc của người Việt Nam Con Rồng cháu Tiên buổi sơ khai. Mà cũng chính là Đạo Trời (Đạo Lương) Đạo Tổ Tiên Ông Bà của người Lạc Việt. Trong vô tình che bai Đạo Mẫu, là chối bỏ Tín ngưởng Cội nguồn, tự mình làm cho mình mất gốc.
🔗Đạo Mẫu có Hầu Đồng để kết nối giữa người sống và người qua đời để biết âm dương tương ứng. Ví như Bộ phận Giao liên của xã hội thông tin từ chổ này đến chổ khác. Chính chổ này mà có kẻ xấu bày trò “mê tín dị đoan gạt gẩm bá tánh sống trong danh lợi làm ảnh hưởng tiếng nhơ đến Đạo Mẫu!”.
🔗Mỗi Thánh Mẫu trong Đạo Tứ Phủ đều có những chuyện kỳ tích cứu dân độ thế oai linh riêng.
🔗
Nơi đây nói về Mẫu Thủy:
🔗Mẫu Thoải hiển linh giúp nước – Hào khí sử Việt
🔗
+ Đời Lý Thái Tổ
🔗Thái Tông dời đô về Thăng Long, vua Lý gặp nạn lụt liên miên. Mẫu Thoải âm phù phái Thủy thần – thủy tướng giúp dân đắp đê, giữ bờ giữ nước.
🔗Đền thờ Mẫu lưu dấu ở Yên Phụ, Nhật Chiêu, Quảng Bá…
🔗
+ Đời Trần Hưng Đạo
🔗Trận đánh quân Nguyên trên sông Xâm Miện, Hưng Đạo Vương mơ thấy một tiên nữ áo trắng cưỡi rồng, báo mộng phò tá. Hôm sau, nước sông dâng cao, chiến thuyền giặc chìm, ta toàn thắng. Nhà vua sắc phong Mẫu là: “Hoàng Long Tĩnh Mạnh, Đoan Trang, Anh Linh Thục Diệu Phu Nhân – Trung Đẳng Thần.”
🔗
+ Đời Lê Thánh Tông
🔗Khi đánh Chiêm Thành, vua đến sông Lèn gặp cuồng phong. Mẫu Thoải hiển linh trấn giữ dòng sông, nước lặng gió yên. Vua thắng trận, tạ ơn, phong Mẫu là Thủy Phủ Thần Nữ – và từ đó Hàn Sơn Thánh Mẫu nổi tiếng bậc nhất.
🔗
Truyền tích Mẫu Thoải vùng Thanh Hóa
🔗Đền Phong Mục
🔗Mẫu Thoải được thờ tại đền Phong Mục, là thành hoàng làng Phong Mục, cách đền chính 3km.
🔗Tương truyền Mẫu được Liễu Hạnh sai phái, về giúp tướng quân Lê
🔗Thọ Vực ( Sùng Quốc Công), đánh tan quân xâm lược.
🔗- Mẫu là mẹ của Lạc Long Quân – Biểu tượng gốc rễ dân tộc. (sơ ngoại Tổ).
🔗Một số truyền thuyết khẳng định Mẫu Thoải chính là mẹ của Lạc Long Quân, xuất hiện từ hồ Động Đình – giếng nguồn của dân tộc Việt.
🔗“Ngài con vua Thủy Quốc Động Đình
Có tiên thần nữ giáng sinh đền Rồng…”
🔗Là vị Mẫu mà dân tộc Việt Nam bao đời tôn sùng: vừa mẫu thân vừa quốc thần.
🔗HỒ ĐỘNG ĐÌNH ngày nay thuộc về Trung Quốc. Lại còn bị ếm. Nhưng Hồn thiêng Ngoại Tổ Cam Lâm Đại Đế vẫn luôn bảo hộ Con cháu Tiên Rồng.
🔗
CHUYỆN TÍCH MẪU THƯỢNG NGÀN
🔗Thượng Ngàn là mẹ muôn dân
Là Con Thượng Đế sáng ngần như gương
Hạ sang ẩn chốn rừng thiêng
Hạ sanh nữ tử Hoa Tiên đẹp lòng
Đế Minh Du ngoạn núi sông
Ngắm nhìn nước nhược mắt trông Hoa ngàn
Chợt nhìn hang động phát quang
Có Nàng Tiên Nữ ngó càng mê say
Chập chừng bước đến hỏi ngay
Rừng thiêng nước nhược con ai chốn này?
Hoa Tiên e thẹn châu mày
Thốt rằng ta mẹ sống rày nơi đây
Ngày vui Hoa Lá cỏ cây
Tối về thêu dệt đường mây hòa cầm
Đế Minh tiến tới hỏi thăm
Mẹ Nàng húy tự danh từ là chi?
Hoa Tiên giãi đáp một khi
Vụ Tiên mẹ mẫu thông tri pháp mầu
Còn ta con mẹ rừng sâu
Có chi xin hỏi đôi câu cãm phiền?
Đế Minh xét thấy hửu duyên
Kết thành phu phụ sanh liền con ngoan
Đặt tên Lộc Tục Lập đàng
Truyền ngôi Vương đế ngai vàng Nam phương
Nam Việt tên Nước Kinh Vương
Lấy sông Dương Tử tỏ tường phân ranh.
Đế nghi lập vị Bắc Thành
Sanh ra Hoàng Tử đặt thì Đế Lai.
Đế Lai hạ sanh Âu Cơ
Kết duyên Sùng Lãm trở thành Mẫu nghi
Cha Rồng Mẹ Phụng trăm con
Xây nền Tổ Ấm mãi còn vạn niên.
🔗
+ Truyện tích thứ nhứt:
🔗Mẫu Thượng Ngàn là con gái thứ nhứt của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Là người có tính cách thẳng thắn, chính trực và rất cứng rắn, nên đã được Ngọc Hoàng ủy thác cho cai quản vùng rừng núi khô cằn hoang vu. Nhưng từ khi nhận trách nhiệm của mình; nơi Bà cai quản cuộc sống của người dân, được cải thiện rất nhiều. Cây cối tươi tốt, và việc săn bắn dễ dàng hơn. Bà dạy người dân sử dụng lữa phục vụ nấu ăn, nên được người dân tôn kính và thờ phụng đến ngày nay.
🔗
+ Tích thứ hai:
🔗Mẫu Thượng Ngàn là con của Đế Thích Thiên, xuống Trần làm con của Hùng Định Vương. Truyền rằng khi Hoàng Hậu mang thai, dù quá kỳ đã lâu mà không sinh nở. Một hôm đang đi trong rừng thời trở dạ. Hoàng Hậu phải vịn vào Cây Quế mới sinh Công Chúa ra đời. Sau đó Hoàng Hậu kiệt sức chầu Trời. Để tỏ lòng thương tiếc Hoàng Hậu, Vua Hùng đặt tên con gái là Quế Hoa. Sau khi trưởng thành Quế Hoa vì thương nhớ mẹ nên đã đi vào rừng sâu, để tìm lại dấu tích của mẹ, Công Chúa đã chứng kiến sự đói nghèo của dân, sống trong những khu rừng hoang sơ cằn cổi, khiến lòng vô cùng thương xót. Sau đó được Phật ban cho phép thuật cùng 12 thị nữ giúp đở cứu khổ dân lành, có một cuộc sống đầy đủ no ấm. Sau khi bà qua đời, để tưởng nhớ công ân người dân tôn bà là Bà Chúa Thượng Ngàn.
🔗
+ Tích thứ ba:
🔗Mẫu Thượng Ngàn vốn là con sinh của Sơn Tinh và Mỵ Nương. Có tên là Công Chúa La Bình. Từ khi lọt lòng mẹ Bà thường quấn quích bên cha. Lớn lên thường theo Cha chu du khắp miền núi non hang động, được các vị Sơn Thần coi trọng.
🔗Khi song thân bà đặng phong làm Thánh bất tử, bà cũng được lên làm Mẫu Thượng Ngàn, quản lý 81 khu rừng và các vùng đồi núi Sơn Động.
🔗Ngoài các việc chăm lo đời sống nhân dân, Bà còn đống góp công sức chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
🔗Có truyền thuyết Bà đã ra tay cứu trợ Nghĩa Quân Lam Sơn của Lê Lợi. Giành được chiến thắng Hòa Bình cho Nước Việt. Vì vậy các triều đại sau, mỗi khi thắng trận đều tổ chức cãm tạ sự phù hộ của bà.
🔗Lý nghĩa việc thờ Mẫu Thượng Ngàn theo truyền thống văn hóa tâm linh của người Việt Nam là: “ thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây”. Mong muốn đời sống toàn dân ấm no hạnh phúc, mọi việc thuận lợi hanh thông.
🔗
MẪU LIỄU HẠNH
🔗Liễu Hạnh con thứ Ngọc Hoàng
Làm bể chén ngọc Trần gian bị đày
Ba lần tái kiếp tân toan
Sắt son lòng dạ mãi còn vạn niên
Cứu dân cứu nước trần miền
Đặng phong Thánh Mẫu tại tiền muôn năm
🔗Mẫu Liễu Hạnh (hay Liễu Hạnh Công chúa, Thánh Mẫu Liễu Hạnh) là một vị thần tối cao trong tín ngưỡng thờ Mẫu, một trong bốn vị thánh trong nhóm Tứ bất tử của văn hóa dân gian Việt Nam, và là hiện thân của Mẫu Thượng Thiên (Diêu Trì) cai quản miền Trời.
🔗Theo truyền thuyết, Mẫu Liễu Hạnh bà vốn là Huỳnh Hoa Công Chúa con gái thứ hai Ngọc Hoàng Thượng Đế, do làm vỡ chén ngọc nên bị đày xuống trần gian và trải qua ba lần giáng sinh trả nghiệp. Sau về lại Thiên Đình Ngọc Hoàng phong sắc là Liễu Hạnh.
🔗- Lần thứ nhất: Giáng sinh vào nhà họ Phạm tại xã Vỉ Nhuế, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, mang tên Phạm Tiên Nga, là người hiền đức, giúp dân lập nghiệp.
🔗- Lần thứ hai: Giáng sinh ở vùng đèo Ngang (Hà Tĩnh,Quảng Bình), hóa thành cô gái xinh đẹp dựng quán nước thử thách khách qua đường, sau đó kết duyên với một nho sĩ tên Trần Đào Tiên.
🔗- Lần thứ ba: Giáng sinh ở vùng Phố Cát (Thanh Hóa), đi vân du khắp nơi cứu độ chúng sinh, trừ gian diệt ác và sau đó quy y cửa Phật.
🔗VĂN HÓA TÍN NGƯỞNG
🔗
Vị thế: Đứng đầu hệ thống Tam phủ, Tứ phủ của Đạo Mẫu Việt Nam.
🔗
Tôn phong: Được các triều đại phong kiến từ thời hậu Lê đến nhà Nguyễn ban nhiều sắc phong, tôn vinh là "Mẫu nghi thiên hạ" (Mẹ của muôn dân).
🔗
Biểu tượng: Đại diện cho khát vọng tự do, quyền năng nữ giới, lòng từ bi và sự bảo trợ cho đời sống nhân dân.
🔗Lễ giỗ chính của bà diễn ra vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch hằng năm.
🔗Các đền thờ chính của Mẫu Liễu Hạnh (như Phủ Giầy ở Nam Định hay đền Sòng Sơn ở Thanh Hóa). Nghi lễ hầu đồng liên quan đến Thánh Mẫu trong văn hóa tâm linh. “Tháng Ba giỗ Mẹ Liễu Hạnh” và huyền tích kỳ ảo về Thánh Mẫu Liễu Hạnh”
🔗Truyền thuyết về Thánh mẫu Liễu Hạnh - những câu chuyện sách giáo khoa chưa kể người Việt ta có câu “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giổ mẹ”.
🔗Ngày xưa, ở trên thiên đình có cô con gái Ngọc Hoàng tên là Huỳnh Hoa được 16 tuổi đầu. Tính tình cô cứng cỏi, không chịu khuất phục kẻ gian manh. Nhân một lần Huỳnh Hoa phạm lỗi làm bể chén ngọc, Thượng Đế Ngọc Hoàng bèn đày nàng xuống trần trong ba năm, sau tăng thêm hai năm, thành ra 05 năm. khi xuống trần, Huỳnh Hoa hóa thân thành một cô gái đẹp, dựng một cái quán ở chân núi đèo Ngang. Đây là nơi rừng núi vắng vẻ nhưng cũng là nơi con đường thiên lý từ Bắc vào Nam vắt qua, nên hàng ngày không bao giờ ngớt bộ hành đi lại.
🔗Từ xưa đến nay, vì sợ giặc cướp và thú dữ, không ai dám đến đó mở quán bán hàng. Vì vậy ngôi hàng độc nhất của Liễu Hạnh ngày nào cũng đông khách. Bất kỳ ai lên đèo xuống đèo, đã đi qua quán không thể không ghé lại nghỉ chân, huống gì trong quán lại có cô gái tuyệt sắc. Từ khi bị đày, Liễu Hạnh vẫn chưa bỏ được nết cũ, khinh mạn và trêu chọc mọi người. Cho nên, hễ ai vào quán ăn bánh uống nước rồi tiếp tục ra đi thì không sao. Nhưng hễ thấy chủ quán xinh đẹp mà giở thói cợt nhả, hoặc có ý cậy sức, cậy thế, cậy thần làm điều bất chính thì nàng quyết trị tội không tha: lúc trở về nếu không lăn ra chết cũng trở thành điên rồ ngây dại.
🔗Hồi ấy là thời vua Lê Thái Tổ trị vì thiên hạ. Tiếng đồn về một cô gái đẹp một mình mở quán ở đèo Ngang không mấy chốc lan truyền rất rộng. Khắp nơi bàn tán xôn xao. Người thì nói chủ quán là một cô gái võ nghệ hơn đời, mình nàng địch nổi trăm người một lúc. Kẻ thì cho cô là một ả giang hồ thành thạo, không những giỏi quyến rũ trai tơ mà còn làm nhiều nghề không lương thiện khác. Cũng có người cho cô là một nàng tiên xuống thử người phàm trần. Mỗi người nói một phách không biết thế nào mà tin. Nhưng tiếng đồn xa gần về cô chủ quán đèo Ngang cũng thu hút vô số chàng trai vô công rồi nghề từ làng quê đến kẻ chợ. Hoàng tử con vua Lê bấy giờ đang trẻ người non dạ, nghe tin ấy bụng cũng say mê. Hoàng tử muốn sai ngay quân lính đi bắt người con gái kia về, nhưng vốn biết tính vua cha rất nghiêm khắc, làm náo động cả một phương là chuyện không bao giờ nhà vua cho phép. Vả lại nghe nói người con gái ấy đã giỏi võ nghệ lại có nhiều phép thuật nên cũng ngần ngại.
🔗Sau cùng không ngăn nổi lòng ao ước và trí tò mò, một hôm, hoàng tử giấu vua cha và hoàng hậu, sắm sửa cáng xá hành lý, đóng vai một nhà quý tộc trẻ tuổi dẫn đoàn thị vệ cải trang ra đi. Sau hơn mười ngày đường, hoàng tử vượt qua sông Lam, rồi núi Nam-giới, và sắp bước chân lên đèo cao nhất.
🔗Từ trên đèo Ngang, Liễu Hạnh đã biết có hoàng tử đến tìm mình, lại cũng biết đó là một chàng trai tầm thường, không có bản lĩnh gì, nhưng lại kiêu căng, dật lạc. Để ngăn cản, nàng hóa phép thành một cây đào tiên mọc ở vệ đường, chỗ hoàng tử đang nghỉ chân; trên cây có một quả chín mọng rất đẹp mắt. Hoàng tử vừa chợt thấy quả đào đã thèm rỏ giãi, bèn không đợi sai lính hầu, vội trèo lên ngắt xuống toan ăn. Quả đào đang thơm ngát và ngon lành, bỗng đâu khi sắp bỏ vào miệng thì trở nên mềm nhũn trên tay hoàng tử, rồi thu nhỏ, cuối cùng mất biến không còn tý gì nữa. "Quả đào này có ma?". Bọn thị vệ kinh hãi la lên và khuyên hoàng tử hãy nên cẩn thận. Hoàng tử cũng cảm thấy rờn rợn. Nhưng vì vẫn không thể hiểu được ý nghĩa răn đe kín đáo của Liễu Hạnh, nên một chốc sau chàng lại giục phu cáng tiếp tục đi nhanh đến chân đèo. Khi giáp mặt Liễu Hạnh quả nhiên cả thầy lẫn tớ ai nấy đều thảng thốt sững sờ. Chưa bao giờ hoàng tử lại mê mẩn đến như thế. Người con gái này có nhan sắc kiều diễm đúng như lời đồn, trong cung đình vua cha dễ không có người nào sánh kịp. Hoàng tử bèn kín đáo hạ lệnh cho cả đoàn dừng chân ở quán, lân la hết ăn đến uống kéo dài đến tận chiều, rồi khi mặt trời gần lặn, bảo với chủ nhân:
🔗- Đường xa trời tối. Chúng ta muốn nghỉ lại ở đây một đêm. Chẳng hay nữ chủ nhân có bằng lòng không
🔗Liễu Hạnh đã thừa rõ tâm tư của hoàng tử, bèn khước từ:
🔗- Thưa công tử, ở đây hàng quán chật chội, vả lại chỉ có mấy chị em là đàn bà con gái, công tử và các vị ở lại sợ không tiện. Cách đây nửa dặm về phía Đông có làng xóm. Các vị đến đó trú sẽ có sẵn nhà cửa và dân phu phục dịch.
🔗- Chúng ta chỉ cần nghỉ ở đây thôi! Nữ chủ nhân đừng lo. Chỉ cần một chỗ trong quán để căng màn là đủ. Ngoài ra xin hứa là không làm gì phiền đến nữ chủ nhân cả.
🔗- Nếu thế thì công tử cứ tùy tiện.
🔗Tối lại, mọi người ăn cơm xong sửa soạn đi ngủ. Những phu cáng và lính hầu trải chiếu nằm la liệt giữa sân. Riêng hoàng tử đã có hai thị vệ căng màn trướng ở trong quán. Trời mùa hè mát mẻ, trăng gió hữu tình. Dưới ánh đèn dầu, hoàng tử dựa cột trò chuyện với nữ chủ quán không rời. Liễu Hạnh vẫn chịu khó ngồi nán lại tiếp. Mỗi lời nói của nàng đều đẹp lòng khách làm cho hoàng tử càng thêm mê hồn. Chàng quên mất lời hứa, đánh rơi cả vẻ đạo mạo lúc mới tới và bắt đầu tả lơi. Liễu Hạnh cự tuyệt và chạy vào buồng. Trong cơ si mê, hoàng tử không cần gì thể diện nữa, bèn chạy theo vào. Có ngờ đâu chỉ trong nháy mắt, Liễu Hạnh đã biến hình, phi thân lên núi bắt một con khỉ cái về cho hóa thành một cô gái đẹp để đánh lừa hoàng tử. Không thấy chủ quán đâu nhưng thấy một cô gái khác trong buồng, hoàng tử liền cầm lấy tay dắt tới trước đèn. Nhìn thấy cô gái này cũng đẹp không kém gì cô chủ, hoàng tử liền giở trò suồng sã. Nhưng bỗng chốc hắn rú lên một cách dễ sợ làm cho bọn lính hầu đều tỉnh dậy. Trong tay hoàng tử không phải là một cô gái nõn nà nữa mà là một con khỉ cái lông lá đầy người. Bọn lính hầu xông lại. Vụt một cái, con khỉ lại biến thành một con rắn hổ mang hoa từ trên người hoàng tử vươn lên kèo nhà, há miệng phun lửa phì phì, rồi biến mất. Khi bọn lính hầu thắp được đèn lên thì hoàng tử đã ngã vật ra quán mê man, mặt cắt không còn giọt máu.
🔗Nửa đêm hôm đó người ta cắt ngựa trạm đưa hoàng tử về kinh. Về đến cung, hoàng tử trở nên mất trí, ai hỏi cũng không trả lời, chỉ cười nói một mình. Hoàng hậu và phi tần hết sức lo sợ. Một mặt, Hoàng hậu cho giấu kín chuyện "vi hành" khinh suất đó, mặt khác cho mời các bậc ngự y và thầy thuốc giỏi khắp kinh thành. Tuy nhiên, các danh sư được đón vào chữa chạy cho hoàng tử đều lắc đầu bó tay. Trong cung càng thêm bối rối hoảng hốt. Sau cùng, có người mách nên vào xứ Thanh Hóa xin bùa phép ở tám vị Kim Cang họa may mới khỏi.
🔗Lại kể chuyện một ngàn năm về trước, Phật bà Quan âm một hôm hiện ra ở biển Đông hóa phép thành hai cái túi: một nổi lên ở giữa biển, còn một, ở trên núi Ói làng An-đông xứ Thanh Hóa. Sau một thời kỳ lâu dài, hai cái túi nở ra hai đóa hoa, và từ trong mỗi đóa hoa hiện ra bốn vị tướng có phép biến hóa cực kỳ huyền diệu. Theo lệnh của Phật bà, tám vị tướng thân chinh đi tám phương đánh dẹp tà ma quỷ quái đang hoành hành quấy nhiễu. Dẹp xong, Phật bà gọi họ về ở lại chỗ cũ. Người ta quen gọi là Bát bộ Kim Cang. (Lời cầu nguyện có Bát Bộ Kim Cang sau này).
🔗Lập tức bọn thị vệ được lệnh vua vào Thanh-hóa để xin bùa phép của tám vị Kim Cang. Nhờ có bùa phép, hoàng tử dần dần khỏi bệnh. Sau khi bình phục, hoàng tử cúi đầu nhận tội với vua cha, kể lại cho vua nghe tất cả câu chuyện gặp gỡ giữa mình với nữ chủ quán ở đèo Ngang. Vua Thái Tổ hết sức giận dữ, vì hoàng tử đã dám khinh thường lệnh vua, bỏ phủ đi chơi, hãm mình vào cảnh thân tàn ma dại, nên xuống chiếu cất ngôi hoàng tử mà lập con thứ lên thay. Nhưng vua còn hết sức giận dữ vì ở trên bờ cõi mình trị vì lại có một người con gái dám khinh nhờn phép nước. Vua bèn ban lệnh hỏi quan trấn thủ xứ Nghệ về lai lịch nữ chủ quán đèo Ngang. Sau một thời gian cho người cất công dò la, quan trấn thủ mới gửi sớ về tâu bày, trong sớ nói đó là một nữ yêu không biết từ đâu đến, hay bắt hồn đàn ông con trai, nếu không có phép cả tài cao thì khó lòng khuất phục.
🔗Vua lại lệnh cho với các pháp sư phù thủy cao tay đi trừ yêu. Nhưng chẳng bao lâu họ đã trở về triều xin chịu tội vì chẳng những không trị nổi yêu mà mọi phép giở ra đều bị Liễu Hạnh thu mất cả. Vua lại đành phải cầu cứu tám vị Kim Cang. Nhận lời vua, tám vị phi thân vào đèo Ngang. Được tin chẳng lành, Liễu Hạnh ra ứng chiến. Cuộc chiến đấu dần dần trở lên dữ dội. Mới đầu Tám vị Kim Cang làm một trận bão lớn, mưa dồn gió giật khủng khiếp, cây đổ khắp lượt, nước tràn vào vây lấy đèo Ngang. Liễu Hạnh cũng hóa phép chống lại. Nàng làm cho cây rừng đã đổ lại đứng dậy cùng với đất đá bay rào rào vào kẻ thù. Thấy Liễu Hạnh pháp thuật cao cường, tám vị Kim Cang lại hóa phép thành thú dữ tập hợp nhe nanh múa vuốt xông vào hàng đàn toan xé cắn, nhưng Liễu Hạnh đã kịp thời bay lên không trung, rồi dùng phép tiêu diệt hết bầy mãnh thú.
🔗Trận đánh diễn ra ba ngày ba đêm. Đèo Ngang trở thành một bãi chiến trường rùng rợn. Mọi phép thuật của hai bên lần lượt giở ra mà chưa phân thắng phụ. Về sau tám vị Kim Cang biết mình bất lực, bèn bay lên trời cầu khẩn Phật bà. Phật bà ném cho họ một cái túi. Nhờ đó nên cuối cùng Liễu Hạnh sa vào túi của Phật bà. Tám vị Kim Cang mang túi về kinh báo tiệp.
🔗Vua lập tức ra sân điện tra hỏi.
🔗- Ngươi là ai?
🔗- Tâu bệ hạ, là con gái Ngọc Hoàng bị đày xuống cõi trần, lấy vùng đèo Ngang làm nơi trú ngụ.
🔗- Là con Ngọc Hoàng sao lại phá phách dân sự và làm hại hoàng tử con ta?.
🔗- Việc trừng trị bọn con trai chòng ghẹo nhi nữ, ăn hiếp người cô đơn là tuân theo phép nước, không phải phạm phép nước.
🔗Thấy Liễu Hạnh nói là con Ngọc Hoàng, lại thấy nàng đối đáp khôn ngoan, vua đổi giận làm vui. Cho nên sau cuộc thẩm vấn, vua hạ lệnh tha bổng, chỉ khuyên nàng đừng gây náo động và tàn hại dân lành. Ít lâu sau Liễu Hạnh sinh một đứa con trai, mỗi bàn tay có sáu ngón, nàng mang con đến ngôi chùa trên núi Hồng-lĩnh gửi cho một nhà sư nuôi dạy, dặn nhà sư hãy giúp cho con mình được lừng danh trong nước. Rồi đó, đủ ba năm. Liễu Hạnh trở về trời. Nhưng không bao lâu Liễu Hạnh lại bị Ngọc Hoàng đày xuống trần một lần nữa. Lần này Liễu Hạnh đến đèo Ba-dội cũng là nơi vắng vẻ, rồi dựng lên ở đây một cái lầu ba tầng, bốn bên có thành bao bọc. Trong thành có vườn, đủ các thứ hoa thơm cỏ lạ. Trong vườn tập hợp đủ các giống chim. Cạnh vườn có ao, thả đủ các giống cá. Hàng ngày nàng sai mở cửa cho khách bộ hành đi qua về lại được tự do vô nghỉ chân và nhìn ngắm. Ở đây có quán xá, và cũng như lần trước, Liễu Hạnh thường hóa mình cô gái bán hoa quả, quà bánh, trầu nước và đồ chơi. Ai ăn uống mua bán rồi đi thì không sao, nếu giở chuyện trộm cướp trăng hoa, lập tức bị nàng trừng trị.
🔗Ở được mấy năm, Liễu Hạnh lại sinh một con trai thứ hai. Đứa bé thiếu mất ở mỗi bàn tay một ngón. Nàng đem con gửi cho một sư nữ ở chùa Bà-đỏ, bảo sư rằng:
🔗- Ta hai lần xuống trần đẻ được hai đứa con, cũng định cho chúng trở thành vương giả nhưng không đạt, vì một đứa quá thừa, một đứa lại quá thiếu. Hãy làm cho nó được nổi tiếng, ít nhất cũng trở thành Trạng. Rồi đó, hết hạn ở trần. Liễu Hạnh đốt tất cả lâu đài mà trở về trời. Những đứa con của Liễu Hạnh về sau quả nhiên nổi tiếng, trong đó có một đứa tên là Trạng Quỳnh. Chỗ di tích ngôi đền của Liễu Hạnh xây lên ở xứ Thanh Hóa và ở xứ Nghệ An, người ta dựng thành đền thờ trên núi. Không một ai dám động đến một vật gì ở các ngôi đền này cả, vì sợ Liễu Hạnh báo thù.
🔗Theo truyền thuyết, Thánh Mẫu Liễu Hạnh vốn là Công Chúa Quỳnh Hoa (con gái thứ hai của Ngọc Hoàng) và đã ba lần giáng sinh thành người phàm với các tên gọi trần gian khác nhau: Phạm Tiên Nga (lần giáng thứ nhất), Lê Thị Thắng (lần giáng thứ hai theo gia phả) và tên Giáng Tiên. Theo truyền thuyết Mẫu Liễu Hạnh được thế gian tôn tặng là Đệ nhứt vì bà Châu du nhiều nơi nhiều người biết đến. Còn hai vị kia ít người biết!, chớ thật ra là con thứ hai con của Thượng Đế Ngọc Hoàng.
🔗
MẪU THƯỢNG NGÀN
🔗Bà Vụ Tiên là một vị thần nữ siêu cổ trong truyền thuyết họ Hồng Bàng. Theo các ngọc phả và sách sử cũ như Lĩnh Nam chích quái hay Đại Việt sử ký toàn thư, bà là con gái của vị thần núi ở vùng Ngũ Lĩnh.
🔗
Thân thế và gia đình
🔗Trong các sách sử cũ như Đại Việt Sử ký Toàn thư, thông tin về thân thế hay cha mẹ cụ thể của bà Vụ Tiên không được ghi chép rõ ràng, chỉ biết bà là người con gái dòng dõi tiên tộc ở vùng núi phía Nam sông Dương Tử thời thượng cổ.
🔗Theo truyền thuyết họ Hồng Bàng trong sử sách Việt Nam, bà Vụ Tiên (Vụ Tiên Nữ) là người con gái xuất thân từ vùng núi Ngũ Lĩnh (hoặc khu vực miền núi châu Đại Man/Ngũ Lĩnh thuộc miền nam Trung Quốc ngày nay).
🔗Sách sử truyền thuyết không ghi chép cụ thể tên tuổi hay địa danh chi tiết về thân sinh (cha mẹ đẻ) của bà Vụ Tiên. Những vị Tiên nữ Việt thời Hùng Vương.Vụ Tiên Nữ là vị Tiên siêu cổ của người Việt.
🔗THỜ TAM PHỦ
🔗Tam Phủ tín ngưởng dân gian
Đạo Trời ba cõi giữ đàng canh tân
Thiên Phủ Đức cả trong ngần
Nhạc phủ Rừng núi tượng trưng hoa ngàn
Kim chi ngọc điệp nghìn vàng
Đệ nhứt Công Chúa hạ sang bảo trì
Thượng Ngàn Mẫu mẹ hôm ni
Hiệp cùng Thủy phũ còn chi sánh bằng
Ban đêm nhờ có đèn trăng
Ban ngày tỏ sáng nhờ đèn thái dương
Mẫu Thoải Sông Biển Tứ phương
Bảo an xã tắc mở đường Thiên Thai.
🔗Tam phủ theo tín ngưởng dân gian người việt là:
🔗1) Thiên phủ là cõi Trời
2) Nhạc Phủ là cõi Núi rừng.
3) Thoải phủ là cõi Sông biển.
🔗- Thiên phủ: Cõi trời, do Mẫu Thượng Thiên cai quản, tượng trưng cho mây mưa, sấm chớp và các hiện tượng khí tượng.
🔗- Nhạc phủ: Cõi rừng núi, do Mẫu Thượng Ngàn cai quản, tượng trưng cho cây cỏ, thú rừng và nguồn lợi lâm sản.
🔗- Thoải phủ: Cõi sông biển, do Mẫu Thoải cai quản, tượng trưng cho ao hồ, sông biển và nguồn nước sinh hoạt.
🔗
* Ý Nghĩa Tín Ngưỡng
🔗- Hệ thống thần linh: Tam phủ công đồng quy tụ các vị thánh mẫu, quan lớn, chầu bà, cô, cậu hoạt động dưới quyền của các Mẫu cai quản ba miền.
🔗- Đời sống tinh thần: Thể hiện ước nguyện mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, sức khỏe và sự bình an cho con người. Tam phủ là danh từ để chỉ ba vị thần thánh trong hệ thống tín ngưỡng Việt Nam gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải.
🔗+ Mẫu Thượng Thiên tức là Thiên Mẫu Diêu Trì.
🔗+ Mẫu Thượng Ngàn tức là Đệ Nhứt Công Chúa con của Mẹ Diêu Trì.
🔗+ Mẫu Thủy (Thoải) tức là Xích Lân Thần Nữ Công Chúa con của Cam Lâm Đại Đế Động Đình Hồ. (Căn cứ theo truyền thuyết huyền sử.)
🔗
NHỨT TỨ BẤT TỬ
🔗Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam gồm bốn vị thánh:
🔗1)- Thánh Tản Viên.
🔗2)- Thánh Gióng.
🔗3)- Chử Đồng Tử.
🔗4)-Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
🔗Bốn vị này là bốn vị Hiển Thánh cứu nước cứu dân Việt Nam, thường thị hiện khắp nơi cùng chốn, trong mọi hoàn cảnh lảnh vực để cứu bá tánh vạn dân thoát qua kiếp nạn. Cũng giống như Đạo Phật có Quan Thế Âm Bồ Tát. Người đời sau chỉ biết có Bồ Tát Phật, mà không biết có Bồ Tát Thánh của Việt Nam. Và có những lúc Bồ Tát Thánh của Việt Nam hoặc Tổ Tiên mình rất nhiều người hiển Thánh thành Tiên Phật cứu độ con dân, thường thị hiện là Phật là Tiên độ mình, mà mình không hay biết gì cả. Thật đáng thương tiếc cho người lầm lẫn. Và cũng đáng thương tủi cho Hồn thiêng Sông Núi trên đất mẹ thân yêu.
🔗
Tóm lại: Lịch Sử Văn Hóa Dân Tộc, Hồn Thiêng Sông Núi hiển linh cứu nước cứu dân nhiều người, nhiều thời đại. Nhưng chỉ nhắc được Đại khái số ít. Ngoài ra thời rất nhiều, nhiều vị anh hùng oanh liệt. Nhiều người thị hiện là Quan Thế Âm, là Đức Mẹ Ma RiA, Là Chúa JESU, là Phật Thích Ca độ con dân Đại Việt mà Chúng ta không hay biết.
🔗Tản Viên Sơn Thánh hiển linh
Đời Hùng làm rể đẹp tình Mỵ Nương
Chiến thắng Thủy Tinh oai cường
Đặng phong bất tử mở đường Thiên Thai
Thánh Giống tướng Trời bằng nay
Giặc Ân cướp nước đánh rày bại vong
Đồng Tử Chử chẳng mong
Vô tình cưới đặng Má Hồng Tiên Dung
Liễu Hạnh cứu độ khắp vùng
Đặng phong bất tử anh hùng Nam Bang.
Tản Viên Sơn Thánh rõ ràng
Thánh Giống, Đồng Tử thêm nàng Huỳnh Hoa
Nhứt tứ Bất Tử xét ra.
Chẳng riêng bốn vị mà là vô biên.
Nước Nam Đại Việt linh thiêng
Nhiều trang tuấn kiệt, khắp miền Giao Châu.
🔗Nguyện Hồn thiêng Đất mẹ thân thương, tha lỗi cho các con ngu dại; vì qua nhiều thời kỳ mất nước, nhà tan. Nền Văn hóa Bản địa bị người hủy hoại không còn; chúng con không hiểu nên lỗi lầm thâm trọng. Nay biết được. xin tâm thành hướng về Nội Tổ Ngoại Tổ Tiên linh sám hối tam bái, và quay đầu hướng thiện ăn năn.
🔗Cầu nguyện Nội Tổ Ngoại Tổ tiên linh Vạn thọ Vô Cương, từ bi lân mẫn hộ độ cháu con Rồng Tiên quê cha đất mẹ miên trường bất tận.
🔗Cầu chúc Bá tánh vạn dân trong nước cũng như ngoài nước. Và các dân tộc trên thế giới đồng là có Phật Tánh như nhau, đều là con chung của Thượng Đế Mẫu Hoàng, hảy xóa bỏ oan trái hận thù sống chung hòa bình hạnh phúc.
🔗Chúc tất cả đều An Lạc trong ánh hào quang của Ba đời Chư Phật.
🔗Nam Mô Cam Lồ Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
🔗Đầu voi Rừng Cấm, ngày 24 tháng 06 năm Bính Ngọ. 2026.
🔗------------HẾT-----------
🔗
PHẦN BỔ TÚC
🔗Nhắc lại Trung Quốc nguồn gốc là dân du mục từ phía Bắc. Đời vua Thần Nông họ đã thường xuyên đánh chiếm về phía Nam rồi.
🔗Trong Kinh Dịch cũng có đoạn nói Hoàng Đế Nhà Hán chiếm đất của Viêm Đế. Như vậy Trung Quốc là con cháu của ông Hoàng Đế Hán Tàu, còn Bách Việt là con cháu của Phục HY, Nữ Oa, Thần Nông. Vùng phía Bắc sông Dương Tử mà vua Đế Minh chia cho Đế Nghi đã bị các dân tộc Hán phía bắc tràn xuống chiếm lấy. Chiếm xong họ lập nhà nước khác (nhà Hạ, Nhà Thương), nên Trung Quốc bây giờ lấy nhà Hạ làm nhà nước đầu tiên.
🔗Họ bịa Vua Đế Nghi ( Đế Trực) Đế Lai (Ly) là nhân vật trong huyền sử thời Hồng Bàng truyền thuyết về họ Thần Nông, không phải là nhân vật lịch sử có thật. Do đó, dòng dõi hay hậu duệ của nhân vật này theo nghĩa sinh học thực tế là không có thật và không thể xác định trong lịch sử hiện đại. Hầu dòng dõi Thần Nông đại để là Phương Bắc bên kia Sông Dương Tử, quên cội quên nguồn mất gốc hẳn hòa đồng sống chung với họ.
🔗
Ý nghĩa trong truyền thuyết
🔗- Đế Lai là cháu đời thứ tư của Thần Nông, con của Đế Nghi, (Đế Trực) cai trị vùng phương Bắc.
🔗- Theo Lĩnh Nam Chích Quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Âu Cơ (con gái Đế Lai) kết hôn với Lạc Long Quân sinh ra trăm trứng, là hệ thống cho huyền thoại "Con Rồng cháu Tiên" và nguồn gốc của người Việt không còn!.
🔗Đế Ly (帝釐)[1] [2] hay Đế Lai (chữ Hán: 帝來) [3] [4] [5] hoặc Đế Khắc (帝克)[2] [3] được xem là vị vua thứ sáu của Thần Nông thị được ghi trong huyền sử Trung Quốc. Theo Tư Mã Trinh bổ sung vào Sử ký phần Tam Hoàng bản kỷ và Tư trị thông giám thì tên ông là Ly,[1] [2] [6] là con của Đế Trực và là cháu nội Đế Minh.[1] Các sách khác, như Thái Bình ngự lãm (dẫn Đế vương thế kỷ), Thông giám tục biên hay Sử toản thông yếu đều chép tên ông là Lai.[3] [4] [7] Sách Tư trị thông giám và Thông giám tục biên còn gọi ông là Khắc,[2] [3] con trai của Đế Nghi (Đế Nghi còn được gọi là Đế Trực).[3] Cả Tư trị thông giám và Thông giám tục biên đều chép là ông làm vua 48 năm.[2] [3] Đế Lai nạp con gái Xích Thủy thị là Thính Yêu làm phi.
🔗Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì Đế Lai từng đem binh xuống phương nam tuần du (nước Xích Quỷ) mang theo cả con gái, Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, đẻ ra trăm con trai (tục truyền là đẻ ra trăm trứng), là tổ của Bách Việt. [5]
🔗1. Trần Kình (陳桱) Thông giám tục biên (通鑑續編). Quyển 1. Đoạn 8. Trích dẫn:
🔗Theo truyền thuyết và các ghi chép cổ như lịch sử truyền tụng đời thượng cổ, vua Thần Nông đã tại vị 140 năm.
🔗
Chi tiết về thời kỳ của Thần Nông
🔗
Thời gian tại vị của bản thân Thần Nông: 140 năm theo ghi chép của Tư Mã Trinh trong sử sách Trung Hoa cổ đại.
🔗
Thời gian trị vì của cả dòng họ/đời truyền: Hậu duệ của Thần Nông truyền tiếp được 8 đời, kéo dài tổng cộng 520 năm trước khi bị Hoàng Đế (Hiên Viên) đánh bại.
🔗Vua Thần Nông tại vị 140 năm, mất ở Trường Sa .....
🔗Thần Nông thị lấy người con gái Mãng Thủy thị tên là Thính Bạt, sinh Lâm Khôi tự lập làm Viêm Đế, tại vị 80 năm, Lâm Khôi sinh Đế Thừa, tại vị 60 năm, Thừa sinh Đế Minh, tại vị 49 năm, Minh sinh Đế Nghi lại viết là Đế Trực tại vị 45 năm, Nghi sinh Đế Lai còn viết là Đế Khắc tại vị 48 năm, Lai sinh Đế Lý lại viết là Đế Cư tại vị 43 năm, Cư sinh Tiết Hành, Tiết Hành sinh Khắc và Hí, đều không làm vua, Khắc sinh Đế Du Võng.... Chư hầu quy phục vua 55 năm Hồ Nhất Quế (胡桂), Sử toản thông yếu. Quyển 1. Đoạn 9-10: Thần Nông. Trích dẫn: Thần Nông thị sau có đế Lâm Khôi, đế Thừa, đế Minh, đế Trực, đế Lai, đế Ai, đế Du Võng tất cả là tám đời. Theo Hán Việt Thiều Chửu thì chữ 氂 (ly) cũng giống như chữ 斄 (ly, lai).
🔗
NHÀ VIẾT SỬ TƯ MÃ THIÊN
🔗
Tư Mã Thiên (khoảng 145 TCN – 86 TCN) là nhà sử học vĩ đại, được tôn vinh là "cha đẻ ngành sử học Trung Quốc". Ông sống vào đầu thời nhà Đông Hán và là tác giả của bộ [Sử ký][18] – công trình thông sử nổi tiếng ghi lại lịch sử Trung Hoa suốt 3.000 năm.
🔗
Thân thế và sự nghiệp:
🔗
Gia thế: Ông sinh ra tại Long Môn (nay là Hà Tân, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc), có cha là Tư Mã Đàm – quan Thái sử giữ chức vụ chép sử của nhà Hán.
🔗
Hành trình: Từ nhỏ ông đã thông kim bác cổ, sau đó đi du lịch khắp nơi để khảo sát thực tế, thu thập tài liệu lịch sử quý giá.
🔗
Bi kịch: Vì bảo vệ tướng Lý Lăng thất trận trước quân Hung Nô, ông bị Hán Vũ Đế phán tội lăng nhục và chịu hình phạt cung hình (thiến) vô cùng đau đớn
🔗
Ý chí: Nén nhục nhã, ông tiếp tục làm quan Trung thư lệnh và dồn toàn bộ tâm huyết hoàn thành tác phẩm để đời.
🔗DI SẢN VÀ TÁC PHẨM SỬ KÝ:
🔗
Tác phẩm vĩ đại: Bộ Sử ký gồm 130 thiên với các phần: Bản kỷ, Biểu, Thư, Thế gia và Liệt truyện.
🔗
Phương pháp đột phá: Sáng tạo ra thể "Kỷ truyện" (viết sử qua nhân vật và chủ đề thay vì chỉ đơn thuần theo thời gian), làm nền tảng cho các bộ sử gia chính thống đời sau.
🔗
Giá trị nhân văn: Không chỉ ca ngợi vua chúa, ông còn dành sự cảm thông sâu sắc cho những người dưới đáy xã hội, giữ tinh thần ghi chép sự thật khách quan.
🔗Tìm hiểu thêm về ý chí kiên cường và triết lý sống vượt qua nghịch cảnh của vị sử gia này qua video chi tiết dưới đây:
🔗Ngay từ khi còn trẻ, Tư Mã Thiên đã khác thường. Thay vì sống yên ổn, ông chọn “viễn du” khắp nơi để tận mắt thấy cuộc sống nhân dân.
🔗
TƯ MÃ TRINH
🔗Đời Đường
🔗
Tư Mã Trinh (679–732), tự Tử Chính, là một quan viên và nhà sử học nổi tiếng người Trung Quốc sống dưới thời nhà Đường. Ông được biết đến nhiều nhất với công trình biên soạn bộ Sử ký sở ẩn (30 quyển), một trong ba tác phẩm chú giải kinh điển nổi tiếng được gọi là "Sử ký tam gia chú" cho bộ Sử ký của Tư Mã Thiên.
🔗
Thân thế và sự nghiệp
🔗
Quê quán: Người quận Hà Nội (nay là thành phố Thấm Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc).
🔗
Chức vụ: Từng giữ các chức quan như Triều tán đại phu, Quốc tử bác sĩ, Hoằng Văn Quán học sĩ và Nhận chức Nhuận Châu biệt gia dưới thời vua Đường Huyền Tông (niên hiệu Khai Nguyên).
🔗
Tác phẩm tiêu biểu: Sử ký sở ẩn được ông hoàn thành khoảng năm 732 nhằm đính chính, bổ sung và chú giải các địa danh, nhân vật, điển tích cũng như ngữ nghĩa còn thiếu sót hoặc chưa rõ trong bộ Sử ký.
🔗Nhà Viết Sử đại tài của Trung Quốc trong thời nước ta bị xóa sổ. Dân ta bị coi là Man Di mọi rợ. Tức Nhà Hán và Nhà Đường. Hai Ông là Quan viên trung thành của Trung Quốc viết sử, họ có quan tâm đến Nước Man di, dân man di của mình không? Họ có chứng kiến ngược dòng thời gian cội nguồn của Giống dân Lạc Việt không? Chắc chắn là không! Những Di Tích lịch Sử của Dân Tộc Hồng Bàng Lạc Việt, họ không phá bỏ được, không biết được mới còn. Ngoài ra họ dứt bỏ hết! Thời lấy gì là họ nói đúng Cội nguồn của Dân Tộc Việt Nam.
🔗Về lịch Sử đã như vậy; Kinh sách Nhà Phật họ dịch ra từ Phạn ngữ ra Hán ngữ. Rồi người Việt cứ căn cứ vào Hán ngữ dịch ra Việt ngữ ai bảo đảm rằng: đúng 100/100. Ông bà Tổ Tiên người Việt có một câu chí lý: “sai một ly, đi ngàn dậm”. (chuyện trong nhà bước ra khỏi cửa nói lại là sai rồi). Xin tư duy lại đi!.
🔗
Theo ý kiến của An Lạc Hạnh tôi xin đề nghị:
🔗Nhà Viết Sử Việt Nam; yêu mến Quốc Tổ, yêu mến cội nguồn, yêu quê hương đất mẹ, yêu Văn Hóa cội nguồn, cần bình tỉnh quán soi cho tận tường, mọi nẻo, mọi nơi mọi chốn, cả trong lẫn ngoài!. Những gì mà Người Trung Quốc ghi chép cần quán triệt!. Có tình có lý thời tin nói theo. Vô tình vô lý không tin không theo. Như vậy Đất nước ta, nhân dân ta mới hiên ngang đứng vững trên trường Quốc Tế không bị chê cười là nô lệ tư tưởng Hán Tàu. Kể cả nô lệ về vật thể và nô lệ về phi vật thể (tâm linh). Bằng chứng hiện tại Miền biển Việt Nam Trung Quốc còn vẽ hình lưỡi bò, họ bảo là của họ. Thời những gì khuất lấp xa xưa; họ muốn nói như thế nào cũng chẳng sao!.
🔗
Tóm lại: Dòng giỏi bên Mẹ Âu Cơ về sau cũng bị Hoàng Đế Hán Tàu chiếm nốt. Trước kia đời Đông Hán có Tu Mã Thiên Viết Sử Tàu. Về sau có Tư Mả Trinh viết Sử tiếp!. Kẻ trước người sau, cố ý bóp méo sự thật, viết sai về Sử liệu Việt Nam. Làm đảo lộn tư duy người Việt. Người thời bác bỏ dòng giống Thần Nông chỉ là huyền thoại không có thật. Người lại chưởi rủa là Quỷ Ma độc hại.
🔗
Nước Nam ta những nhà trí giả Viết Sử; Sách Đời hoặc Sách Đạo cứ chỉ bảo thủ nghe tin theo Văn Hóa Hán Tàu phổ cập, đầu độc, mà không tư duy năng động sáng tạo sâu sắc lý pháp hư hay là thật!. Thời trong vô tình mình làm con rối cho đất nước quê hương của mình, làm bao kẻ sai sưa trong giấc điệp mơ màng huyền ảo. Đến khi tỉnh mộng hoàn lương thời không còn gì để nói cả./.
🔗Nam Mô Năng cứu xét Bồ Tát Ma Ha Tát.
🔗Thiền Sư An Lạc Hạnh.
🔗-----------o0o------------
🔗
GIỚI THIỆU TÒA VĂN BẢN DỊCH
🔗
NGỌC PHẢ HÙNG VƯƠNG
🔗Thứ năm - 22/03/2018.
🔗Ngọc phả Hùng Vương do Hàn Lâm trực học sĩ Nguyễn Cố Phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470), hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương, Phú Thọ. Ngọc Phả gồm 21 tờ, 42 trang chữ Hán, tổng cộng gần 10.000 chữ. Xưa nay chưa thấy ai dịch trọn vẹn. Nay, GS Ngô Đức Thọ đã dịch trọn vẹn văn bản quý báu này. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
🔗CỔNG VÀO KHU DI TÍCH LỊCH SỬ ĐỀN HÙNG PHÚ THỌ.
🔗HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢ
🔗(Bản Hồng Đức nguyên niên)
🔗BẢN DỊCH
MỤC LỤC
🔗1. KINH DƯƠNG VƯƠNG 涇陽王
🔗2. LẠC LONG QUÂN tức HÙNG HIỀN VƯƠNG 雄賢王
🔗3. HÙNG QUỐC VƯƠNG 雄國王
🔗4. HÙNG VIỆP VƯƠNG 雄曄王
🔗5. HÙNG HY VƯƠNG 雄羲王
🔗6. HÙNG HUY VƯƠNG 雄暉王
🔗7. HÙNG CHIÊU VƯƠNG 雄昭王
🔗8. HÙNG VĨ VƯƠNG 雄暐王
🔗9. HÙNG ĐỊNH VƯƠNG 雄定王
🔗10. HÙNG UY VƯƠNG 雄威王
🔗11. HÙNG TRINH VƯƠNG 雄禎王
🔗12. HÙNG VŨ VƯƠNG 雄武王
🔗13. HÙNG VIỆT VƯƠNG 雄越王
🔗14. HÙNG ANH VƯƠNG 雄英王
🔗15. HÙNG TRIỀU VƯƠNG 雄朝王
🔗16. HÙNG TẠO VƯƠNG 雄造王
🔗17. HÙNG NGHỊ VƯƠNG 雄毅王
🔗18. HÙNG TUYỀN VƯƠNG 雄璿王
🔗CỔ VIỆT HÙNG THỊ NHẤT THẬP BÁT THẾ THÁNH VƯƠNG NGỌC PHẢ CỔ TRUYỆN
🔗TÍCH XƯA LƯU LẠI CỦA BẢN NGỌC PHẢ CHÉP TRUYỆN TIỀN THÁI TỔ CAO HOÀNG ĐẾ CỦA THÁNH TỔ HÙNG VƯƠNG SƠN THÁNH
🔗[ĐẾ MINH 帝明] Cháu ba đời của vua Viêm Đế là Đế Minh sinh Đế Nghi rồi đi tuần du phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh (giới hạn ở động Bạch Hổ tỉnh Vân Nam - xưa gọi là động Xích Quỷ, nguyên thuộc nước ta gọi là quận Giao Chỉ. Động Xích Qủy sau gọi là nước Xích Quỷ, nay đổi là nước An Nam) thì gặp nàng Vụ Tiên thần nữ, sinh ra Kinh Dương vương.
🔗
Đời thứ 1: KINH DƯƠNG VƯƠNG 涇陽王
🔗Vua thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh muốn truyền ngôi báu để làm chính thống cho muôn nước. Nhưng Kinh Dương Vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương quay mặt về Phương Nam mà cai trị thiên hạ [tức là làm vua phương Nam], gọi tên là nước Xích Quỷ.
🔗Kinh Dương Vương kính tuân chỉ dụ của vua Cha, đem quân lính theo núi Nam Miên mà đi về phía Nam. Trên đường ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa để đóng đô ấp [tức quốc đô]. Qua đất Hoan Châu (nay đổi là xứ Nghệ An. Nơi đó là các xã Nội Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc, Tỉnh Thạch thuộc huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang) Vua chọn được một vùng phong cảnh tươi đẹp, [núi non] muôn nhẫn lâu đài, gọi là núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 ngọn. (Xưa gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống).
🔗Vùng này giáp biển ở cửa Hội Thốn, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế Rồng cuộn Hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành để định nơi cho bốn phương triều cống. Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua Kinh Dương Vương bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du hải ngoại. Vua trải xem địa đồ, bất giác thấy thuyền Rồng đã thẳng đến Hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền, đứng xem cảnh trời nước. Vua chợt thấy một thiếu nữ lưng eo dung nhan tuyệt sắc từ dưới nước đi lên. Vua cho là cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay, bèn sai quân chèo thuyền đến gần. Vua nói:
🔗- Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
🔗- Thiếu nữ đáp:
🔗- Thiếp tên là Thần Long, là con gái vua Động Đình. Thiếp ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng. Nay gặp thiên sứ, nguyện được hầu trầu khăn.
🔗Kinh Dương Vương vui mừng đẹp ý, bèn dắt tay thiếu nữ bước vào trong long thuyền. Vua cho quay thuyền trở về thành đô, lập Thần Long làm Cung vi chính khổn (Hậu cung Chính khổn)
🔗Ngày sau vua lại đi tuần thú, rong ruỗi xa giá xem khắp các nơi sơn xuyên. Đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình đồi non chập chùng, sông đẹp núi lạ. Vua bèn tìm mạch đất, nhận được khí mạch từ trên núi Côn Lôn đi xuống, qua cửa Ải, lòng sông thoát mạch, rồng đi gần xa đến núi Tụ Long tiếp với Châu Thu Vật xứ Tuyên Quang, biến ra toà Kim Tinh cao muôn nhẫn. Mạch đất chảy đến các làng Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Ninh phủ Lâm Thao, rồi đến chùa Long Hoa thôn Việt Trì ở Ngã ba sông Bạch Hạc là dừng. Mạch này bên trái từ sông Lôi Hà núi đi đến đâu sông theo đến đó, qua các huyện Đông Lan, Sơn Dương, Đương Đạo, Tam Dương đột khởi núi Tam Đảo, Tả cung Tiên làm Thanh Long. Trùng sơn vạn thuỷ, nổi lên các dãy núi ở Lập Thạch, Bách Ngoã, Chu Diên, Thanh Tước, Ngọc Bội, Khai Quang. Phụ bên trái có các núi Châu Sơn, Sóc Sơn, Chung Sơn, Trà Sơn, Từ Sơn, Trạm Sơn, Tích Sơn, An Lão sơn thuộc xứ Kinh Bắc chầu về, dẫn đến Hải Dương, Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử thoát ra đến biển, Đồ Sơn tám xã làm Long đầu chầu án. Mạch bên phải từ Ba Thục, Hán Giang, Nhị Hà, Lô Giang, Thao Giang, núi chạy đến đâu sông theo đến đấy. Đến Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thập Châu, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà đến huyện Bất Bạt đột khởi núi Tản Viên. Hữu cung tiên làm Bạch hổ, muôn nhánh quần sơn nổi lên ở Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Thạch Thất,Yên Sơn, Tây Phương, Sài Sơn, Tử Trầm, hũu bật đến Chương Đức, Đại Yên, Hương Tích sơn thuộc xứ Sơn Nam. Bên phải là Na Sơn, Nam Công, Vũ Phượng sơn, Đội sơn, Điệp sơn, Nghi Dương sơn, chầu phục vào trong, chảy thoát đến núi cửa biển Thần Phù ỏ núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Trà Lý làm đầu hổ chầu, lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đưòng, lấy Ngã Ba Lãnh ở sông Cả thuộc huyện Nam Xương làm Trung minh đường, núi Tượng Sơn ở Nam Hải làm Ngoại minh đường. Nghìn non nâng chủ, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về ngọn tổ sơn Nghĩa Lĩnh. Thu tận hình thế, Vua nhận ra thế cục của đất này quý đẹp hơn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập Chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh để thỉnh thoảng ngự giá đến nghỉ. Bên ngoài lại dựng đô thành Phong Châu (nay là Cựu đô thành ở thôn Việt Trì xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc), đặt quốc hiệu là nước Văn Lang (Đông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến Động Đình Hồ, Nam tiếp nước Hồ Tôn (nay là nước Chiêm Thành). Rồi Vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của Vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại dựng ở núi Nghĩa Lĩnh, nay lấy núi Nghĩa Lĩnh làm nơi đóng đô ấp của nước Việt Thường. Bấy giờ Vua đi tùân thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh vừa lúc cung phi con gái Vua Thần Long có mang, Rồng hiện điềm lành, khắp nhà rực ánh sáng đỏ, trong trướng hương thơm ngào ngạt toả ra. Cung phi nghỉ trong trướng ngọc khoảng một tuần (10 ngày) thì sinh ra Lạc Long quân.
🔗Lạc Long Quân huý Sùng Lãm, ở ngôi 400 năm, thọ 420 tuổi, sinh một bọc trăm trứng, an lành nở ra 100 con trai. Vương định 100 họ (tính), đặt 100 tên, xưng 100 hiệu, làm 100 vị Thần, mỗi vị chiếm cứ một khu, đều xưng là Thuỷ Tổ của Bách Việt, rất mực linh thiêng. Vua cha là Long Quân hoá sinh bất diệt, trở về biển thành Tiên, là Động Đình đế quân. Long quân bẩm sinh tư chất phi thường, tự có khí tượng Đế Vương, bèn được lập làm Hoàng Thái Tử. Bấy giờ có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ về sống ở quê mẹ tại động Lăng Sương huyện Thanh Nguyên Châu Đà Bắc (nay đổi làm sách Lăng Sương huyện Bất Bạt). Một hôm Âu Cơ đi chơi ở châu Trường Sa, gặp khi Vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm Hoàng phi. Thế rồi Kinh Dương Vương sai Lạc Long Quân ra ở tại đô thành núi Nghĩa Lĩnh tại Phong Châu thay Vua cha làm việc nước. Kinh Dương Vương ở ngôi 215 năm, thọ 260 tuổi. Lạc Long nhiếp chính.
🔗
Đời thứ 2: LẠC LONG QUÂN tức HÙNG HIỀN VƯƠNG 雄賢王
🔗Long Quân lên nối ngôi, đổi hiệu là Hùng Hiền Vương. Bấy giờ nàng Âu Lạc (tức Âu Cơ) có thai đã 3 năm 3 tháng 10 ngày, mây ngũ sức sáng bừng đầu núi Ngũ Lĩnh. Giờ Ngọ ngày 25 tháng 12 năm Giáp Tý, cái thai trong bụng Âu Cơ chuyển động, đến giờ Ngọ ngày 28 khắp nhà hương thơm toả nức, ánh sáng loé lên trong trướng, Hoàng Phi Âu Cơ sinh ra một bọc màu trắng như ngọc. Khi Hoàng Phi mới sinh, hương lạ thơm nức khắp núi Nghĩa Lĩnh và cả vùng đất Tổ Phong Thứu, Ngọc Lĩnh, Liên Trì (đầm sen).
🔗Hiền Vương thấy Hoàng Phi sinh tú bào hết sức dị thường, cổ kim thiên hạ chưa từng thấy. Người trong nước lấy làm lạ. Vua bèn triệu hội bách quan văn võ triều thần đến chầu ở chính điện. Giờ Ngọ hôm ấy ba tiếng ống lệnh rung trời chuyển đất vang lên giữa không trung trong thành nội, núi sông cây cỏ muôn vật đều phải kinh hoàng, mây lành ngũ sắc sáng bừng khắp ba ngàn thế giới. Muôn chim bay chầu trên chính điện, dưới núi làn nước tung sóng cuộn dâng. Trăm kình nghê muông thú, muôn vật cá tôm gội gió mưa về chầu cống. Vua thấy quốc gia có điềm lành kỳ lạ, bèn xuống chiếu cho bá quan văn võ sửa sang áo mũ trai giới tịnh khiết đến tề tựu ở điện Kính Thiên đèn hương phụng hầu chầu lạy Hoàng Thiên Thượng Đế, Tứ Phủ vạn linh.
🔗Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân rồng điện Kính Thiên, rồi bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ. Các vị tướng ấy cao hơn nửa trượng, đầu đội mũ hoa, mình mặc cẩm bào xanh, lưng thắt đai ngọc, chân đi hài sắt, nói cười đều loé hào quang lưỡi lửa. Rồi giữa các tầng mây hiện lên nhiều thiên quan thiên tướng. Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống sắc:
🔗Hiền Chúa Nam Miên bọc Rồng trăm trứng, nở ra trăm trai trị nước. Nay sai Tứ Đại Thiên Vương phù giúp bảo hộ. Vậy ban sắc này. Hiền Vương sai truyền long bài truyền các quan văn võ ngước lên trời cao vái vọng, rồi lạy tạ Thiên Vương. Thiên Vương nói: Bào ngọc trăm trứng, rồng lành giáng sinh.
🔗Thiên sứ báo cho Hiền Vương đặt chiếu sắc của Ngọc Hoàng Thượng Đế lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi Chùa cổ ở núi Viễn Sơn, chuyển cho Từ Sơn Thiên Quang Hoà Thượng ở ngọn Thứu Lĩnh (sau đổi là Thiên Quang thiền tự) lưu giữ ở trong Chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Đến ngày bào trứng nở ra, Hiền Vương theo lời dặn của Tứ Đại Thiên Vương, chờ đợi các trứng tự nhiên biến hoá. Hiền Vương thành tâm làm lễ cầu đảo lớn.
🔗Thế là vào giờ Ngọ ngày rằm tháng giêng trăm trứng an lành nở ra trăm con trai. Khắp Long Thành đầy mây ngũ sắc, ánh lành toả rạng khắp nơi, hương trời thơm ngát bay toả khắp chốn núi sông. Trong khoảng một tháng các chàng trai không cần bú mớm mà lớn bật lên như người trưởng thành, tướng mạo phương phi, dáng hình kỳ tú, thân cao ba thước bảy tấc, cái thế anh hùng.
🔗Hiền Vương triệu phi tần sáu cung đến phát các tấm gấm lĩnh để khâu may 100 bộ áo mũ cấp cho các chàng trai. Trong một ngày các cung nữ được ba lần cười vui, thường lấy hoa sen, lá sen trên hồ đem đến tặng cho các chàng trai. Được một trăm ngày, các chàng trai đã lớn, nhưng không biết nói, chỉ biết cười. Đúng trăm ngày, vào giờ Thìn ngày 20 tháng 7 cả trăm chàng trai đều cười vang, nói lớn:
🔗Trời sinh bậc Thánh,
Trị nước sinh Vua.
Thanh bình bốn biển,
Thiên hạ vững yên.
🔗Thế là một trăm Hoàng Tử đều đến trước sân Rồng ở điện Kính Thiên. Bỗng thấy một áng mây ngũ sắc từ trên không bay sà xuống sân rồng. Hiền Vương thấy 8 vị Thiên Tướng đầu đội mũ đồng, mình mặc áo bào giáp sắt,chân đi hia bạc, lưng thắt khăn rồng quá độ (quá độ long cân?), tướng mạo sang quý sáng láng, mắt sáng như sao, miệng nhả hào quang hoả khí, tay cầm Thần kiếm linh trượng, chày ngọc búa sắt, dàn hàng đứng hai bên tả hữu chờ lệnh. Bỗng không trung biến hoá, nhất thời mưa gió nổi lên, mây mù vờn bay vây quanh chính điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Trong khoảnh khắc núi non mất hình, sông suối tràn dâng, không ai lường được chuyện gì xẩy ra. Sau khoảng ba giờ (nửa ngày) bầu trời lại tạnh sáng. Đó là 8 vị Thiên Tướng gọi là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Chư Phật ở Thượng Thiên sai xuống hộ vệ 100 vị Hoàng Tử. Nay các Hoàng Tử đã trưởng thành đôn hậu minh mẫn, tám tướng phụng sai đưa các Hoàng Tử đến lạy mừng Vua cha trị bình trong nước.
🔗Tâu xong các các Thiên Tướng biến hoá bay về Trời, ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc Thần Ấn, một hòn ngọc trắng, một thanh kiếm Thần, một quyển Thiên Thư (sách trời), một chiếc thước ngọc, một chiêc mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện. Hiền Vương vâng mệnh đón nhận, coi đó là điềm lành lớn trời ban để trị yên thiên hạ.
🔗Hiền Vương thấy 100 con trai bỗng nhiên đã trở nên cao lớn, thân cao bảy thước ba tấc, tay cầm Thần khí Thiên Bảo, chia hàng đứng chầu hai bên tả hữu. Các Hoàng Tử lạy mừng Phụ Hoàng. Hùng Vương xuống chiếu truyền rằng: Trăm con trời sinh của ta Thánh văn Thần vũ, hùng tài đại lược, giúp nước yên bình, thiên hạ ngước trông, thi nhân hoá đức, cha con vua tôi cùng vui.
🔗Hiền Vương cho triệu bách quan đến lạy mừng rồi cùng triều hội để nghị bàn quốc sự, đổi hiệu thay tên. Trăm con trai trăm hiệu, vị thứ cao thấp trước sau. Trăm Hoàng Tử đều có tư chất hơn người, anh hùng bậc nhất xưa nay, Thần tài Thánh trí. Các quan triều đình lúc ấy cũng không ai dám phân biệt được trong các Hoàng Tử, thì ai là người anh minh quyết đoán hơn, cho nên cũng khó đặt các danh hiệu. Triều đình tâu rằng:
🔗- Nước có Thánh Vương, sinh các Hiền tướng, đều là những bậc trong triều không ai sánh bằng, vậy nên chúng thần không ai dám bàn định danh hiệu các Hoàng Tử. Kính thỉnh Thánh phụ xét tài của các Hoàng Tử để định danh hiệu. Hiền Vương phán rằng:
🔗- Chính sự lớn của triều đình phải có người anh tài nổi bật mới có thể đảm đương được. Trẫm vâng mệnh Trời gây dựng cơ đồ lớn lao, mở nước trị dân, theo mệnh trời sinh đựoc trăm con trai. Nay trẫm muốn phong truyền chức quan cho các con, Trẫm thành tâm lập đàn chay, mật khấn Hoàng Thiên cùng vạn linh ngự hội để đặt định danh hiệu trăm quan.
🔗Bấy giờ Vua lên đàn tràng khấn lễ cầu đảo lớn. Vua vừa cầu khấn xong, tự nhiên có cảm ứng, có vị Thần ở phương Tây tới. Bỗng thấy một ông già râu tóc bạc phơ đầu đội mũ Phật gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi hia, tay cầm gậy tre ra chơi chùa Hoa Long ở thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc. Ông già rửa chân bên sông rồi ngồi nghỉ trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà. Hôm ấy có triều quan là Nguyên Suý tiết chế tướng quân trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu bên sông. Quan Nguyên Suý trông thấy ông Tiên đang xem phong thuỷ, cúi đầu nhìn xuống đáy sông, một chân ghếch lên tảng đá hình lưng Rùa (Đá lưng Rùa ở thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc; chùa Hoa Long ở bên bờ sông. Nay dấu tích ông Tiên hãy còn). Quan trấn thủ bèn mời cụ già đến hỏi chuyện. Quan đem hết chân tình quốc sự bộc bạch với cụ già, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về điện Vua trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua. Vua thân hành ra mời cụ già vào cung mở tiệc chúc mừng. Hiền Vương hỏi:
🔗- Tiên sinh từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện lạ, nhờ Tiên ông chỉ giáo cho.
🔗Tiên ông ha hả cười vang. Hiền Vương vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:
🔗- Trẫm có điềm lành sinh đựoc trăm con trai, trí tuệ thông minh thì tất cả đai khái cũng như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu vị thứ, cũng không biết ai anh ai em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho
🔗Tiên Ông đáp:
🔗- Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại càn khôn. Trong ba ngàn thế giới ta thích đến nuớc Nam Miên ngắm xem phong thuỷ. Vua cho mời ta đến đây, ta có một quyển sách Thần có thể bói xem mọi việc trong thiên hạ, gọi tên các vị Tiên. Huống chi quốc gia đã có thành tâm lập đàn cầu đảo, đã cầu tất ứng. Xin nhà Vua thành tâm để lão vận trù một quẻ hỏi xem tiền định thế nào? Tiên Ông bèn xem mặt các HoàngTtử, phân định thứ bậc anh em. Đoạn Tiên ông lấy bút giấy ra đặt tên cho một trăm Hoàng Tử. Viết xong, Tiên ông đặt tờ giấy lên chiếc mâm vàng. Để phân định thứ bậc anh em, Hiền Vương lại gọi 100 Hoàng Tử đến hội ở chính điện để nhận tên đã ghi trong sách. Mọi người đồng thanh cần phải có bậc huynh trưởng đứng đầu. Rồi mọi người lại chia xếp thành hai hàng đối nhau đợi lệnh. Một người được gọi tên được lập làm Vương trừ Thái Tử (Thái tử nối ngôi Vua), còn 99 người khác lần lượt đến trước mâm vàng nhận danh hiệu được ban. Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui. Xếp đặt mọi việc đã xong, Tiên ông tự nhiên biến hoá về Trời. Hiền Vương sai các quan thường xuyên đến chùa Từ Sơn Thiên Quang Hoà Thượng cầu Phật ứng hộ. Vương trừ Thái Rử tục danh là Hùng Lân sau đổi là Hùng quốc Vương. Các con thứ có tên là Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Diệu Lang, Tĩnh Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, Tiếu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tán Lang, Quyền Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hãn Lang, Liệt Lang, Ưu Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Thế Lang, Dạng lang, Tróc Lang, Sát Lang,Cốc Lang, Nhật Lang, Sái Lang, Chiểu Lang, Điềm Lang, Kiềm Lang, Trường lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Thai Lang, Triệu Lang, Ích Lang, gồm 50 trai theo lệnh cha. Hương lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Hắc Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế lang, Mã Lang, Chiếu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Miên Lang, Xuyến Lang, Yêu Lang, Thiếp Lang, Bái Lang, Tài Lang, Trừng Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhĩ Lang, Tào Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Lâm Lang, Triều Lang, Quán Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Trình Lang, Tuấn Lang, Tòng Lang, Thanh Lang, gồm 50 trai theo lệnh mẹ.
🔗Từ đó các Hoàng Tử đều đã có tên gọi, trưởng thành phương trưởng, ngồi chính toạ ở triều đường, vị thứ xếp trên các quan. Hiền Vương bèn phong hầu riêng cõi, chia nước làm 15 bộ:
🔗Một là: Sơn Tây, Hai là: Sơn Nam, Ba là: Hải Dương,
🔗Bốn là: Kinh Bắc, Năm là: Ái Châu, Sáu là: Hoan Châu.
🔗Bảy là: Bố Chanh, Tám là: Ô Châu, Chín là: Ai Lao,
🔗Mười là: Hưng Hoá, Mười một là: Tuyên Quang,
🔗Mười hai là: Cao Bình, Mười ba là: Lạng Sơn,
🔗Mười bốn là: Quảng Tây, Mười lăm: là Quảng Đông.
🔗Trước đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
🔗- Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm ThuỷTtinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn Tinh, làm hiển rạng cho các Vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc. Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng; các Vương tử gọi là Quan Lang Vương, các vVơng nữ (công chúa) gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính.
🔗Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế đựoc rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng. Dân nhờ thế được đào giếng cấy ruộng, vui sống ở nơi thôn dã. Không một người dân nào bị xua đuổi không chốn sinh cư, không một vật nào không được yên bề nuôi dưỡng. Công thành trị định, đứng đầu so với các Tiên Vương, dẫu là phong hoá của thời thái cổ cũng không sánh kịp.
🔗Hùng Hiền Vương hưởng nước dài lâu, đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Ngọc lụa xe thư, núi sông một mối. Đó là Thuỷ Tổ của Bách Việt. Hiền Vương ở ngôi bốn trăm năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình đế quân.
🔗
Đời thứ 3: HÙNG QUỐC VƯƠNG 雄國王
🔗Thái tử là Hùng Quốc Vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn, sau khi nối ngôi thi hành chính sự đức giáo, khuyến khích nông tang, khiến dân không lo nghèo thiếu, nước có tích luỹ của dư. Hoàn vũ thanh bình, không ai gian xảo giả dối, phong tục hồn thuần chất phác. Xét xem xuyên suốt cho đến bấy giờ, Vua là bậc nhiều công hưng trị, càng sáng hơn các Tiên Vương, các đời đều tôn xưng là bậc hiền quân.
🔗Bấy giờ Vua truy ơn các bậc Thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn Tinh Thuỷ Tinh, định làm trăm Vương, đổi làm trăm Họ, chia đất đầu núi góc biển, hùng cứ một phương. 50 trấn đầu núi đều gọi là Quan lang phiên thần phụ đạo; 50 trấn góc biển đều gọi là Thuỷ thượng linh thần, tiện cho việc bảo hộ sinh dân, khuông phù xã tắc. Hùng Quốc Vương hưởng ngôi hơn 221 năm, thọ 260 tuổi, sinh đựoc con trai con gái 50 Hoàng Tử.
🔗
Đời thứ 4: HÙNG VIỆP VƯƠNG 雄曄王
🔗Thái tử Hùng Việp Vương nối ngôi chính thống, nhớ công ơn sáng đẹp của tiền nhân để giáo hoá khích lệ sĩ phong. Lấy nhân nghĩa làm khuôn dân tục. Dựng xây tu sửa miếu đền, bách thần được thăng phong cấp bậc, hoá nhật thiên hạ sáng tưng bừng. Không đất nào không có nhân tài, trong hoà khí xuân phong vẳng nghe nhạc thiên uy, xuất hiện thái bình cảnh tượng. Ở đời có vầng sáng, thẳng thông với tiền nhân hướng trị thế cùng về. Vua hưởng ngôi 300 năm, bèn lập Thái tử là Hùng Hy Vương để kế thừa quốc thống.
🔗
Đời thứ 5: HÙNG HY VƯƠNG 雄羲王
🔗Hùng Hy Vương lên ngôi, nắm vận lớn bốn đời, nhạy bén hưng khởi trị bình, trong sửa văn đức thu phục nhân tâm, ngoài lập vũ công, chấn uy phong với nước lạ, khiến cho xã tắc yên bình, biên cương vô sự. Từ đó người xa bắc thăng trèo núi mà đến, vượt biển mà sang, chẳng đâu không thần phục, chốn xa nơi vắng, thảy đều thấm nhuần mỹ hoá thuần phong, trị công lỗi lạc, so với tiền vương không thẹn, đủ làm một đấng Vua hiền. Hùng Hy Vương hưởng quốc lịch 200 năm, bèn lập Thái tử là Hùng Huy Vương kế thừa quốc chính.
🔗
Đời thứ 6: HÙNG HUY VƯƠNG 雄暉王
🔗Huy Vương lên ngôi, noi theo quy chế của tiền Vương, cũng có chí chăm việc nuôi dân. Nhưng kế thừa nền thái bình đã lâu, ngòi rãnh dễ tràn, cam chịu yến tiệc yên vui, không chịu khó nghĩ suy chính sự. Bấy giờ có Bà Mo (vu nữ) tinh thông địa lý thông hiểu thiên văn, thường đem bí pháp thần cơ tâu Vua, tự xưng là Tiên Nhân, xin cho vào hầu trong cung để thưa đáp khi vua cần hỏi đến. Ngày sau đình thần có vị quan tâu rằng:
🔗- Bà Mo ấy mù tịt về mo sử, xem ra chỉ là một mụ đàn bà bình thường thôi! Chỉ giỏi bàn luận vu vơ, thực chẳng biết trời đất thiên địa. Sao Vua lại cho mụ ta hầu cận, bàn nói chuyện hoang đường? Bọn Thần cho rằng bệ hạ đã bị mụ ta làm mê hoặc.
🔗Vua cho là phải, bèn sai bắt bà mo giam trong cung. Sau đó vua sai lập một đàn tế khác, cũng làm giả các voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Thiên Vương. Vua bảo đình Thần:
🔗- Trẫm dùng kế ấy để xem người bà Mo có biết giả trá hay không? Hoàng Thiên tuy cao, nhưng nghe xong tỏ ý không bằng lòng, xem đến các đồ lễ thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng Thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo nhân quân không có đức.
🔗Bấy giờ Hùng Huy Vương mới nghiệm biết đạo trời báo ứng ngay trước mắt. Bấy giờ Vua cho đưa bà mo đến bảo: “Ngươi biết dò xét huyền cơ, nay trong ngước có triệu chẳng lành, ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào?
🔗Bà Mo bèn nằm thiếp trong khoảng ba canh rồi nói lảm nhảm như người đang chiêm bao. Ba ta nói mình đã đến trước cửa khuyết Thiên đình, tâu rằng: “Tôi vâng mệnh Quốc Vương lên tâu Thiên đình: Nay trần thế đang có tai ương, chưa biết nguyên do nào gây nên như thế? Ngọc Hoàng phán:
🔗- Ngươi mau trở về báo cho Vua ngươi biết: Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần Hoàn lóc lóc 1 , có cầu có nguyện tất được tòng tâm.
🔗Hùng Huy Vương mù quáng kiêu căng, rông càn làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau [nếu không sửa chữa] tất sẽ có nạn giặc lớn!
🔗Nghe phán xong, bà Mo liền tỉnh lại. Bà Mo tâu lại mọi chuyện với Vua. Huy Vương nghe nói cả kinh. vẫn cho bà mo ở lại trong cung để nghiệm xem lời nói của bà ta có nghiệm hay không. Huy Vương lại sai triều quan dựng đàn ở Trung Đô, các lễ vật như Voi Ngựa vàng bạc đều dùng đồ vật thật ở trung cung. Khi lễ nghi đã đầy đủ, Cua thân lên đàn đọc văn khấn tế:
🔗- Ngu si lầm lỗi, đem vật uế dâng lễ Hoàng Thiên. Sự hãy nhãn tiền, xét xem đủ thấy. Cúi xin Thượng Đế chuyển hoạ làm lành, đội ơn vạn hạnh. Ngu si cúi ngước, cậy nhờ ơn đức Hồng Quân! Vua khấn xong, bỗng thấy mây cuồn gió cuộn nổi lên, trời mung lung chuyển sắc. Khói hương trên đàn tế bay lên hoà sắc cùng mây lành đang toả xuống. Hùng Huy Vương thảng thốt kinh sợ, khấu đầu lạy tạ rồi lên xe về cung. Vua lại sai bà mo lên Thiên Đình xin Hoàng Thiên tha tội để nước nhà được yên. Bà Mo trở về tâu với Huy Vương:
🔗- Vua biết hối lỗi, đã đựơc Hoàng Thiên xét soi. Tuy năm sau có giặc xâm lăng, nhưng Trời cho nhân tài sinh ra để giúp nước, vua khỏi phải lo nghĩ nhiều!
🔗Vua tin lời. Quả nhiên ba năm sau bỗng có tin từ biên cương đưa về cáo cấp: Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ Bắc đạo tiến sang, giáo mác giáp trụ liên tiếp kín Trời, tinh kỳ rợp đất, quả đúng như lời bà Mo đã nói. Hùng Huy Vương bèn cho đắp đàn tế, trai giới tịnh khiết rồi lên đàn thắp hương cầu khấn. Các quan triều đến dự hội tế suốt trong ba ngày. Sau đó mưa to sấm gió nổi lên, bỗng thấy một cụ già thân cao hơn 9 thước, mày râu bạc phơ đang cười nói nhảy múa ở chỗ ngã ba đường, ai trông thấy cũng phải lấy làm lạ, cho là bậc kỳ nhân. [Quan hầu] vào tâu Vua, vua đích thân ra đón mời vào đàn tế, nói với kỳ nhân rằng:
🔗- Nay quân Bắc sang xâm lăng, thắng thua chưa biết thế nào, xin lão ông cho chỉ giáo. Lão ông trầm ngâm hồi lâu, rút thẻ bói quẻ rồi đáp:
🔗- Nếu tìm được người thì giặc này không đáng phải đánh dẹp! Nói xong cụ già vút lên không bay đi. Vua thấy vậy biết đó là lời dạy của Lạc Long quân. Thế là vua sai người hầu đi tìm khắp nơi trong nước. Sứ giả đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh (nay là huyện Tiên Du). Làng ấy có người nhà giàu tên là Ông Trưởng, ông 79 tuổi mà bà cũng đã 59 tuổi. Trước nhà có mảnh vườn trồng hoa. Sáng sớm ngày 6 tháng giêng năm Quý Hợi bà vào vườn hái hoa, thấy dấu chân người khổng lồ. Bà bèn gọi chồng cùng vào vườn xem, quả nhiên thấy có dấu chân của Thần Nhân. Ông chồng bảo bà vợ bước chân trái dẫm vào đó. Tự nhiên bà thấy cảm động trong người, rồi mang thai. Đến ngày 8 tháng Tư năm Giáp Tý bà sinh một con trai. Con được đúng một tuổi thì Ông Trưởng qua đời, chỉ còn mẹ già sáu mươi bú mớm nuôi con, lên ba tuổi đặt tên là Thiết Xung Thần Vương, ăn uống lớn phỗng, nhưng không biết nói cười. Ngày hôm ấy cậu bé đang nằm trong võng, mẹ cậu nghe sứ giả đi rao khắp thiên hạ nói là tìm người có đại tài đi đánh giặc, thì nói vui rằng: “Con ta chỉ biết ăn uống mà không biết đánh giặc để triều đình trọng thưởng quan tước mà trả ơn bú mớm cho mẹ”. Nghe mẹ nói thế, cậu bé bỗng bật ra lời nói:
🔗- Xin mẹ gọi sứ giả vào đây!”
🔗Khi sứ giả vào nhà, cậu bé nói:
🔗- Ta là Thiết Xung Thần Tướng đây! Trời sinh ra ta để giúp nước, dẹp loạn cứu dân. Ngươi về triều thưa với Vua cho ta một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây vọt sắt dài 10 thước, một chiếc nón sắt rộng 3 thước, đưa mấy thứ ấy đến đây cho ta là Vua không phải lo gì nữa! Sứ giả trở về chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh tâu Vua đầy đủ mọi việc. Vua cả mừng, sai tìm đủ 50 trăm (=5.000) cân sắt để rèn thành ngựa sắt, vọt sắt, nón sắt. Đến giờ Mão ngày 7 tháng Giêng năm Bính Dần, vua sai quan Tiết chế đem 10 vạn hùng binh đem ngựa sắt, roi sắt, nón sắt, đến làng Phù Đổng. Thiết Đổng nói:
🔗Vua theo đúng hẹn,
Vận nước lâu bền.
Quân giặc phải tan,
Một ngày giúp nước,
Thiên cổ danh vang.
🔗Rồi Thiết Đổng nói với mẹ và họ hàng thân thích rằng: “Tính con hay ăn, xin soạn cho các món trâu rượu, hoa quả”. Dân lang nghe thế nhà nhà đem trâu rượu đến. Chỉ trong chốc lát Thiết Đổng đã ăn xong bữa tiệc lớn để lên đường đi giúp nước cứu dân.
🔗Ngày hôm ấy mặt trời vừa đúng chính ngọ, Thiết Đổng cười vang một tiếng, đưa tay khịt mũi mười lần, tiếng vang như sấm, ánh mắt loé sáng như chớp rồi vươn mình cao hơn 18 thước. Vì chưa kịp may quần áo nên sai 10 vạn quân đi bẻ hoa lau đem về kết thành đồ mặc. Thiết Đổng lạy tạ mẹ:
🔗- Mẹ là Thánh Mẫu, con là Thần Vương. Một ngày lập công giúp nước, vạn năm hương lửa vô cùng! Thiết Đổng nói xong nhảy lên Ngựa, thét vang như sấm:
🔗- Ta là Thiên tướng Thần Vương, vâng sắc chỉ xuống giúp nước! Rồi quất ngựa phóng như bay, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh huyện Yên Việt đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên sườn núi Vũ Ninh. Quân nước Ân thua to tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống chém đầu. Bọn giặc còn lại chưa diệt hết, nhưng vọt sắt của Thiết Đổng Thần Vương đã bị rơi mất. Thần Vương bèn nhổ lấy các bụi tre gai vung lên quét sạch các toán quân giặc. Khi đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa, Thiết Đổng Thần Vương bèn cởi bỏ bộ áo hoa lau, phóng Ngựa bay lên không rồi cưỡi lên các đám mây mà bay đi. Nay nơi ấy vẫn còn dấu chân ngựa in trên lèn đá.
🔗Nghĩ Thiết Đổng Thần Vương có đại huân lao giúp nước, nhưng chưa từng gặp mặt, không biết lấy gì báo đáp, Hùng Huy Vương bèn truy Tôn Thần là Phù Đổng Thiên Vương, truy tôn bà mẹ làm Thánh Mẫu, cho dựng đền thờ trên nền nhà cũ. (Nay ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du và thôn Đổi Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa có các đền miếu phụng thờ) Cấp cho làng Phù Đổng 100 khoảnh ruộng để đèn hương phụng thờ.
🔗Vua lại cho xây điện Cửu Trùng Tiêu (điện cao chín tầng) trên núi Nghĩa Lĩnh làm Kính Thiên Linh Điện để thời thường cầu đảo, vâng lĩnh ý trời. Từ đó trong cõi thái bình, nước nhà vô sự. Nhà Ân trải 27 đời Vua hơn 640 năm không dám đem quân sang đánh nước Nam. Hùng Huy Vương hưởng nước 87 năm, thọ 100 tuổi thì băng hà (Mộ táng ở trước núi, hướng Kiền Tốn).
🔗
Đời thứ 7: HÙNG CHIÊU VƯƠNG 雄昭王
🔗Thái tử là Chiêu Vương nối ngôi kế thừa đại thống. Vua cố gắng chuyên tinh chính trị, sau khi đựoc kế thừa thanh thế đánh giặc vang lừng của Vua cha bèn cho cất cung khoá giáp, tỏ ý không dùng binh nữa, chỉ lo an dưỡng muôn dân, sửa sang giáo hoá. Rồi đó lấy chuyện trước làm răn, không dám làm càn dâng lễ uế tạp khiến cho hoàng thiên giận giáng tai ương, giặc ngoài biên mấy lần xâm phạm, sáu đời thừa huởng thái bình bỗng trở thành thời loạn.
🔗Từ đó Vua kính sùng thiên đạo, kính thờ quỷ Thần, phàm các nơi trên núi dưới biển ở đâu có hiển ứng linh thiêng đều sai trăm quan văn võ đến xây cất miếu điện, hoạ vẽ Thánh tượng, thành tâm phụng thờ. Vua bèn ngự điện Kinh Thiên, cho xây cất Dao đài ngọc khuyết, tô vẽ cung tường, trang hoàng miếu vũ, bố trí nghi vệ nhất nhất trang nghiêm. Các đồ tế khí cũng đều cho vẽ rồng mây, ngày đêm đèn hương không ngớt. Hàng tháng cứ ngày sóc (mồng một) vọng (rằm) vua đều trai giới lên ngự điện coi chầu. Bên cạnh điện từ xưa có một ngôi chùa nguyên là nơi khi xưa Thượng Thánh thường đến tu luyện thân tâm, chế thuốc linh đan hiệu dụng nhiệm màu, nhờ đó đắc pháp thành Tiên, hoá sinh bất diệt, giữa thanh thiên bạch nhật bay lên trời, về sau phát tích tại chùa này. Chùa được Thần Tiên bộ chúng giáng thế dực phù, núi sông chung đúc linh thiêng lạ đẹp, trời trăng tinh tú, Tứ đại Thiên Vương, Bát Bộ Kim Cương, Nhị Thập Bát Tú cùng bách thần tụ hội để theo hầu hộ vệ. Sơn Tinh Thuỷ Tinh, sông ngòi biển núi, trăm thú đến chầu, tất cả đều quy về một mối, xưa gọi là Từ Sơn cảnh Thừa Long tự (nay đổi là Thiên Quang thiền tự). Nay Hùng Chiêu Vương cũng đến ngự ở chùa ấy, truyền cho bách quan tả hữu tu sửa trong chùa, cả bốn vách chùa đều cho vẽ các ảnh tượng màu sắc huy hoàng, xung quanh chùa trồng cây trồng hoa làm phong cảnh. Nền móng đã thành, bèn truyền hịch cho các châu huyện nơi nào có Tăng Ni, Đạo sĩ đến hội đồng làm lễ thì được cấp phát áo mũ, tụ hội đạo chúng để thuyết pháp giảng giải chân Kinh, khai mở nguồn đạo. Đạo chúng dâng cúng hương hoa, bốn mùa thơm phức. Hùng Chiêu Vương lại sai quần thần mồng một và ngày rằm dâng lễ chay (trai lễ), hai ban văn võ đứng chầu nghiêm trang, Vua kính cẩn đọc sớ dâng quả. Tháp Cửu Tiêu tuy cao, nhưng đèn hương dễ thấu áng mây lành; một tấm thành tâm cảm cách Thông đến Thiên địa. Cầu tất ứng, uớc nguyện đều được tòng tâm. Bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay xuống. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong điện chùa. Lão ông nói:
🔗- Ta là thần miền Tây vực, cư trú lâu ngày ở Biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã (Trí tuệ), không nhiễm lòng trần. Nay ta đang đi phơi thuốc ở đường đến Niết Bàn, thấy nơi đây dân chúng lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây. Vua mừng thầm: “Nhân tâm thành ý, thiên ý tất thông”
🔗Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng (long trảo) bằng ngọc đem trao cho Vương. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bước lên đám mây ấy mà bay lên trời.
🔗Bấy giờ Hùng Chiêu Vương mới biết đó là Đức Phật bèn sụp quỳ lạy tạ. Ngày hôm ấy vua truyền cho bách quan triều thần ăn ở chay tịnh rồi lập đàn cúng ở chùa, cung thỉnh bách Thần đến hội ở núi Thượng Linh. Lời chúc văn viết rằng:” Ngày hôm nay Chiêu Vương Tôi may mắn được gặp một vị lão ông tặng cho một cặp kỳ vật, không biết nên đem làm gì cho được quý báu? Chư vị thần linh nếu hay biết nguyện xin chỉ giáo cho”.
🔗Chiêu Vương vừa khấn xong bỗng thấy trên không rực sáng, rồi một đám mây lành sà xuống, Tứ Đại Thiên Vương hiện lên giữa đàn. Thiên Vương mình cao bảy thước, mày râu bạc trắng, đầu đội mũ hoa màu sắc rực rỡ. Chiêu Vương lạy chào rồi mời Thiên Vương vào trong điện. Chiêu Vương sửa sang áo mũ lạy chào. Thiên Vương nói:
🔗- Hai vật quý Lão ông đem tặng là của Hoàng Thiên Thượng Đế, Vua hãy dùng vật ấy để chế ra một cái chuôi kiếm và một quả ấn phù, cần phải mài dũa cho thật sáng để làm vật Quốc Bảo. Nói xong Thiên Vương lại bước lên mây mà đi.
🔗Hùng Chiêu Vương hướng về phía đầu núi mà vái vọng. Cũng nhân việc này Vua cho đắp thánh tượng đặt ở trong chùa để phụng thờ. Rồi đó Chiêu Vương ngự giá về cung, sai đem khối ngọc khắc thành quả Bảo Ấn, đem chiếc móng Rồng bằng ngọc tạc thành cái chuối kiếm. Trên mặt ấn khắc 3 chữ “Thiên Linh Ấn”, trên chuôi gươm cũng khắc 3 chữ “Thiên Lĩnh Nhẫn” (nhẫn cũng là kiếm).
🔗Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo Trời Vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng. Một ngày kia tiết trời tạnh sáng, muôn cảnh đều tươi mới, quần hồng áo tía đầy thành, người và cảnh vật dịu yên trong ánh thiều quang. Quần thần dâng lời tâu:
🔗- Chúng thần nghe nói núi Tam Đảo là nơi quần Tiên thường hay đến hội. Vua vốn trọng việc quỷ thần, nên một phen đến đó ngoạn thưởng.
🔗Vua bèn truyền cho xa giá đi ngắm xem phong cảnh. Xe loan đến nơi, Chiêu Vương mừng thấy đồi vóc núi gấm, lâu đài lớp lớp toả sáng ngàn tầm; suối biếc khe xanh lặng tung bọt sóng. Cảnh vật tranh sắc, hoa cỏ đua thơm. Đầu ngọn núi nhỏ có ngôi chùa cổ tên là chùa Tây Thiên dựng trên khoảnh núi địa thế như con Rồng trắng bay sà xuống. Vua bèn cho dựng đàn tràng, sửa dọn lễ chay, sai quần thần dâng tiến đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở một tràng công đức ở trong chùa, Vua thân đến dâng lễ, sớm cầu tối nguyện trong bảy ngày bảy đêm, trai gái bốn phương kéo về dự hội đông như mây họp. Mọi người cùng vui thăm xem cảnh vật. Dẫu chim chóc chốn sơn lâm cũng được nghe kinh, tuy cá tôm dưới khe suối cũng vui nghe giảng kệ. Công đức viên thành, Vương lại đến bên khe Thạch Bàn để xem tiên cảnh. Bỗng thấy trên lầu điện nguy nga khói sương lấp lánh, bốn phía quần hội rồng mây, mông lung lâu đài đất Phật hiện lên. Một bầu núi non, đúng là cảnh Bồng Lai thú vị. Vua bèn vào chùa Phù Nghi, đứng xem Tiên Đàn, khấn nhẩm lời cầu nguyện Hoàng Thiên Thượng Đế. Rồi vua truyền gọi triều thần văn võ đến hội chầu. Khi mọi người đã sửa sang áo mũ nghiêm trang, Vua đọc văn khấn chúc: “Cúi nguyện Hoàng Thiên cho các vị Thần Tiên giáng xuống cho Chiêu Vương tôi cùng Triều Thần có dịp hạnh ngộ, thoả lòng mong uớc ba sinh”.
🔗Đọc chúc xong Vua sụp xuống lạy tạ. Nhưng sau ba ngày vẫn không thấy bóng dáng của các vị Tiên. Hùng Chiêu Vương hồi hộp lo lắng, nhưng không biết phải làm thế nào? Vua bèn đến chỗ núi Long Đầu hướng về Tiên Đàn mật khấn. Đêm ấy Vua chiêm bao thấy một vị Thần Linh hiện lên bảo rằng:
🔗“Tây đại sơn nhân thượng"
Bất kiến tâm hạ tướng.
Hội đông túc danh nhân,
Doãn cư thượng khẩu vượng.
🔗Chiêu Vương nhận đựoc bài thơ thần bốn câu đó xong liền xa giá về cung. Về đến dưới núi thấy một mỹ nhân phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh cao đang đứng bên điện Cẩm Miếu xem xa giá nhà Vua. Vương thích nhan sắc cô gái ấy, bèn lấy làm vợ. Đến khi về cung, Chiêu Vương hỏi: “Nhà nàng ở đâu?” Cô gái đáp:
🔗- Thiếp là Tiên Nhân giáng sinh xuống trần ở Đông Lộ làm con của Ông Trưởng. Thiếp đã mấy mùa hoa vịnh sử ngâm Kinh, che châu giấu ngọc để đợi bậc anh hùng. Gần đây trộm nghe bệ hạ làm kinh động đến cả Tây Thiên, dựng đàn tràng muốn cầu Tiên Tử. Thiếp vì thế dẫu chẳng phải xa xôi cũng đến xem, may duyên trời tiền định cho thiếp được gặp Quân Vương, xin nguyện phụng hầu nơi màn trướng không phụ nguyện ước ba sinh.
🔗Chiêu Vương nghe lời kể của mỹ nhân, biết Hoàng Thiên sai đưa tiên nữ đến cho mình. Thế là Chiêu Vương sai quần Thần sắm sửa sính lễ, rồi ngự xa giá đến nhà Trưởng Ông ở Đông Lộ xin nạp sính lễ. Rồi đó Vương lên xe trở về kinh đô Phong Châu lập Tiên nương làm Vương phi chính nhất. Chưa đầy năm, Vương Phi mang thai, rồi sinh một trai tư chất bẩm sinh thông minh, anh tài trác việt, đến tuổi trưởng thành được Vua cha lập làm Thái Tử nối quốc thống, hiệu là Hùng Vĩ Vương. Về sau, Chiêu Vương cùng Hoàng Phi nhờ có tiên thuật hưởng nước được 200 năm, tuổi thọ sánh ngang tuế nguyệt Kiều Bành, hoá sinh bất diệt.[ ]
🔗
Đời thứ 8: HÙNG VĨ VƯƠNG 雄暐王
🔗Hùng Vĩ Vương nối vị, kế thừa ngôi báu các đời Tiên Vương. Lúc mới nắm quyền, các việc chính sự thi thố kể cũng khả quan. Vương thấy lấy ấn kiếm đưa cho quần Thần xem mà bảo: “Trẫm có hai vật báu linh thiêng, lo gì không trị được thiên hạ?” Từ đó thần uy của Vĩ Vương càng chấn động, thanh thế lên cao, những kẻ gian phu trong bốn phương thảy đều vỡ mật run tim. Trong nước thái hoà, biên cương vô sự, thiên hạ ngợi khen là bậc vua hiền. Hiền Vĩ Vương hưởng nước đựoc 100 năm thì băng. Truyền đến:
🔗Đời thứ 9: HÙNG ĐỊNH VƯƠNG 雄定王
🔗ở ngôi 80 năm.
🔗Đời thứ 10: HÙNG UY VƯƠNG 雄威王
🔗ở ngôi 90 năm.
🔗Đời thứ 11: HÙNG TRINH VƯƠNG 雄禎王
🔗ở ngôi 170 năm.
🔗Đời thứ 12: HÙNG VŨ VƯƠNG 雄武王
🔗ở ngôi 96 năm.
🔗Đời thứ 13: HÙNG VIỆT VƯƠNG 雄越王
🔗ở ngôi 105 năm.
🔗Đời thứ 14: HÙNG ANH VƯƠNG 雄英王
🔗ở ngôi 99 năm.
🔗Đời thứ 15: HÙNG TRIỀU VƯƠNG 雄朝王
🔗ở ngôi 94 năm.
🔗Đời thứ 16: HÙNG TẠO VƯƠNG 雄造王
🔗ở ngôi 92 năm.
🔗Trải qua 16 đời, đều xưng hiệu là Trị Bình Kiến Phu 治平建夫.
🔗
Đời thứ 17: HÙNG NGHỊ VƯƠNG 雄毅王
🔗Thừa hưởng nhiều đời thiên hạ thái bình, Vương sinh ra đam mê tửu sắc, ham thích du chơi, không lo sửa sang võ bị. Vua nước Thục từ xa nghe tin nước Nam không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ nước Nam có cây kiếm thần nên còn do dự chưa quyết.
🔗Bấy giờ chúa Phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái của Hùng Vương. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa Phụ đạo. Bộ Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Hùng Nghị Vương thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Hùng Nghị Vương, nói: “Quân Thục từ phía tây đến chỉ muốn bắt bộ chủ [Ai Lao] để truyền cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà Vua?
🔗Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục Vương bèn bắt được bộ chủ [Ai Lao] đem về nước mình, gả Công Chúa rồi nhường ngôi cho [người chủ bộ cũ của bộ Ai Lao ấy]. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi nước Nam là huynh, nước Tây (Thục) là đệ, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó nước Tây (Thục) và nước Nam ta hưu binh. Hùng Nghị Vương ở ngôi 160 năm, lập Thái tử là Hùng Tuyền Vương.
🔗
Đời thứ 18: HÙNG TUYỀN VƯƠNG 雄璿王
🔗Tuyền Vương [ ] kế nối chính thống, gồm đủ thánh triết, tài lớn anh hùng, kế thừa cơ đồ lớn lao 17 đời tổ đắp tông bồi. Trong sửa võ bị, ngoài giữ biên cương, dốc chí hưng thịnh trị bình, giữ yên trong nước. Xa noi nền trị của các bậc tiền vương, kính sùng thiên địa, kính thờ quỷ thần, trời ban phúc lành, mến giúp quốc sự. Vì thế vương càng gia tăng sùng chuộng, kính tín thần nhân, truyền hịch cho thần dân trong nước sửa thêm đền miếu, nghi vệ trang nghiêm, ngày ngày đều dâng hương hoa tỏ lòng thành kính phụng thờ. Châu huyện nào có quan cai quản thì mỗi tháng đôi lần viên quan ấy phải đến làm lễ mật khấn bách thần cầu nguyện cho mệnh mạch quốc gia dài lâu. Vương đích thân lên núi Nghĩa Lĩnh xem tôn điện của các tỏ tong cùng linh điện các danh tướng của lịch triều, thảy đều cho sửa sang tu bổ. Tăng thêm tầng cao của các dãy tường bao,lâu đài muôn trượng vươn cao như cột chống trời, ánh sáng bừng lên khắp bốn phía. Cuốn đất một bầu phong cảnh, dựng đàn yết lễ, truyền cho văn võ triều thần sửa sang áo mũ một màu làm lễ chầu chính. Rồi đó vương và quần thần lên xa giá đi thăm các cung Tiên ở Tam Đảo, Tản Viên, xem khắp địa thế những nơi núi non lạ kỳ phong cảnh tươi đẹp, cho dựng các điện miếu, mật khấn cầu phúc cầu con. Nhưng đến thời này lịch số cáo chung, cơ đồ họ Hùng đã đến hồi kết thúc. Tuyền vương chiêm bao thấy điềm rắn lớn, sau sinh được con gái hai nàng, đều là những trang thục nữa phụ đức trinh hiền, phong tư tuấn nhã, so ra thì Tề Khương, Tống nữ chỉ là hạng tầm thường, cha vua mẹ tiên, lứa duyên thật xứng hợp. Nàng chị là Mỵ Châu Tiên Dung Công Chúa, nàng em là Mỵ Nương Ngọc Hoa Công Chúa, đựơc Vua cha hết mức yêu quý. Mỵ Châu sau được gả cho Chử Đồng Tử (ở xã Đa Hòa huyện Đông Yên phủ Khoái Châu xứ Sơn Nam). Còn Mỵ Nương Công Chúa, Phụ Vương có ý kín muốn tìm kẻ tuấn kiệt anh hùng nên giai kỳ chưa định. Vua bèn cho dựng hai ngôi lầu ở đầu núi Việt Trì, treo biển đề tên là Đãi Hiền Lâu (lầu đợi hiền) [ ], cho Công Chúa thứ hai đến ở lầu ấy. Tiếp đó truyền hịch truyền cho văn nhân tài tử khắp bốn phương đất nước đến hội ở kinh thành để thi tài, ai trúng tuyển sẽ được Vua gả Công chúa. Thế là bốn phương hào kiệt đều hoan hỉ nhảy múa, lũ lượt đông như mây họp kéo đến quốc đô. Hùng Tuyền Vương đích thân ra đề ngự thí. Lúc bấy giờ thiên kinh vạn quyển đều nhòm xét ở cung tường Khổng Mạnh, tứ khoá tam truyện chẳng khiêm nhường Lục Thao, Tam Luợc của Tôn Ngô. Hiền tài trong thiên hạ đều có mặt cả ở trường thi Hội. Nhưng phần nhiều dược mặt này thì mất mặt kia, cùng lóc lóc trôi tuột cả, đều chưa phải là bậc toàn tài của đương thời. Duy có Sơn Tinh và Thuỷ Tinh là hai bạn đồng học cùng thầy, có nhiều thuật pháp Thông Thiên Nhập Địa, nhưng không đến kịp để dự thi. Hai ngày sau hai người mới tới kinh thành, dâng lời tâu lên Vua:
🔗- Bọn Thần thẹn nỗi kém tài, sống thừa trong Vương Quốc. Trộm nghe Thánh Thượng lớn mở khoa thi kén rể hiền. Bọn Thần đến muộn, nhưng muốn được thi tài để gặp vận may không lọt ra ngoài hịch chiêu hiền của thánh thượng.
🔗Hùng Tuyền Vương cả mừng, bèn đặc cách lên xe đến sông Bạch Hạc ngự thí cho hai người. Sơn Tinh đến ngồi ở đầu sông, Thủy Tinh trở về dưới đáy nước. Trong khoảnh khắc bỗng thấy mây mưa nổi lên giữa dòng, mặt sông gió tung bụi cuốn. Đáy biển vang tiếng động ầm ầm, trên không chớp loè loang loáng. Giao Long, Rùa, Cá từng đoàn theo sóng tung lên muôn vạn lớp; kình, ngạc, côn, nghê nuốt muôn sóng ngàn sông. Một bầu trời đất, muôn trũng sóng cuồn. Trong khoảng tranh tối tranh sáng, những ai trông thấy đều phải rụng mật run tim. Sơn Tinh tay trái cầm quyển sách, tay phải cầm cây trượng, miệng niệm thần chú. Tay chỉ vào đâu nơi ấy hiện lên muôn quái nghìn kỳ, thảy đều do trượng đầu vung quét. Một biến một hoá đều là diệu pháp thần cơ, huyền vi khôn lường.
🔗Hùng Tuyền Vương thấy hai hiền tài đều có phép thuật như nhau, không biết nên chọn gả công chúa cho người nào? Vua bèn lên xe trở về cung, triệu Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đến bảo:
🔗- Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền, ngày trước Vua Thục cầu hôn không gả. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, chưa biết phải thẩm định thế nào cho tiện. Vậy ai đem sính lễ đến trước thì trẫm gả cho người ấy. Thế là Sơn Tinh và Thuỷ Tinh hẹn nhau:
🔗- Bọn ta cùng trở về sửa soạn sính lễ, để xem ai là người đến trước? Thuỷ Tinh trở về thuỷ cung ở Động Đình, lại còn phải tìm chọn lễ vật cho thật tân kỳ. Sơn Tinh thì chỉ xuống lầu cầm gâỵ trúc chỉ lên trời nhẩm khấn xin Ngọc Hoàng ban cho các vật làm sính lễ. Khấn xong liền thấy voi trắng chín ngà cùng các đồ Châu Ngọc Trân Kỳ từ trên trời hiện xuống. Sơn Tinh bèn cho xếp đặt, vừa đúng giờ Tý (nửa đêm) đã đưa các đồ sính lễ đến trước lầu rồng của Tuyền Vương. Tuyền Vương bèn gọi Công Chúa đến báo cho biết đã gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh. Sơn Tinh bèn đưa rước ngay Mỵ Nương về sơn động ở núi Tản Viên. Đến giờ Mão Thuỷ Tinh cũng đêm đủ lễ vật đến. Tuyền Vương nói: “Sơn Tinh đã đem lễ đến trước rồi!”. Thuỷ Tinh tức giân bỏ về thuỷ cung.
🔗Hùng Tuyền Vương hưởng nước 115 năm rồi nhường ngôi cho rể là Sơn Tinh Tản Viên. Sơn Tinh cố từ không dám nhận. Tuyền Vương nói:
🔗- Cơ đồ họ Hùng đã hết, khanh có thể lên thay.
🔗Tản Viên còn do dự chưa quyết thì Thục Vương (là chúa Phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương) từ xa nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho Tản Viên, bèn đem quân sang đánh Hùng Tuyền Vương để xâm chiếm nước Nam. Vua (Tuyền vương) binh hùng tướng mạnh, Thục Vương mấy lần bị đánh bại. Vương bảo với Thục Vương: “Ta có sức Thần, Thục Vương không sợ sao?”
🔗Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn còn say khướt chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục. Hùng Vương bèn đắp thành ở Việt Thường [ ] rộng nghìn trượng khoanh tròn như hình con ốc, gọi là Loa Thành. Mới đầu thành đắp đến đâu đổ đến đấy. Bỗng thấy một con Rùa vàng trên sông từ phía Đông bơi đến, xưng là Giang Sứ. Hùng Vương lấy mâm vàng đặt rùa lên đấy rồi hỏi Rùa vì cớ gì mà thành đắp cứ đổ mãi? Rùa vàng đáp:
🔗- Đó là do quỷ hại. Phải trừ tinh khí của nó đi thì thành tự nhiên đắp xong. Tuyền Vương đem Rùa vàng đến một ngôi quán gần bên núi Thất Diệu giả làm khách đi đường vào ngủ trọ. Đêm ấy tinh quỷ ở bên ngoài gọi mở cửa. Rùa vàng hét to một tiếng, quỷ không vào được, đến khoảng gà gáy quỷ binh tan chạy cả. Rùa vàng bảo Vua theo vết chân quỷ mà đuổi, đến núi Thất Diệu thì tinh khí của chúng bị thu nhốt hết. Tuyền Vương sai đào núi lên, thu được một cỗ nhạc khí cổ và mấy bộ xương người. Vương sai đốt huỷ, đổ tro xuống sông, đến khi ấy yêu khí của ma quỷ mới trừ hết.
🔗Từ đó việc đắp thành của Tuyền Vương không quá nửa tháng là xong. Rùa vàng từ tạ ra đi, rút một chiếc móng đưa cho Thục Vương mà dặn rằng:
🔗- Quốc gia yên nguy có số trời, nhưng người cũng phải có phòng bị. Nếu thấy giặc đến thì dùng móng thiêng này làm cái lẫy nỏ mà bắn thì vương không có gì phải lo!
🔗Hùng Tuyền Vương bèn sai bề tôi là Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy cái vuốt thiêng làm máy, đặt tên là “Linh hoa kim trảo thần nỗ”. Sau khi đã có nỏ thần, Hùng Tuyền Vương thu họp tàn quân, tuyển thêm dân binh, rồi sai người đưa thư cho Tản Viên, nói: “Thục Vương đem quân sang đánh, đã chiếm đô thành của ta, khanh mau đem quân đến cứu viện” Tản Viên bèn dẫn binh mã thẳng đến Loa Thành, dàn quân đối trận với Thục vương để khuếch trương thanh thế. Mấy hôm sau Tản Viên khuyên Hùng Tuyền Vương:
🔗- Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm lấn nước ta. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của tiền Hoàng Đế. Nay quốc thế không được bình thường, cũng là chuyện do tiền định. Vua có yêu riêng gì một cõi đất Phương Nam mà cưỡng lại ý Trời, làm hại sinh linh? Vả lại bệ hạ và Thần đã có phép Thần Tiên, không gì hơn là quay về chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển, tiêu dao ở làng quê bất lão, thanh nhàn nơi gác phượng lầu Rồng, há phải nhiễm bẩn bụi trần, vàng ngọc châu báu cũng chẳng bằng mảy lông, Ngọc Nữ Tiên Đồng cũng chỉ mát mắt chốc lát. Trí lự như thế mới thật là cao!
🔗Tuyền Vương cho là phải. Rồi Tuyền Vương sai đưa thư nhường nước cho Thục Vương. Thục Vương sai sứ đến tạ ơn. Tuyền Vương nhân đó tặng cho Thục Vương chiếc Nỏ Thần, rồi trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng với Tản Viên Sơn Tinh biến hoá vào cõi hoá sinh bất diệt. Thục An Vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn Đức Trời biển của Hùng Tuyền Vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi Quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trong núi, chỉ tay lên trời thề rằng:
🔗- Nguyện Trời cao mây xám lồng lộng xét soi: Nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng Vương nơi đây nếu Vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.
🔗Đọc lời khấn xong, Thục Vương lạy tạ rồi lên xe trở về kinh đô Phong Châu, cho triệu các dòng phái cành vàng lá ngọc của dòng họ Hùng ban cho danh hiệu Trung nghĩa hương (làng Trung nghĩa), cấp cho dân tạo lệ hưởng dụng lâu dài, cấp 500 mẫu ruộng ở gò Nghĩa Lĩnh thuộc bản thôn. Lại cấp cho các cánh ruộng ở nhiều địa phương để thu tô thuế: trên từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, dưới đến các xã ở Việt Trì hàng năm nộp hoa lợi để dùng vào việc đèn hương phụng thờ 18 đời vua Hùng từ Thánh Tổ Cao Hoàng Đế đến các Vua kế đời truyền nối.
🔗Thục An Vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú quận Nam Hải, Triệu Đà làm lệnh doãn huyện Long Xuyên (Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ). Câu đối ở miếu: Khai vật tế nhân, tưởng Việt thành thâu túc, Thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận dĩ khải hồng đồ.Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, Cạnh nhĩ sổ lý thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội [ ].
🔗Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biêt Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An Vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn Vương Nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết. Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, không hiệu nghiệm. An Vương bẻ nỏ vứt đi rồi lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
🔗Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay Triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thuở.
🔗Ô hô! Thịnh thay!
🔗Năm Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470), mùa xuân, tháng Ba, ngày tốt.
🔗Hàn lâm viện trực học sĩ NGUYỄN CỐ phụng soạn. Ngạn Xuyên NGÔ ĐỨC THỌ dịch
🔗Xong lúc 17g30 ngày 25-12-2011, tại thư trai xóm Trúc (Đội Cấn, Hà Nội)
🔗--------CHUNG----------





